Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Vài nhận xét về hiện tình Phật Giáo Việt Nam

10/04/201314:02(Xem: 2412)
Vài nhận xét về hiện tình Phật Giáo Việt Nam


Một vài nhận xét về
HIỆN TÌNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM
(Từ năm 1975- 1999)


N.T.H

Nói đến hiện tình tức là chỉ cho tình trạng sinh họat đã đang và sẽ diễn ra trong một giai đoạn nào đó, của một cá nhân hay một tập thể, mà qua đó chúng được thể hiện như là một đối tượng để chúng ta khảo sát và đánh giá về chúng. Chúng luôn luôn thể hiện sự lệ thuộc vào chính tự thể của một cá nhân, hay một tập thể tha nhân mà sự hiện hữu đó như là những sự kiện chính xác, để chúng ta đánh giá đúng sai về chúng một cách công bằng và không sợ rơi vào thiên kiến chủ quan. 

Hiện tình sinh hoạt của Phật giáo Việt nam, chúng cũng được nhìn nhận và đánh giá như là một đối tượng nghiên cứu nghiêm túc cho một chung cuộc sau này của lịch sử về giai đoạn đó. Phật giáo Việt nam trong giai đoạn hiện tại, nếu nhìn một cách trung thực và khách quan, thì đây quả thực là một giai đoạn đáng để chúng ta ưu tư và lo nghĩ về tiền đồ của Phật giáo Việt nam, vì tự thân nó Phật giáo đã đánh mất đi cái giá trị nội tại, đáng lý ra nó phải được nuôi dưỡng phát huy một cách tự chủ trong quá trình gìn giữ và kế thừa. Ở đây, chúng ta không quy trách nhiệm cho bất cứ môﴠcá nhân nào cả, mà là trách nhiệm chung của Phật giáo Việt nam, chỉ vì mỗi người trong chúng ta quá vụng về trong cung cách ứng đối với hòan cảnh chung quanh vào lúc bấy giờ, nên tình trạng phân hóa nảy sinh, và chúng kéo theo sau những sự thực đau lòng qua những hiện tượng hủ hóa của chính các vị lãnh đạo trong Giáo-hội hiện tại, được thể hiện qua sự đánh mất chính mình (tự ti) để làm công cụ tay sai cho một thế lực vô minh bên ngoài, trong khi họ tự tôn một cách quá đáng đối với các đồng đạo của mình, qua sự thể hiện cái ngã trịch thượng được gói gém và nuôi dưỡng bỡi những đặc lợi đặc quyền cỏn con do thế lực vô minh mang lại. Đây là hiện tượng phổ biến từ trên chóp bu Trung ương cho đến các Quận, Huyện địa phương trong khắp cả nước, cũng từ đó Phật giáo Việt nam, sức mạnh của tập thể yếu dần đi, và phân ra thành hai giai cấp thống trị và bị trị rõ ràng. 

Giai cấp thống trị được hưởng những đặc ân đặc quyền do nhà nước ban phát, và do đó họ chỉ biết chú trọng đến bề mặt hình thức bên ngoài được chỉ đạo sát sao bỡi một ban tôn giáo chính phủ từ trung ương cho đến địa phương theo hướng đi của nhà nước qui định. Do đó tuy rằng Giáo hội về mặt hình thức trông có vẻ có bề thế, và có sức sinh hoạt năng động nhờ vào những phương tiện nhà nước ban phát, nhất là phương diện truyền thông đại chúng. Nhưng trong nội dung thực chất thì chúng hủ hóa mục nát, chúngống được là nhờ nhà nước hà hơi tiếp sức, nếu không thì đã ngã gục từ lâu rồi. Rốt cuộc rồi quanh đi quẩn lại cũng những gương mặt ấy, kể từ ngày thành lập cho đến bây giờ, và có lẽ là mãi về sau này cũng có, vì nguyên tắc hành chính chỉ huy mà, có thua gì việc cha truyền con nối trong chế độc phong kiến đâu!? Một người có thể kiêm cả ba, bốn, năm, hay sáu chức vụ gì đó, từ trên Trung ương đến địa phương. Hiện tượng này là một hiện tượng của thiếu người hợp tác, và cũng là do tham quyền cố vị, hay bè phái địa phương đẻ ra. Thật ra, trong những khuôn mặt này, không hẳn họ có cùng chung một chí hướng. Có người ngồi lại vì một lý do nào đó, hoặc vì cái lợi ích chung, hoặc vì lợi ích riêng tây, hoặc vì tự ti, hoặc vì cơ hội, hoặc vì vong thân đánh mất đi chính mình; nhưng nói chung thì người vì lợi ích chung thì quá ít oi, hơn nữa những người có đôi chút liêm sỉ tàm quý thì họ không bao giờ đứng ra họp tác cả, ngoài ra thì hoàn toàn là những người cơ hội; nếu nói cho chính xác và đúng với những hiện tượng đã và đang xảy ra trong Gi񦣲25;o hội thì họ là những người đã đánh mất chính mình. Sự hiện hữu của họ vì thế, đã trở thành không có ích gì cho Tăng tín đồn Phật tử cả, vì tự họ không có thẩm quyền ngay trong việc sinh hoạt Giáo hội, chứ đừng nói chi đến những việc khác như can thiệp, hay bênh vực Tăng tín đồ Phật tử bị nhà nước chèn ép, áp bức hay giam giữ bất hợp pháp khi cầu cứu đến họ. Ở đây, không những họ không can thiệp mà còn đồng lõa với các thế lực đó nữa là khác, họ dựa vào thế lực nhà nước hù dọa, bắt nạt, làm tiền ăn hối lộ đối với giai cấp bị trị, giống như là một cán bộ nhà nước không khác gì. Đó chính là cái thế làm cho giai cấp dưới của Phật giáo Việt nam càng ngày càng lánh xa, để rồi phân ra làm hai cấp rõ ràng, và cũng từ đó họ không liên hệ thân cận và nắm được giai cấp dưới. Họ tự trở thành những kẻ bị cô lập, nếu họ có liên hệ được chăng nữa, thì chính sự liên hệ đó là thứ liên hệ hành chánh khi giai cấp dưới cần thế thôi. Ngoài ra, họ chỉ biết tranh dành địa vị chỗ ngồi để rồi chèn ép nhau, loại nhau bằng những thủ đoạn nếu được, bằng cách dựa dẫm vào thế lực nhà nước để chơi nhau ngay trong những người chính họ, vì vậy cho nên ngay trong chính những người ra làm việc Giáo hội không ai tin ai, luôn luôn dè chừng nhau, và nạn bè phái địa phương, môn phái cũng từ đây nảy sanh. Một tập thể mà từ trên xuống dưới nghi ngờ nhau, dè chưng nhau, chỉ vì họ sợ rằng ai cũng làm nhiệm vụ như chính họ đang nhận nhiệm vụ theo dõi người khác, vậy thì làm sao mà cảm thông nhau, làm sao hòa hợp được, vì thế cho nên sức mạnh tập thể không có. Giáo hội thì có đó nhưng không có hồn, đến độ Tăng ni Phật tử thuộc thành phần bị trị, phần nhiều không biết Thành hội là gì? Đặt ở đâu? Văn phòng II là gì và hiện đang ở chỗ nào? Họ chỉ biết có chùa của họ, chỉ biết có bổn đạo của họ, và ngược lại Phật tử chỉ biết cái chùa của họ, ông Thầy của họ mà thôi. Một Giáo hội như vậy làm sao đứng vững nổi, nếu không nhờ vào bàn tay phù phép của nhà nước thò vào nâng đỡ? 

Từ những hiện tượng trên cho chúng ta một cái nhìn đúng hơn về Giáo hội hiện tại. Ở đây chúng ta không đặt vấn đề là Giáo hội hợp pháp hay không hợp pháp, tự nó sẽ trả lời cho chính nó qua việc sinh hoạt hằng ngày của Giáo hội này, có chủ quyền hay không có chủ quyền trong việc thực thi kế sách sinh hoạt cho Giáo hôi, hay đó cũng chỉ là một con cờ tay sai cho chủ nghĩa đế quốc mới, thực hiện tham vọng thống trị phi dân tộc, phi nhân bản tại đất nước này qua chủ nghĩa Max-Lê của ý thức hệ ngoại lai Tây phương đã đang và sẽ áp đặt trên đất nước này? mà chúng ta chỉ xét trên khía cạnh sức mạnh của đoàn kết và hiệu quả phát triển là không có, nếu có chăng nữa thì những hiện hữu có được đó được hình thành bỡi thế lực nhà nước, cọng vào sự lợi dụng của giai cấp bị trị mà theo họ với hoàn cảnh xã hội như vậy thế chẳng đặng đừng phải hợp tác vì tương lai của Phật Giáo Việt nam họ phải chấp nhận, nên chúng ta ở bên ngoài thấy có những hiện tượng phát triển thật sự trên mọi lãnh vực như: về giáo dục mở ra các trường Cơ bản ở mỗi tỉnh, cấp địa phương; còn cấp Trung ương mở ra hai trường Cao đẳng, ba Học viện Phật giáo tại ba miền Bắc, Trung, Nam, và một Viện nghiên cứu Phật học. Về hoằng Pháp thì thỉnh thoảng mở ra các lớp bồi dưỡng Giảng sư tại Trung Ương cũng như địa phương. Về Tăng sự thì tổ chức an cư Kiết hạ hằng năm, tổ chức Giới đàn những nơi nào có Tăng ni nhiều cứ ba năm một lần trong khắp cả nước v.v… nhưng thật chất đó chỉ là những hình thức bên ngoài được nhà nước dàn dựng lên và bảo trợ chỉ đạo một cách sát sao ở bên trong. Phật giáo của Giáo hội này làm bất cứ việc gì mà không có sự đồng tình đồng ý của nhà nước, và những Đảng viên chỉ đạo trực tiếp nằm trong guồng máy Giáo hội gật đầu thì đừng hòng thực hiện được. Như vậy những hiện tượng Giáo hội phát triển về nhiều mặt ở trên như chúng tôi đã đề cập cũng không ngoài sự bảo trợ và chỉ đạo trực tiếp này, cộng với cái thế chẳng đặng đừng của giai cấp Tăng lữ và quần chúng Phật tử bị trị này. Ở đây, nếu không có sự hiện hữu cộng tác có lý do riêng của giai cấp bị trị thì thử hỏi giáo hội và nhà nước có làm gì được không? Vì vậy, Giáo hội không có bất cứ một giá trị nào đối với quần chúng Tăng tín đồ Phật tử ngoài việc bị giai cấp dưới lợi dụng mà họ không biết, họ cứ tưởng đó là sự thành công của họ!

Qua những hiện tượng trên cho chúng ta thấy, hiện tại nếu bảo là có sự phát triển, thì sự phát triển đó là sự pháp triển của Phật Giáo Việt nam chứ không phải sự phát triển của Giáo hội Phật giáo việt nam, hay nói một cách chính xác hơn thì đó chính là sự phát triển của giai cấp bị trị Phật giáo Việt nam vào lúc bấy giờ. Đây là một giai cấp đã và đang lớn mạnh trong một hoàn cảnh khó khăn bị chèn ép bỡi trong lòng nội tại của chính nó, và hoàn cảnh bên ngoài buộc nó phải tự hủy. Nhưng nó vẫn sống và vẫn mạnh hơn lúc nào hết nhờ vào những lý do như chúng tôi vừa nêu ra. Cái nguyên nhân đưa đến sự bền vững và lớn mạnh của giai cấp Tăng tín đồ bị trị, chúng được hình thành và hiện hữu nhờ vào: 

Thứ nhất, vì Giáo hội không có hệ thống hành chánh ở cấp cơ sở (xã, phường, thôn, ấp, làng xóm) nên Giáo hội không đi sát, sâu, và nắm vững hạ tầng cơ sở nên Giáo hội trở thành không có quần chúng (đây là điều nhà nước muốn và Giáo hội cũng đã đáp ứng yêu cầu của họ). Thử hỏi một tổ chức mà không có hạ tầng cơ sở thì họ làm việc với ai, và họ dựa vào đâu để hiện hữu? Vì nhà nước biết thế cho nên buộc họ phải làm chỗ dựa cho Giáo hội, và giáo hội vì thế trở thành công cụ cho họ để mà hiện hữu. Trong khi đó nhà nước luôn coi trọng hạ tầng cơ sở và luôn luôn nắm vững hạ tầng cơ sở để làm nền tảng cho chế độ của họ. Chính vì chỗ hở này mà Giáo hội không nắm vững được quần chúng Phật tử và Tăng ni, và cũng vì chỗ hở này mà giai cấp bị trị lợi dụng nó để tự hóa thân biến mình trở nên đoàn kết và vững mạnh hơn. Ở đây, họ không cần gì hết, chỉ cần quan hệ tốt với nhà nước địa phương là họ sẽ được tất cả(vì nhờ có cán bộ hủ hóa từ trên cho đến dưới cho nên đây cũng là một cái duyên thuận để giai cấp bị trị phát triển nội bộ), như vấn đề xuất gia, học tập, thọ giới, tấn phong Hòa thượng, Thượng tọa .v.v… Nhà nước đâu có muốn cho Phật giáo phát triển, và tất cả mọi sinh hoạt tín ngưỡng khác cũng vậy, trước hết và trên hết của mọi vấn đề ở đây là phải có sự chấp thuận của nhà nước trong việc nếu muốn đi tu, nếu muốn học tập, nếu muốn tấn phong Hòa thượng, Thượng tọa hay muốn bất cứ việc gì đều phải được sự chấp thuận của nhà nước, còn Giáo hội là cơ quan, để nhà nước nhờ vào đó mà họ thoát khỏi tai tiếng là cấm đoán tự do tín ngưỡng tôn giáo, nên buộc Giáo hội phải ra nội qui ai muốn đi tu thì phải được sự đồng ý của cha mẹ, và được sự chấp thuận của chính quyền địa phương, nhưng trên thực tế thì có ai muốn đi tu làm đơn xin nhà nước bao giờ, và nếu có xin đi nữa thì cũng bị nhà nước bác bỏ, vì họ không muốn chịu trách nhiệm về chữ lý trên mặt giấy tờ nếu có việc gì xảy ra; nhưng đối với nhà nước này thì cái gì cũng có thể xảy ra; biết vậy cho nên họ không bao giờ làm việc này. Nhà nước thì lúc nào cũng tuyên truyền là mọi người ở trong nước Xã hôi chủ nghĩa đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo; nhưng có một điều rất nghịch lý là khi đã cạo đầu xuống tóc, mặc pháp phục rồi thì người này không có chỗ ở, vì nhà nước đâu có cho nhập hộ khẩu thường trú ở trong chùa, nếu chùa nào có liên hệ tốt với nhà nước địa phương thì mới được tạm trú. Như vậy cũng bằng là cấm không cho tu rồi!? Những điều này thì Giáo hội không bao giờ can thiệp, và đặt vấn đề với nhà nước đâu; từ đây nảy sanh ra không biết bao nhiêu là tệ nạn, Tăng ni thuê nhà ở trọ, hay ở nhà bổn đạo, vì những nơi này Tăng ni được quyền tạm trú còn chùa thì không được!? Đó là một trong vô số cái bất hợp lý như vậy, đối với tôn giáo nói chung và Giáo hội Phật giáo nói riêng, mà các cấp lãnh đạo không bao giờ dám hở môi, vì vậy cho nên giáo hội phải lãnh đủ tai tiếng búa rìu thay cho nhà nước. Khi mà giai cấp thống trị không cưu mang nổi những việc này cho Tăng tín đồ Phật tử, thì giai cấp bị trị tự lo lịu về tương lai cho Phật giáo, bằng cách liên hệ tốt với chính quyền địa phương, để họ cho phép tạm trú tại địa phương họ, và dần dần đâu cũng vào đó và được hợp thức hóa một cách đàng hoàn, bằng sự khéo léo giữa người với người thì mọi chuyện đều im xuôi. Chính nhờ vào sự hiện hữu bằng cách này mà giai cấp Giáo hội thống trị mới có người để họ mở trường dạy học, mở Giới đàn thọ giới chứ nếu không có như vậy thì tu sĩ tìm đâu ra để họ mở trường dạy học, mở Giới đàn để thọ giới? Thứ hai, vì Giáo hội không có cơ sở hạ tầng, cho nên quần chúng Phật tử họ không nắm được. Từ sự ngăn cách giữa quần chúng Phật tử và các cấp lãnh đạo từ cấp quận huyện trở lên của Giáo hội được coi như là một sự ngăn cách lớn, nên Giáo hội hiện đang chơi vơi giữa từng không, có thể rớt lúc nào cũng được nếu nhà nước muốn. Vì Giáo hội không đặt trên bất cứ nền tảng nào vững chắc nào hết, nên sự hiện hữu của họ như là một cái bóng đối với giới Phật tử tại gia, hay đó chỉ là một tổ chức chánh trị do nhà nước lập ra để tuyên truyền cho chế độ mà thôi. Ngược lại giai cấp bị trị, họ chỉ gần gũi và thân thích những vị cũng đồng với cảnh ngộ của họ, cùng với tầng lớp của họ, sát cánh với họ trong sinh hoạt tâm linh như tu học, lễ bái, ma chay, giỗ chạp, cầu an, cầu siêu nói chung là mọi hoạt động về tinh thần, họ gắn bó với nhau qua tình nghĩa Thầy trò, tình nghĩa đồng đạo, tình nghĩa chòm xóm. Họ đoàn kết nhau để vương lên trong sự áp bức chèn ép của giai cấp thống trị; họ biết cách lợi dụng để tự sinh tồn mà không đánh mất chính họ. Đó là điều mà mọi người trong giai cấp bị trị lấy là hảnh diện, và nhìn thẳng vào đời đi lên với hai bàn chân của chính mình, cho dù họ gặp rất nhiều khó khăn trong lúc sinh hoạt, như hội hợp phải xin phép nếu không phải là những ngày lễ lớn theo truyền thống, đã được nhà nước cho phép thì dứt khoát không được, thì họ sinh hoạt theo lối khó khăn. Sự hiện hữu và phát triển của giai cấp bị trị này, nó đã nói lên được cái huyết mạch truyền thống lâu đời của dân tộc, nó đã ăn sâu, đã đúc kết nên một giai cấp chân lấm tay bùn, lao động vất vả, luôn luôn bênh vực lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, đùm bọc lẫn nhau trong những khi hoạn nạn ập đến; luôn tự chủ không đánh mất chính mình. Nó là một Giáo hội chính thống của Phật giáo Việt nam, là Giáo hội của những kẻ thấp cổ bé họng, Giáo hội của vô danh nhưng hữu thực, đó chính là G.H.P.G.V.N.T.N. Hay nếu muốm đặt cho nó một cái tên để gọi thì đó là một trong những danh xưng hợp tình hợp lý nhất trong hiện tại. 

Tóm lại, như đã trình bày ở trên chúng ta đã nhìn thấy hiện tình Phật giáo Việt nam là như vậy, chúng bị phân hóa thành hai giai cấp rõ ràng là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Sự hiện hữu của chúng được đánh giá như là một sự ô nhục một thời trong suốt dòng lịch sử Phật giáo Việt nam, chúng được hình thành và hiện hữu một cách nhức nhối bỡi các thế lực vô minh nội tại cũng như ngoại tại, đáng lý ra nó phải là một khối mạnh đoàn kết. Chúng ta không trách ai hết mà chúng ta hãy tự trách chính mình, không đủ trí tuệ để lèo lái con thuyền Phật giáo Việt nam vượt qua cơn bão táp, mà tự nhận chìm chính mình để tránh bão táp!? Rốt cuộc rồi chúng ta được gì? Chia rẽ, phân tán, yếu dần yếu dần và chìm nghỉm trong tiếng cười của bão táp phong ba. Hãy nắm tay nhau lại, sát cánh bên nhau, đoàn kết nhau lại, hãy tha thứ cho nhau những lỗi lầm nếu có trong quá khứ, hay trong hiên tại, mà vực dậy con thuyền Phật giáo Việt nam. Hiện tại vẫn chưa phải là đã trễ, chỉ sợ chúng ta không đủ dũng khí của một bậc trượng phu đứng lên cùng nhau vực dậy con thuyền, và đặt chúng vào hướng đi thích hợp đối với sự giải thoát, và tự chúng ta hợp nhau lèo lái tiến lên, mà không cần bất cứ một thế lực nào khác ngoài chúng ta ra, thì đó mới đích thực là hướng đi đúng của Phật giáo Việt nam. 


---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/10/201207:45(Xem: 4921)
Ông Cao Huy Thuần bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Paris và sau đó là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Cộng đồng châu Âu tại Đại học Picardie. Hiện nay ông là giáo sư giảng dạy tại Đại học Picardie, Pháp. Cũng như một số trí thức Việt kiều khác, ông thường xuyên về Việt Nam tham dự các cuộc hội thảo về các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội. Gần đây nhất, ông đã về dự và thuyết trình tại Tuần văn hóa Phật giáo Việt Nam lần thứ IV tổ chức tại Tp Vinh, tham gia hội thảo "Văn hóa Phật giáo Nghệ An: Quá khứ, Hiện tại và Tương lai". Nhân dịp này, phóng viên VHNA đã có cuộc trao đổi với giáo sư Cao Huy Thuần một số vấn đề về văn hóa và giáo dục.
25/11/201022:25(Xem: 13538)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
12/04/201303:34(Xem: 15885)
50 Năm Chấn Hưng Phật Giáo Việt Nam - HT Thích Thiện Hoa soạn GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN HÓA ĐẠO ---oOo--- 50 NĂM CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM Sa mônTHÍCH THIỆN HOA soạn Tập 1: 50 NĂM (1920-1970) CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM hay là “GHI ƠN TIỀN BỐI” I –Lời Nói Đầu II –Diễn Văn III -Quyết định số 0176–V. H. Đ IV –Ghi ân Tiền Bối V –Di ảnh và tiểu sử Chư Thánh Tử Đạo.
06/10/201102:14(Xem: 6063)
Không phải đến ngày 04.01.1964 khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập và công bố bản Hiến Chương GHPGVNTN thì mới có sự hợp nhất. Nguyện vọng thống nhất các tổ chức, hội đoàn Phật giáo toàn quốc đã được hoài bão từ lâu, chí ít là từ phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thập niên 1930, và đã được hình thành bằng một tổ chức thống hợp vào năm 1951 với danh xưng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, qui tụ 51 đại biểu của 6 tập đoàn Bắc, Trung, Nam.
31/05/201114:38(Xem: 12919)
Trước khi thành Thiền sư, Trúc Lâm đại sĩ đã từng làm vua nước Đại Việt. Đó là vua Trần Nhân Tông, người đã từng đẩy lui cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ.
19/09/201317:34(Xem: 12554)
Không biết tự khi nào, tôi đã lớn lên trong tiếng chuông chùa làng, cùng lời kinh nhịp mõ. Chùa An Dưỡng (xem tiểu sử), ngôi chùa làng, chỉ cách nhà tôi chừng 5 phút đi bộ. Nghe Sư phụ kể lại, chùa được xây dựng vào khoảng từ 1690 đến năm 1708, do công khai sơn của Hòa Thượng Thiệt Phú, người Tàu sang Việt Nam truyền giáo cùng với các thiền sư khác. Trong chuyến đi hoằng pháp vào đàng trong, Ngài đã xây dựng ngôi chùa này. Chùa nằm trên một khu đất cao nhất làng, quanh năm bao phủ một màu xanh biếc của những khóm dừa, những lũy tre làng thân thương.
06/11/201020:54(Xem: 4474)
Ngày20 tháng tư nhuận năm Quí Mão(11/6/1963) trong một cuộc diễnhành của trên 800 vị Thượng Tọa, Ðại đức Tăng, Ni đểtranh đấu cho chính sách bình đẳng Tôn giáo, cho lá cờ quốctế không bị triệt hạ: tại ngã tư đường Phan Ðình Phùng,Lê Văn Duyệt ( Sài Gòn), lúc 9 giờ sáng, Hòa Thượng QuảngÐức phát nguyện tự tay châm lửa thiêu thân làm ngọn đuốc“ thức tỉnh” những ai manh tâm phá hoại Phật giáo. Dướiđây là tiếng nói tâm huyết cuối cùng của Ngài gửi lạicho đời.
16/06/201710:25(Xem: 2400)
Ảnh Hưởng của Phong Trào Chấn Hưng PGVN (1920)
29/01/201205:40(Xem: 8100)
Việt Nam, là một quốc gia nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, Bắc giáp với Trung Hoa, Đông và Nam giáp với Biển Nam Hải, phía Tây giáp với Lào và Campuchia; diện tích: 329.556 km2, dân số 70 triệu người; mật độ dân cư: 224 người/km2; dân số dưới 15 tuổi: 39, 2%; tuổi thọ trung bình: 62,7 tuổi; tử suất trẻ em: 59%; học sinh cấp Trung học : 46,9%; tôn giáo chính: Phật giáo ( những tôn giáo nhỏ khác là Khổng, Lão, Cao Đài, Hòa Hảo, Ky Tô, Tin Lành…); thể chế chính trị: Cộng Sản; Lao động (nông & ngư nghiệp): 73% dân số; truyền thông đại chúng: 7 triệu máy radio, 3 triệu máy truyền hình, Nhật báo Nhân Dân phát hành 200.000 tờ mỗi ngày; thu nhập bình quân đầu người 113 đô la.
24/07/201520:15(Xem: 4037)
Bài tiểu luận "Ảnh hưởng Phật giáo trong pháp luật triều Lý" đã được viết vào tháng giêng năm 1971 tại Saigon. Tạp chí Từ Quang đã đăng từ số 225 đến 258 (từ tháng 6 đến 9 năm 1974). Tạp chí Từ Quang là Cơ quan truyền bá đạo Phật của Hội Phật Học Nam Việt, trụ sở ở chùa Xá Lợi tại Saigon (bên hông trường Gia Long cũ), do cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, cố Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hoá thời Đệ Nhị Cộng Hoà miền Nam, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Sau khi cụ Mai Thọ Truyền qua đời thì cụ Minh Lạc Vũ Văn Phường làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tôi xin trân trọng cống hiến quý độc giả Đặc San Chánh Giác của Chùa Hoa Nghiêm ở Toronto. Toronto, ngày 01 tháng 04 năm 1991 NVT