Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Khái lược Phật tử Đông Duyên Hải Hoa Kỳ

08/01/202017:17(Xem: 290)
Khái lược Phật tử Đông Duyên Hải Hoa Kỳ

 

Khái lược
Phật tử Đông Duyên Hải Hoa Kỳ

 

Trong khi đó, ở Bờ Đông, Đông Duyên hải Hoa Kỳ (East Coast of the United States), các ý tưởng Phật giáo đã châm ngòi cho một một cuộc đối thoại trí tuệ gữa một số người Mỹ gốc Euro (Liên minh châu Âu (Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Ireland, Luxembourg, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Ý, Slovenia, Malta, Cộng hòa Síp, Estonia, Latvia, Litva) và trong 6 nước và lãnh thổ không thuộc Liên minh châu Âu).

 

Vào giữa thế kỷ 19, năm 1844, nhà văn, nhà thơ, sử gia và triết gia người Mỹ, cư sĩ Phật tử Henry David Thoreau (1817-1862), dịch một chương Kinh Pháp Hoa sang tiếng Anh đầu tiên, đó là “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh - White Lotus Of The Good Law”. Cùng năm đó, bài phát biểu của cư sĩ Phật tử Edward Elbridge Salisbury (1814-1901), Giáo sư ngôn ngữ và văn học Ả Rập và tiếng Phạn, vị trí đầu tiên như vậy ở Hoa Kỳ,  tại Đại học Yale về Phật giáo trong hội nghị thường niên của Hội Đông Phương Mỹ đã tác động mạnh mẽ vào văn học Hoa Kỳ.

 

Sự quan tâm của ông đối với giáo lý từ bi trí tuệ đạo Phật được thể hiện rõ trong bài tiểu luận của ông. Một loạt về sự kết hợp và Merrimac, California, nơi cư sĩ Henry David Thoreau viết: “Tuy họ sẳn sàng yêu mến Chúa Kitô hơn Đức Phật của tôi, vì tình yêu là điều chính yếu.

 

Vào những thập niên 1870, tái hiện nổi tiếng của cư sĩ Edwin Arnold (1832-1904), một nhà thơ và nhà báo người Anh, về cuộc đời của Đức Phật, “Ánh sáng châu Á - The Light of Asia, vượt Đại Tây Dương và trở thành Phật tử đầu tiên bán chạy nhất ở Mỹ.

 

Khá nhiều trí thức và những người quý trọng tâm linh rất quan tâm đến Phật giáo vào cuối thế kỷ 19. Đại tá Steel Olcott (1832-1907) cùng với nữ cư sĩ Phật tử người Nga Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891) lập dị, đã thành lập cái mà họ gọi là Hội Thông Thiên học vào năm 1875, để nghiên cứu các tôn giáo, triết học và khoa học cổ đại và hiện đại, và để điều tra các quy luật không thể giải thích được của thiên nhiên. Đây là một ban nhạc chiết trung của người New York, Hoa Kỳ với những ở thích về mọi thứ, từ những bí ẩn của Ai Cập cổ đại và Hy Lạp cho đến các tôn giáo của phương Đông.

 

Chân dung Cư sĩ Phật tử cư sĩ Phật tử Henry David ThoreauChân dung Cư sĩ Phật tử cư sĩ Phật tử Henry David Thoreau

Chân dung cư sĩ Phật tử Henry Steel Olcott

Chân dung cư sĩ Phật tử Henry Steel Olcott 

Chân dung cư sĩ Phật tử Paul Carus
Chân dung cư sĩ Phật tử Paul Carus

Chân dung Cư sĩ Phật tử Francisco Fenollosa

Chân dung Cư sĩ Phật tử Francisco Fenollosa

Chân dung cư sĩ Phật tử Edwin Arnold
Chân dung cư sĩ Phật tử Edwin Arnold

Chân dung cư sĩ Phật tử Edward Elbridge Salisbury
Chân dung cư sĩ Phật tử Edward Elbridge Salisbury


Cư sĩ Henry Steel Olcott (1832-1907), cựu đại tá của quân đội Hoa Kỳ, một sĩ quan truyền tin, nhà báo, luật sư, đồng sáng lập và Chủ tịch đầu tiên Thông Thiên học. Người phác họa ra lá cờ Phật giáo thế giới.

 

Cư sĩ Henry Steel Olcott, người Mỹ gốc châu Âu, vị phật tử hộ pháp nổi tiếng trong sự cải tổ Phật giáo, góp phần phục hưng trong nghiên cứu Phật học, người tiên phong và có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc vận động, tổ chức và thực hiện phong trào chấn hưng Phật giáo tại Sri Lanka, khởi đầu cho phong trào chấn hưng Phật giáo quốc tế vào cuối thế kỷ 19.

 

Một nhân vật hiện đại Phật giáo, bởi những nỗ lực trong việc giải thích Phật giáo thông qua ống kính Tây phương.

 

Cư sĩ Henry Steel Olcott đã góp phần không nhỏ trong việc phục hưng Phật giáo Sri Lanka, và ông đã được vinh danh tại Sri Lanka với những nỗ lực này. Tổ quốc và nhân dân Sri Lanka tôn vinh ông “Một trong những vị anh hùng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, một người tiên phong trong hồi sinh tôn giáo, dân tộc và văn hóa”.

 

Năm 1875, nhị vị Cư sĩ Henry Steel Olcott và nữ cư sĩ Helena Petrovna Blavatsky, và những người khác, đáng chú ý là Luật sư William Judge (1851-1896), người Mỹ gốc Anh, một nhà huyền môn, một trong những nhà sáng lập Hội Thần học nguyên thủy, thành lập Hội Thông Thiên Học ở thành phố New York, Mỹ. Cư sĩ Henry Steel Olcott hỗ trợ tài chính những năm đầu tiên của Hội Thông Thiên Học và đã là vị chủ tịch trong khi Blavatsky là thư ký của Hội.

 

Trong tháng 12/1878 họ rời New York để di chuyển trụ sở của Hội đến Ấn Độ. Họ đã hạ cánh xuống Bombay vào ngày 16 tháng 2 năm 1879. Cư sĩ Henry Steel Olcott đặt ra để trải nghiệm những quê hương của nhà lãnh đạo tinh thần của mình, đức Phật. Các trụ sở của Hội đã được thành lập tại Adyar, Chennai, thuộc bang Tamil Nadu, Ấn Độ  là trụ sở hội Thông Thiên Học Adyar, cùng thư viện Adyar và trung tâm nghiên cứu.

 

Trong khi đó ở Ấn Độ, Cư sĩ Henry Steel Olcott vẫn cố gắng để tìm ra các bản dịch của các văn bản giáo lý phương Đông đã có sẵn như là kết quả nghiên cứu của phương Tây. Mục đích của ông là để tránh những sự giải thích phương Tây thường gặp ở Mỹ, và khám phá ra những thông điệp tinh khiết những tôn giáo như là Phật giáo, Ấn Độ giáo, và các tôn giáo như Hỏa giáo (Zoroastrian), để dạy lại đúng cách cho người phương Tây.

 

Đó đây nghiên cứu, học hỏi nhiều tôn giáo trên thế giới, nhưng sự lựa chọn đối với ông là Phật giáo và ông được biết đến là bởi sự đóng góp của ông trong công cuộc cải cách Phật giáo Sri Lanka. Sau bao tháng ngày, trao đổi thư tín với Hòa thượng Piyarathne Thissa, hai người Helena Petrovna Blavatsky và Henry Steel Olcott, đã đồng phát tâm quy y Tam bảo, thụ Ngũ giới tại tu viện Wijayananda Viharaya, thành phố thủ phủ của tỉnh Nam của Sri Lanka, lễ truyền thụ giới vào ngày 25/05/1880 từ đó hai người trở thành cư sĩ, phật tử.

 

Nhị vị Cư sĩ Phật tử Henry Steel Olcott và Helena Petrovna Blavatsky tự nguyện quy y Tam Bảo với một sự lý giải của những tín đồ Thanh giáo (Tin Lành như sau: “Nếu đạo Phật chứa đựng một giáo thuyết độc đoán, áp đặt chúng tôi phải chấp nhận, thì chúng tôi sẽ không thụ Tam quy y, trì Ngũ giới và tự phát tâm theo đạo Phật trong 10 phút. Đạo Phật của chúng ta do đức Đạo sư Thích Ca khai sáng, là đạo của từ bi, trí tuệ, linh hồn của tất cả những tín ngưỡng thế giới cổ đại” (Lập luận của Cư sĩ Henry Steel Olcott có lẽ cũng là sự suy nghĩ của nhiều người Âu - Mỹ “cải đạo” theo Phật giáo khá phổ biến đương thời và các giai đoạn sau này.

 

Trong thời gian ở Sri Lanka Cư sĩ Henry Steel Olcott phấn đấu để phục hưng Phật giáo trong khu vực này, trong khi biên soạn các giáo lý của Phật giáo để giáo dục người phương Tây. Trong thời gian này, ông đã viết giáo lý Phật giáo (1881), mà vẫn còn được sử dụng ngày hôm nay.

 

Việc xây dựng một số trường học Phật giáo của Hội Thông Thiên Học ở Tích Lan, đáng chú ý nhất trường Cao đẳng Phật học Ananda tọa lạc tại Colombo (Khánh thành ngày 01/11/1886), trường Phật học Mahinda, tọa lạc tại Galle, Sri Lanka (thành lập vào 03/1892), trường Cao đẳng Phật học Dharmaraja, tọa lạc tại Kandy (thành lập vào ngày 30/06/1887), Trường Cao đẳng Phật học Maliyadeva, tọa lạc tại  Kurunegala (thành lập vào ngày 30/09/1888).

 

Cư sĩ Henry Steel Olcott với vai trò cố vấn cho Ủy ban bổ nhiệm để thiết kế một lá cờ Phật giáo vào năm 1885. Lá cờ Phật giáo được thiết kế với sự hỗ trợ của Cư sĩ Henry Steel Olcott, đã được thông qua như là một biểu tượng của tình linh sơn pháp lữ Phật giáo thế giới, lá cờ phổ quát của tất cả các truyền thống Phật giáo thế giới.

 

Không thể nào quên cư sĩ Phật tử Paul Carus (18/7/1852 – 11/2/1919), con của một Mục sư Tin Lành, người chủ chốt trong việc giới thiệu Phật giáo với người Tây Phương. Mặc dầu ông sinh tại Đức, nhưng sinh sống tại Hoa Kỳ. Ông là một trong hai người đã tổ chức Đại Hội Thế Giới Tôn Giáo năm 1893. Ông tốt nghiệp Tiến sĩ trường Đại Học Tübingen, Đức năm 1876 và cũng là một nhà Triết học, làm chủ bút 2 tờ báo lớn thời đó và tác giã của 75 quyển sách và 1500 bài báo. Ông dịch nhiều tài liệu Phật giáo từ Thiền sư zuki Teitaro Daisetz và là một cảm tình viên mạnh mẽ của tư tưởng Phật giáo.

                          

Cư sĩ Phật tử Paul Carus rất say mê nghiên cứu Phật học, Đức Phật luôn hiện hữu trong tâm trí của ông, bởi ông luôn hiểu rằng niềm tin Phật giáo một cách hợp lý và phù hợp với khoa học. Ông đã chỉnh sửa “Tòa công khai- The Open Court”, một tạp chí tiên phong trong việc điều tra tôn giáo và khoa học.  Năm 1894, ông sáng tác “Cẩm nang của Phật giáo - The Gospel of Buddhism”, và “Karma” (Nghiệp) với mục đích hiện đại hóa đạo Phật và đem ánh sáng từ bi trí tuệ Phật giáo phản chiếu vào văn hóa tư tưởng Tây Phương. Với 38 tác phẩm ông đều nhắm đến mục đích chứng minh cho người Tây Phương thấu rõ giá trị của đạo Phật trong vấn đề đáp ứng nhu cầu tâm linh mà người Tây Phương đang tìm đến.

 

Năm 1899, Cư sĩ Phật tử Paul Carus đã viết cho Daniel Carter "Uncle Dan" Beard (1850-1941), tác giả, nhà lãnh đạo thanh niên và  nhà cải cách xã hội, giáo sư mỹ thuật người Mỹ tại New Yorrk, đề nghị tạc một pho tượng Phật với đức tính từ bi của Á Đông và với đặc tính giản dị, sống động của nghệ thuật Tây Phương. Cư sĩ Phật tử Paul Carus dùng âm nhạc Victorian để soạn kịch, sam nguyện Phật giáo  cho các buổi lễ.

 

Cư sĩ Phật tử Paul Carus đã mạnh dạng bản địa hóa trong sử dụng những hình thức Cơ Đốc giáo quen thuộc với người Tây Phương để chuyển tải giáo  lý từ bi trí tuệ và phương pháp tu trì của đạo Phật. Ông minh họa bản tính Đức Phật A Di Đà của Tịnh Động tông có thể thay thế hình ảnh Thượng Đế hữu hình: “A I Đà trật tự thế giới, là chân lý tuyệt đối có thể điều hành luật tiến hóa. . .”.

 

Trong ước nguyện phổ cập đạo Phật với quần chúng Hoa Kỳ, ông đã bảo trợ cho Đại sư Anagārika Dharmapāla (1864-1933, một nhà cải cách và là nhà chấn hưng Phật giáo, một nhân vật quan trọng trong việc truyền bá đạo Phật đến phương Tây) sang Hoa Kỳ hoằng pháp trong nhiều năm, cũng như hỗ trợ công cuộc hoằng pháp của Thiền sư D.T. Suzzuki.                                                                     

 

Thiền sư D.T. Suzzuki sang Hoa Kỳ năm 1879, tá túc tại tư gia Cư sĩ Phật tử Paul Carus 11 năm. Hai người đã hợp tác phiên dịch nhiều kinh sách Phật giáo sang tiếng Anh và tiếng Nhật. Giới thiệu tư tưởng Đông phương và Phật giáo đến với trí thức Phương Tây.

 

Đến 1910, bức chân dung đầy cảm thông và hấp dẫn về truyền thống này đã được xuất bản lần thứ 13. Một sinh viên trẻ người Nhật (Thiền sư D.T. Suzzuki) đã dịch cuốn sách sang tiếng Nhật và sau đó đến làm việc với Cư sĩ Phật tử Paul Carus ở Illinois, tiểu bang thứ 21 của Hoa Kỳ. Thiền sư D.T. Suzzuki đã làm việc vào cuối những thập niên 1890, dịch “Đạo Đức Kinh” (道德經-Dàodéjīng) và ở lại Hoa Kỳ cho đến năm 1908, một thời kỳ giáo dục vô giá cho vị Thiền sư Phật giáo Nhật Bản trở thành dịch giả hàng đầu của truyền thống Thiền Phật giáo sang ngôn ngữ tư tưởng phương Tây.

 

Cuối cùng, ban đầu có những nhân vật bị thu hút bởi các chiều kích thẩm mỹ của những gì dường như là văn hóa và nghệ thuật Phật giáo huyền diệu, đặc biệt là của Nhật Bản và Tây Tạng.

 

Vào những thập niên 1880, cư sĩ Phật tử Francisco Fenollosa (1853-1908) và cư sĩ Phật tử William Sturgis Bigelow (1850-1926), người đến Nhật Bản vào cuối 1870 và thập niên 1880, họ đã nuôi dưỡng sự đánh giá sâu sắc về cả Phật giáo và nghệ thuật Nhật Bản.

 

Cư sĩ Phật tử Francisco Fenollosa, một nhà sử học nghệ thuật người Mỹ về nghệ thuật Nhật Bản, giáo sư triết học và kinh tế chính trị tại Đại học Hoàng gia Tokyo. Một nhà giáo dục quan trọng trong quá trình hiện đại hóa Nhật Bản trong thời kỷ nguyên Meiji, ông là một người nhiệt tình với phương Đông, người đã làm nhiều việc để bảo tồn nghệ thuật truyền thống Nhật Bản.

 

Cư sĩ Phật tử William Sturgis Bigelow, con trai của Henry Jacob Bigelow, một nhà sưu tập nghệ thuật nổi tiếng người Mỹ. Ông là môt trong những người Mỹ đầu tiên sống ở Nhật Bản và thông qua sự đóng góp của ông cho Bảo tàng Mỹ thuật Boston, đã giúp hình thành các tiêu chuẩn mà nghệ thuật và văn hóa Nhật Bản được đánh giá cao ở phương Tây.

 

Năm 1885, nhị vị cư sĩ Phật tử Francisco Fenollosa và William Sturgis Bigelow đều quy y Tam Bảo tại ngôi già lam cổ tự Homyoin (法明院), bờ hồ Biwa, Nhật Bản, thụ trì Ngũ giới, Thập Thiện và chính thức trở thành Phật tử và ứng dụng Phật pháp thực tiễn vào đời sống thường nhật.

 

Sự ra đời bộ sưu tập nghệ thuật Nhật Bản của Bảo tàng Mỹ thuật Boston, lần đầu tiên đã được hình thành thông qua sự đóng góp của Ernest Francisco Fenollosa (1853-1908) và William Sturgis Bigelow (1850-1926), người đến Nhật Bản vào cuối 1870 và thập niên 1880. Trong suốt thời gian ở Nhật Bản, họ đã tiến hành khảo sát các cổ vật của Nhật Bản và mua lại các tác phẩm nghệ thuật. Bộ sưu tập của họ bao trùm một loạt các giai đoạn và nhiều thể loại.

 

Vân Tuyền

(Nguồn: The Pluralism Project Harvard University)





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn