Có một vị tiến sĩ viết nhiều bài rất xuất sắc đăng trên báo và thường gởi thư cho tôi. Vị tiến sĩ ấy viết “quí vị.” Tôi muốn học hỏi thêm nên tôi hỏi vị tiến sĩ nầy rằng tại sao dùng “i” ngắn cho chữ “quí vị”. Vị tiến sĩ kia trả lời rằng “i” ngắn hoặc “y” dài đểu được cả. Ai muốn viết sao tùy ý.
Bắt đầu từ đó, tôi “tùy ý” dùng “i” ngắn cho tên của vị tiến sĩ nầy.
Mở đầu bức thư tôi thường viết, “Kính thưa Tiến Sĩ Thụi.” Sau một thời gian độ 5 tháng, vị tiến sĩ ấy gọi tôi là người bất lịch sự khi tôi đổi chữ “y” dài thành “i” ngắn cho tên ông ấy. Tôi trả lời rằng chính ông đã bảo tôi tùy tiện dùng “i” ngắn hay “y” dài cũng được cả mà! Sau đó, ông không nói gì thêm, nhưng tôi để ý thấy ông dùng “quý vị” thay cho “quí vị” như trước kia.
Chúng ta thấy rất nhiều người dùng “quí vị” hoặc “quý vị” trong sách vở, trên báo chí tại Hoa Kỳ và Việt Nam. Chữ nào đúng, chữ nào sai, hoặc cả hai đều đúng?
Khi “i” ngắn hoặc “y” dài không đứng chung với bất cứ nguyên âm nào, chúng ta có thể “tùy ý” dùng chữ nào cũng được. Chỉ có con mắt của chúng ta thấy thay đổi chứ cả âm thanh lẫn ý nghĩa của nó không thay đổi. Thí dụ: bác sĩ hoặc bác sỹ, li kì hay ly kỳ, và bé tí hay bé tý. Nhiều người chủ trương dùng “i” ngắn trong mọi trường hợp. Ngược lại, nhiều người chủ trương dùng “y” dài cho tất cả. Cũng có người dùng cả hai tùy theo con mắt họ thường thấy không “chói mắt”.
Có người lúc nầy viết hy sinh, và lúc khác lại viết hi sinh. Tuy nhiên, khi nguyên âm “u” đứng chung với một nguyên âm thứ hai, âm thanh và nghĩa của chúng nó hoàn toàn thay đổi. Đôi khi chúng ta hãy xem nguyên âm “i” hoặc “y” đứng chung với nguyên âm “a”. Tay khác với tai, vay khác với vai, váy khác với vái, may khác với mai, hay khác với hai, thay khác với thai, khái khác với kháy, bay khác với bai, xảy khác với xải, và phẩy khác với phải.
Bây giờ, xin chúng ta quan sát nguyên âm “i” hoặc “y” đứng với nguyên âm “u”. Âm thanh và ý nghĩa của chúng nó cũng hoàn toàn thay đổi. Tuy khác với tui; an ủi chứ không ai gọi an ủy; ủy lạo chứ không ai nói ủi lạo; trung úy chứ không ai nói trung úi, say túy lúy chứ không ai nói say túi lúi. Tên Thanh Thúy rất hay, nhưng nếu nói dùng “i” ngắn hay “y” dài cũng được là không đúng. Nếu dùng “i” ngắn cho cái tên đẹp đẻ đó, nó sẽ trở thành “Thanh Thúi” chẳng còn thanh tao chút nào. Cũng như ở trên, vị tiến sĩ ấy không chấp nhận tên “Thụi” thay cho tên “Thụy”. Bây giờ, chúng ta thử ráp vần: Tờ (t) úi là túi; bờ (b) úi là búi; thờ (th) úi là thúi; Lờ (l) úi là lúi; rờ (r) rúi là rúi; và quờ (q) úi là ... Xin hãy lắp lại: Quờ (q) úi là ...? Nó không thể có âm là quý được phải không? Chữ “quí” nầy có âm nhưng không có nghĩa. Vì vậy, chúng ta có nên dùng "quí vị" không?
Tôi thiển nghĩ rằng chúng ta phải dùng “y” dài cho: Quy, quỳ, quý, quỵ, quỷ, và quỹ.
Hoa Xuân
QUY TẮCYDÀI và INGẮN
TRONG TIẾNGVIỆT
Khởi đi từ một tình cờ lịch sử khi Alexander de Rhodes đến Việt Nam truyền đạo Thiên Chúa, ngôn ngữ Việt Nam thoát khỏi văn hóa chữ Nho (Hán tự) và chữ Nôm, bước sang kỷ nguyên mới kể từ đầu thế kỷ Hai mươi. Trong suốt 500 năm từ tình trạng phôi thai, theo bước đi của từng thế hệ và từng thời kỳ lịch sử, chữ Việt và tiếng Việt ngày nay đã là một trong những ngôn ngữ hoàn chỉnh trong lịch sử văn minh nhân loại. Người Nhật và người Nam Triều Tiên cũng từ hàng trăm năm cố công thoát ly ảnh hưởng và phụ thuộc chữ Hán nhưng đã không làm được.
Tuy nhiên, không phải vì vậy mà người Việt chúng ta đã bằng lòng với thành tựu đó. Cả trăm năm nay vẫn có những người bằng sáng kiến, nhận định của mình đã đưa ra những đổi mới, “điều chỉnh” cách viết chữ Việt. Có thể kể từ thế kỷ 19 với học giả Huỳnh Tịnh Của (1734 – 1907) khi ông hoán đổi (y thành i) qua cách viết tên mình (Huỳnh thành Huình). Tiếp đến là Nguiễn Ngu Í (Nguyễn Ngu Ý - 1921 - 1979) nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, thế kỷ 20.
Từ hai nhân sĩ này, hai mẫu tự I và Y đã trở thành “chuyện dài Y dài I ngắn”, thỉnh thoảng được nhắc đi nhắc lại suốt cả trăm năm nay....
Chỉ mới đây, chúng tôi nhận được bài viết VẤN ĐỀ MẪU TỰ Y (Y DÀI) của một tác giả ký tên Người Thơ gửi cho tạp chí Nguồn. Bài viết khá công phu, đang được gác lại và đó cũng là nguồn cảm hứng để chúng tôi góp lời bàn thảo về đề tài này.
Trước khi tham gia ý kiến câu chuyện dài “y dài i ngắn”, người viết xin được ôn lại bài học vỡ lòng từ thời mới biết đánh vần chữ Việt a b c ....
Chúng ta, ai cũng biết chữ Việt ngày nay xuất xứ từ chữ La tinh, do khởi xướng và ghép đặt của giáo sĩ Thiên Chúa giáo Francisco de Pina (1585-1625), tiếp theo là công trình hệ thống hóa của giáo sĩ Alexander de Rhodes với mục đích để truyền đạo. Chữ Việt hình thành từ một tình cờ lịch sử như thế, cho nên không ít người cho rằng chẳng có ai có công mà cũng chẳng có ai có tội.
Và chúng ta ai cũng biết chữ La tinh có các mẫu tự sau đây:
A b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z trong đó có 5 Nguyên âm là a e i o u y.
Khi các nhà ngôn ngữ học (F. de Pina và A. de Rodes) đầu tiên lấy chữ La tinh sáng chế ra tiếng Việt thì họ đã thêm và bớt một số chữ cái (cả nguyên âm và phụ âm).
Tiếng Việt từ đầu gồm có 23 chữ cái: a b c d đ e g h i k l m n o p q r s t u v x y,
trong đó có 6 nguyên âm: a e i o u y.
Để đáp ứng thanh âm đa dạng trong tiếng Việt, các nguyên âm a e o u biến thể thêm các nguyên âm: a > ă, â; e > ê; o > ô, ơ; u > ư.
Từ các nguyên âm đơn, để thích ứng với thanh âm phong phú trong tiếng Việt chúng ta có các cặp nguyên âm kép như sau: ai ao au ay âu ây ; eo, êu ; ia, iê, iu ; oa, oe, oi ôi, ơi, ơu; ua, uê, ui , uơ, uy , uyê ; ưa, ưi, ưu, ươ ; yê. Đây là những cặp thanh âm kép bất khả phân ly để đi với các phụ âm tạo từ ghép chữ.
Trước khi bàn tiếp tưởng cũng nên nhắc lại định nghĩa nguyên âm (vowel) là gì và phụ âm (consonant) là gì ? Trong quyển “Đại Từ điển Tiếng Việt”, (NXB Văn Hóa Thông tin, 1998, tr.1217) định nghĩa nguyên âm là “âm mà khi phát âm, luồng hơi từ phổi ra không gặp phải trở ngại, phân biệt với phụ âm”.
Chúng tôi thấy rằng ở đây là một giải thích về hiện tượng (chưa chắc đã đúng), chứ không phải là một định nghĩa, và khi người ta thử nghiệm phát âm chữ a (nguyên âm) và chữ k (phụ âm) thì cả hai phát âm, “luồng hơi từ phổi ra” đều không “gặp trở ngại” gì cả.
Theo chúng tôi, một định nghĩa về nguyên âm và phụ âm có thể chấp nhận được, theo đó: nguyên âm là một chữ cái có thể đứng một mình, để xướng lên một từ trọn nghĩa mà không cần ghép với một chữ cái nào khác (NV nhấn mạnh).
Ví dụ: a dua, o bế, ê chề, y phục; Ta không thể nói lập l (lập lờ), con d (con dê), ca h (ca hát) v.v.
Ngược lại, phụ âm là một chữ được dùng để đi kèm với những nguyên âm
và phụ âm khác để cấu tạo thành một từ, một chữ.. Thí dụ: lập lờ, con dê, o bế, ca hát v.v..
Từ những dẫn chứng trên đây, chúng ta thấy rằng Y (dài) và I (ngắn) có một quy tắc nhất định trong tiếng Việt. Ngay cả trong Anh ngữ: cũng có một nhận định chung quyết, theo đó chữ Y có thể được xem vừa là một nguyên âm, vừa là một phụ âm. (The letter Y can be regarded as both a vowel and a consonant).
Và qua tham chiếu của tác giả Thanh Thanh (*), câu trả lời Y chỉ là một từ thường được dùng cho cả nguyên âm và phụ âm trong Anh ngữ (The answer to the question is that Y is the only letter commonly used as both vowel and consonant in English).
Tham chiếu này còn ghi thêm: The letter Y stands for a consonant in "yoke" but for a vowel in "myth." chữ cái Y đứng trong “yoke” là phụ âm, nhưng chữ Y trong “myth” là nguyên âm.
Đối chiếu với kết luận trên đây về Y và I trong Anh ngữ thì trong Việt ngữ Y được coi là phụ âm trong các từ yểm (trợ), (yên) ổn, yêu thương, yết kiến ... Tuy nhiên, đúng ra yê lại là một nguyên âm cặp đi với các phụ âm m, n, u, t để tạo chữ yểm, yên, yêu, yết. Vậy có thể kết luận Y và I là hai nguyên âm tuyệt đối trong Việt ngữ.
Các nhà ngôn ngữ học đầu tiên kiến tạo bộ chữ Việt bằng mẫu tự La tinh đã rất chú trọng đến những âm cặp khi biên soạn bài học vỡ lòng đánh vần chữ Việt, bắt buộc học thuộc lòng 23 chữ cái: a b c d đ e g h i k l m n o p q r s t u v x y; Và a ă â e ê i o ô ơ u ư.
Cùng các vần ghép (nguyên âm kép): ai ao au ay, ây, eo êu, iu, oi, ôi ơi, ơu, ui, uy, ưu,
Và với các phụ âm: ac, ăc âc, am ăm âm, an, ăn ân, ap ăp âp, at ăt ât, v.v...
Ghép vần chữ B: Ba bă bâ be bê bi bo bô bơ bu bư.
đến vần chữ C thì cacă câ > ke kêki > co cô cơ cu cư.
- kha khăkhâ khe khê khi kho khô khơ khu khư
Vần chữ G thì ga, gă gâ > ghe ghê ghi > go gô gơ gu gư.
Trong các cặp nguyên âm kép dẫn đầu bài, hai cặp ui và uy ngay từ đầu đã có chỗ đứng riêng rẽ, độc lập của nó, i (ngắn) không thể thay cho y (dài) và ngược lại. U+I đọc là ui và U+Y đọc uy. Căn bản của nguyên-âm-cặp này hai chữ cái là một, là ui và uy, chỉ cần ghép với các phụ âm khác là có thể tạo thành những từ vựng, ví dụ: lui cui, thui thủi, túy lúy, quỵ lụy.... uy tín, hiu hắt huy hoàng, biên thùy, thâm thúy, quý vị v.v..
Các nguyên âm cặp:
Uy+phụ âm > huynh, quỳnh, huỳnh, huỵch (toẹt)..
Uyê + phụ âm > uyên, huyên, quyết
Uya + phụ âm > khuya, phẹc-ma-tuya (zipper)
Uya, uây, uyê, iêu, oai, uôi, ươi, ươu là những nguyên âm cặp bất khả phân ly, nó như là một nguyên âm đơn, đi theo các phụ âm tạo thành từ ngữ: khuây nguôi, trái khuấy, quây quần, quan liêu, khoái lạc, xuôi dòng, tươi tốt, hươu nai v.v..
I (ngắn) hay Y (dài) khi đứng cuối chữ:
I và Y là nguyên âm nên khi nó đứng cuối chữ thì y (dài) hay i (ngắn) đều có thể chấp nhận. Người ta khi đọc thấy các chữ lí luận, kĩ thuật, nước Mĩ, Hoa Kì.... khác với lối viết “truyền thống” lý luận, kỹ thuật, nước Mỹ, Hoa Kỳ thì vội cho là chữ y (dài) đã bị thay thế bởi chữ i (ngắn). Thật ra y hay i trong trường hợp này đều có cùng giá trị, chỉ khác là do cảm quan của người đọc không quen với cách dùng i hoặc y ở cuối chữ mà thôi.
Về phương diện mỹ quan và thói quen viết Y (dài) trong các từ địa lý, kỹ thuật, Hoa Kỳ, kỷ niệm, Ký tên... theo tôi nên giữ cách viết “truyền thống” này, thay vì dùng i (ngắn). Có những từ y (dài) và i (ngắn) đã có vị trí cố định. Chẳng hạn những từ sau đây chưa hề thấy hoán vị giữa y và i : thí dụ, bí thư, hoan hỉ, suy nghĩ, sinh khí, nhà in, y phục , y tế, ý niệm.. Chưa có chữ viết: thý dụ, bý thư, suy nghỹ, sinh khý, nhà yn, i phục, i tế, í niệm v.v..
Trong câu dân ca: Yêu nhau cởi áo... í.. a cho nhau/ Về nhà mẹ hỏi qua cầu... í.. a gió bay. Chưa thấy ai viết ý... a thay cho í... a. Và Ký tên luôn luôn là... ký tên, không ai viết Kí tên.
Các trường hợp khác Y và I đã có phần vụ (function) riêng của nó cho nên, bất khả hoán vị, không thể lấy i thay cho y như trường hợp học giả Huình Tịnh Của và nhà thơ Nguiễn Ngu Í. Theo chúng tôi thì hai nhân sĩ này khi dùng chữ I viết tên mình chỉ là một cách chơi, nếu không muốn nói là lập dị, chứ không có chủ đích đề xướng một khuynh hướng. Vì vậy đã mấy trăm năm chưa có một NguiễnThuiến (Nguyễn Thuyến) hay một Nguiễn thị Bạch Tuiết (Tuyết) nào khác.
Sau khi tìm hiểu và truy nguyên, chúng tôi mạnh dạn phổ biến biên khảo ngắn này. Mong được sự góp ý và bổ khuyết của các bậc thức giả.
Ngày 1 tháng 2 năm 2026, trong căn phòng tĩnh lặng nơi Ôn Phước An đang điều trị tại Bệnh viện 22/12 Thành phố Nha Trang, hình ảnh Thượng Tọa Giác Nghĩa (trụ trì Chùa Vạn Đức & Chùa Phước Trí, Nha Trang) cầm quyển Kinh Nhật Tụng, chậm rãi tụng Kinh Kim Cang âm Hán–Việt, đã trở thành một khoảnh khắc không thể nào quên.
Suốt hơn 4 tháng qua, kể từ khi sư Tuệ Nhân có 2 buổi gặp gỡ và giao lưu online qua Zoom với công ty sách Thái Hà và nhóm Thiền trong từng phút giây về hành trình “Bước chân hành giả - hành trình đầu đã quan vùng đất thiêng, đất Phật Ấn Độ”, tất cả chúng mình theo dõi sát sao các hoạt động của sư, nhất là thời điểm đoàn khởi hành đi bộ đến thủ đô của nước Mỹ giữa mùa đông lạnh giá. Thật sự thú vị và hồi hộp, mừng vui xen lẫn với lo lắng, nhiều khi thót tim đến ngộp thở khi tai nạn xảy gia.
Khi nhìn nét mặt ngây thơ hồn nhiên của các em học sinh lớp mẫu giáo trường Linh Sơn College tại Kushinagar, U.P, Ấn Độ do Ni Sư Thích Nữ Trí Thuận sáng lập và hiện tại do hai Thầy giáo Mr. Rajesh Singh (PD Minh Tuyen). Tel.+91 983 955 2681 và Mr. DineshKKumar Verma ( PD. Minh Anh) . Tel. +91 991 873 8764 làm Hiệu Trưởng và Giám Đốc, chúng tôi cảm thấy rất gần gũi vì các em dễ thương vô cùng với sự hồn nhiên. Khi các em làm những bài toán cộng, trừ, nhân đơn giản đúng đáp số thì được Thầy Hạnh Bổn phát cho mỗi em 20 Rubies. Số tiền không lớn, nhưng là thành quả học tập của các em và sự dạy dỗ của các Thầy Cô giáo trường làng. Ở đây phải nói là Thầy, Cô đã hy sinh lớn lao về thời gian và sự tận tuỵ mới có được những lớp học từ mẫu giáo cho đến lớp 12 như thế. Nhiều em đã được học miễn phí và sau khi học xong trung học ở đây, quay trở lại trường dạy lại các em khác. Đúng là: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”; “uống nước nhớ người đào giếng” là vậy. Sinh hoạt ở Ấn Độ tuy rẻ hơn các nơi khác trê
Đức Đạt Lai Lạt Ma được trao Giải Grammy không phải vì Ngài là nhạc sĩ, mà vì tác phẩm đoạt giải thuộc hạng mục Sách nói, thuyết minh và kể chuyện xuất sắc nhất. Giải thưởng này tôn vinh giá trị nội dung, sức truyền cảm của giọng nói và tác động nhân văn của một tác phẩm âm thanh, chứ không đánh giá kỹ thuật âm nhạc.
Qua sách nói Meditations, giọng nói từ ái của Ngài đã lan tỏa thông điệp yêu thương, hòa bình, chánh niệm và trách nhiệm phổ quát của nhân loại. Vì vậy, giải thưởng Grammy là sự ghi nhận đối với thông điệp tỉnh thức mà Ngài đã, đang và sẽ mang đến cho thế giới, hơn là một thành tựu âm nhạc thuần túy.
🐄Bò làm mệt, than với chó:
" Tao mệt quá ".
🐶 Chó gặp mèo tâm sự:
" Bò nó kêu mệt, chắc làm quá sức, chắc nó đòi nghỉ một chút".
🐱 Mèo gặp dê tám chuyện:
" Bò nó muốn nghỉ một ngày vì công việc làm nó mệt quá, có lẽ ông chủ bắt nó làm quá sức".
🐐 Dê gặp gà:
" Bò nó đòi nghỉ làm, ông chủ bắt nó làm đến kiệt sức thì phải".
🐔 Gà gặp heo nói:
" Biết chuyện gì chưa, bò nó định đổi chủ và bỏ việc đấy".
🐷 Heo méc bà chủ:
" Bò nó định đổi chủ hay sao, nghe nói nó muốn bỏ việc vì công việc quá nặng.
👨👧Bà chủ nói ông chủ:
" Bò nó định tạo phản, nó muốn đổi chủ".
🙅♂️Ông chủ tức giận quát:
" A con bò này đã lười lại định tạo phản, thịt nó thôi".
👉Kết quả : Bò bị giết thịt
Là một nữ tu sĩ chân yếu tay mềm, Phật sự đa đoan, lòng tôi vẫn cảm thấy tràn đầy nguồn an ủi vô biên trong những lúc mệt nhọc. Những ngày gần đây, các bài thơ trong tập thơ Hoa Thiền, mang tâm ý Phật Pháp, được Cô Đặng Lan và các thi sĩ ngâm vịnh, được Phật tử Tâm Nghiêm đọc vào đĩa, được Nhạc sĩ Nguyễn Nhật Tân phổ nhạc… với những niềm khích lệ đó, khiến tôi cố gắng sáng tác thêm những vần thơ mới. Và hôm nay, tập thơ Hoa Thiền tái bản, mang vóc dáng trang trọng, gói trọn một nội dung hồn thơ và ý nhạc, khiến cho lời thơ nhẹ nhàng bay vút khắp nơi và tuôn chảy vào tận cõi lòng người. Tôi xin chân thành cảm nhận tất cả và trân trọng khắc ghi vào lòng một kỷ niệm đẹp trong suốt hành trình dấn thân vì Đạo.
🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
Tôi có thói quen, sau khi tụng kinh buổi sáng xong, thường ngồi uống một ly trà trước khi dùng điểm tâm. Vừa uống trà, tôi vừa lướt qua trang Thắng Hoan Thi Tập và tình cờ đọc được bài thơ Thiền Trà của Hòa thượng. Tôi cảm thấy thú vị và bỗng dưng nhớ Hòa thượng. Tôi nhớ không phải vì sự bịn rịn của thế gian, mà nhớ cái đức, cái tài và cái tính hào sảng của Ngài.
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
Trong giáo lý Duyên khởi, một đóa hoa sen nở không tự nhiên mà có, nó kết tinh từ bùn nhơ, nước sạch, ánh sáng và bàn tay người chăm sóc. Cũng vậy, sự vững chãi của Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu hay Âu Châu hôm nay không tự nhiên thành hình, mà chính là kết quả của những nhân duyên thâm sâu, được vun bồi bởi những bước chân hoằng pháp không biết mỏi mệt của các bậc Cao tăng. Trong số đó, Hòa thượng Thích Như Điển - Phượng trượng chùa Viên Giác tại Đức Quốc - hiện thân như một “Như Lai sứ giả”, viết tiếp những trang sử truyền bà Phật pháp huy hoàng của Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại.
Nhà hiền triết Krishnamurti
đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay?
Thích Phước An
Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này:
“Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người.
Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.