Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phần 1 - GIÁO PHÁP - CHÚNG SINH

10/12/201821:08(Xem: 60)
Phần 1 - GIÁO PHÁP - CHÚNG SINH

Phật Giáo Thánh Điển Linh Sơn

Huyền Vi

~O~

 

 

Phần Thứ Nhứt  -  GIÁO PHÁP

CHƯƠNG BỐN  -  CHÚNG SINH

 

Mục I – Nhân Sinh

 

  1. Các thí dụ về nhân sinh:

            Một thuở nọ, đức Phật ở tại nước Câu Diệm Di (1), trong khu vường Cù Sư La. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo các vị tỳ kheo: “Ví như có 4 con rắn mãng xà hung ác độc hại, chứa trong một rương. Khi ấy có một tu sĩ phu thông minh, không ngu tối, có trí tuệ, cầu các việc vui, nhàm chán khổ não, tìm nguồn sống, xa lánh cảnh chết. Lúc bấy giờ có một vị nói với Sĩ phu rằng: “Anh nay lấy rương nầy trong có các rắn độc, săn sóc tắm gội, ân cần nuôi ăn, làm việc đúng giờ khắc. Bốn con rắn độc có thể muốn não hại, hoặc cắn anh, hoặc phun nọc độc vào anh; anh phải đề phòng rất cẩn thận!”

            Lúc bấy giờ kẻ Sĩ phu kia sợ hãi chạy trốn.  Bổng có năm kẻ oán thù cầm dao bén chạy theo, tìm kiếm muốn giết hại.  Anh ta hết sức lẫn tránh.  Chàng Sĩ phu kia vừa sợ 4 con rắn độc, vừa lo 5 oán tặc, cắm đầu mà chạy !

            Có người bảo rằng : “Sĩ phu !  bên trong người có 6 chú giặc, theo đuổi rình ông, thừa dịp chúng sẽ giết hại.  Ông nên đề phòng cẩn thận !  “Lúc ấy, Sĩ phu sợ 4 rắn độc, 5 oán tặc và lo 6 kẻ giặc bên trong, hoảng hốt ruổi chạy vào một thôn trang thấy có nhà bỏ trống, xiêu vẹo đỗ nát, co nhiều đồ vật dễ sợ, cầm nắm đểu nguy hiểm, không có thứ nào bền chắc.

            Lại có một người bảo : “Sĩ phu ! tại nơi tụ lạc sẽ có bọn giặc cướp đến, quyết tâm phá phách nhà ngươi.  Khi ấy kẻ Sĩ phu sợ 4 rắn độc, 5 oán tặc, 6 nội tặc và lũ giặc cướp trong làng nên quá sợ hãi, cắm đầu mà chạy.

            Băng qua các đường sá, đến một con sông lớn, ngọn thủy triều đang dâng.  Kẻ Sĩ phu suy nghĩ, đứng bờ bên nầy sanh ra sợ hãi; nhưng nhìn sang bờ bên kia cảm thấy yên ổn tâm hồn, mát mẽ không sợ không có cầu hay thuyền để đi qua bờ bên kia.  Ông ta nghỉ rằng : “ta lấy các cây gỗ kết thành một cái bè, dùng tay chân làm phương tiện, chèo đến bờ bên kia”.  Suy nghĩ như thế rồi, liền gom góp các cây cối nằm bên bờ sông kết thành chiếc bè, dùng tay chân làm phương tiện, chèo chóng ngang dọc vượt qua sông.  Sĩ phu làm như thế, khỏi bị nạn 4 con rắn độc, 5 tên oán tặc, 6 kẻ ác tặc bên trong; lại cũng thoát được lũ giặc trong làng, qua khỏi giòng sông xa lìa các thứ sợ hải bên nầy, được đến bờ bên kia là nơi yên ổn, bình thản và an vui.

            Ta nói thí dụ nầy, sẽ hiểu nghĩa kia.  Nầy các vị Tỳ-kheo ! Chiếc rương thí dụ sắc thô 4 đại của thân nầy.  Bốn đại là tấm thân tạo bằng tinh huyết, nuôi lớn bằng sự cấu uế, tắm gội y phục, vô thường biến hoại, thường gặp các sự việc nguy hiểm.  Bốn con rắn độc là thí dụ cho bốn đại :  chất cứng, chất lõng, chất nóng và chất hơi (gió).  Chất cứng nếu tan rã thì toàn thân tiêu diệt, hoặc bị thay đổi; các chất lõng, sức nóng và sự xế dịch cũng lại như thế.  Năm kẻ oán tặc, ví dụ cho năm (2) thọ ấm.  Sáu bọn ác tặc bên trong ví dụ cho sáu thọ (3) hỷ.  Trong làng trong ví dụ cho sáu nội (4) nhập.  Nầy các thiện nam ! “Quán sát chỗ nhãn nhập là vô thường biến hoại; người chấp trì  nhãn giới cũng lá pháp vô thường hư ngụy.  Chỗ tỹ, thiệt, thân, ý nhập cũng lại như thế.  Các bọn giặc trong làng bỏ trống là để ví dụ chỗ ngoài lục nhập, con mắt bị sắc vừa ý hay không vừa ý nhiễu hại; tai nghe tiếng, mũi ngũi mùi , lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý bị sự vật vừa ý hay không vừa ý làm hại.  Dòng nước chảy ví dụ cho bốn dòng (5) dõng dục, dòng hữu, dòng kiến và dòng vô minh.  Con sông là ví dụ ba ái :  ái cõi dũc, ái cõi sắc và ái cõi vô sắc.  Bờ bên nầy nhiều sự sợ hãi là ví dụ có xác thân.  Bờ bên kia trong mát an vui là ví dụ cho vô dư niết bàn.  Chiếc bè ví dụ bát chánh đạo.  Tay chân phương tiện chèo chống vượt qua là nói ví dụ sự tinh tiến dõng mãnh đến bờ bên kia.  Trụ xứ của Bà la Môn là ví dụ cho Như Lai ứng đẳng Chánh Giác.

            Nầy các Tỳ-kheo !  lòng từ bi của Đại Sư an ủi đệ tử vì chỗ tạo tác của chúng ta.  Ta nay đã làm, các ông nay cũng phải làm những chỗ cần làm kia :  Ở dưới gốc cây yên tĩnh, hoặc nơi phòng xá thanh tịnh, trải cỏ làm tòa ngồi, hoặc ngồi tại gò đất, xa lìa các sự ồn ào, tinh tiến thiền định, cẩn thận không buông lung, để về sau khỏi hối hận.  Đây là giáo pháp của ta dạy trao.

(Trích kinh Tạp A Hàm :  Samyuktàgamasùtra, quyển thứ 43, thời 4, tờ 48, bên trái và tờ 49 bên phải).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Nước Câu Diệm Di  :  Kausàmbi.
  2. Năm Thọ ấm  :  Cùng năm uẩn đồng nhau  :  sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
  3. Sáu thọ hỷ  :   Do sáu căn tiếp xúc sáu cảnh mà khởi sáu thức.  Tức là sáu cái hiểu biết của  Mắt,  tai,  mũi,  lưỡi,  thân,  ý.
  4. Sáu nội nhập cùng sáu ngoại nhập  :  Sáu nhập là dịch theo xưa, nay dịch là sáu chỗ.  Sáu  nội nhập là  :  nhãn,  nhĩ,  tỹ,  thiệt,  thân,  ý.  Sáu ngoại nhập là  :  sắc,  thinh,  hương,  vị,  xúc,  pháp.  Tân dịch là  :  sáu căn, sáu trần.
  5. Bốn dòng  :  bốn thứ phiền não  :  ham,  muốn,  lăng xăng,  chấp trước và vô minh, khiến cho thiện pháp trôi nổi, ví như dòng nước.  Tất cả hữu tình bị bốn dòng phiền não nầy mà trôi nổi không bao giờ chấm dứt.

 

  1. Bốn tệ tự khi

 

Ngày lẫn đêm quá biếng lười,

Gìa mà không dứt chuyện cười dâm ô,

Có của chẳng giúp người mô,

Không y Phật dạy tha hồ gây oan.

Mỗi người có bốn tệ đoan,

Tự mình dối trá phải toan lãnh phần.

(Trích kinh Pháp Cú  :   Dharmapada,  quyển thượng, phẩm Vô Thường, tạng 6, tờ 94 bên trái).

 

  1. Bốn têd tự khi cùng bốn thời hành đạo

 

            Đức Phật cùng các đệ tử đi đến trong làng Phạm Chí (1), an tọa rồi đi xung quanh; sau khi thọ trai, có hai vợ chồng vị Phạm Chí trưởng lão ở trong làng nầy cùng đi hành khất.  Đức Phậc biết rõ lý lịch của hai người kia giàu có sang trọng đã từng làm quan đại thần.  Phật liền hỏi vị Phạm Chí thiếu niên : “Các ông có biết vị Bà-la-Môn trưởng lão kia không ?”  Tất cả đều nói : “Đã từng biết”.  Lại hỏi : “Ông ta làm việc gì vậy ?” Trả lời : “Nguyên là Đại thần của tiền vô số”. -  “Nay vì cớ sao lại đi hành khất ?”  -  Các vị kia bạch rằng : “Chi phí thiếu đạo đức, sanh ra nghèo khổ”.  Phật bảo các vị Bà-la-Môn : “Ở đời có bốn việc, người không thể làm, ai thi hành thì được phước, không đến nổi nghèo nàn.  Những gì là bốn ?  Một là thanh niên có nhiều sức khoẻ, cẩn thận chớ nên kiêu mạn.  Hai là tuổi già nên tinh tấn, chớ tham đấm sự dâm dục.  Ba là có của cải nhiều, thường nghĩ sự bố thí.  Bốn là tìm thầy học đạo, nghe thọ chánh tín, rồi thật hành đạo lý.  Chắc chắn không chịu làm bốn việc như thế, cứ cho là tầm thường, không suy tính thành bại, một ngày nào đó bị ly tán, ví như con cò già đứng giữ ao trống, cuối cùng không được gì hết”.  Lúc ấy, đức Thế - Tôn liền nói bài kệ :

 

Ngày đêm biếng nhác,

Gìa không ngừng dâm,

Có của chẳng thí,

Không tuân lời Phật;

Bị bốn tệ nầy,

Tự mình đọa lạc,

Buồn thay cảnh già đưa đến,

Sắc thân biến hoại, giác bến xa mờ;

Thiếu thời như ý đợi chờ,

Già nua mới thấy thời giờ khó tu.

Hạnh tốt không chịu  công phu,

Lại không giàu của để lưu muôn đời;

Già như hạt tráng mồ côi,

Giữ gìn ao trống, ôi thôi nghèo nàn.

Đã  không giữ giới phát quang,

Lại không chứa của, để an sau nầy,

Già đau kiệt lực ốm gầy,

Làm sao nghỉ kiệp việc nầy việc kia ?

Gìa như lá rụng thu về,

Hành trình ta phải tứ bề xét xem.

Mạng người mau chóng nhá nhem,

Không cho ân hận, khát thèm về sau.

 

            Đức Phật bảo Phạm Chí : “Ở đời có bốn thời hành đạo, đặng phước đặng độ, có thể tránh được các sự khổ não. Những gì là 4 ?  Một là khi niên thiếu có đủ nhuệ khí.  Hai là giàu sang khi đầy đủ của cải.  Ba là khi gặp tam tôn ưa trồng ruộng phước.  Bốn là khi đương tính toán muôn vật lo sự ly tán.  Thật hành bốn việc nầy, cầu việc gì đều được, chắc chắn đạt thành đạo tích.  Lúc ấy đức Thế-Tôn lại nói bài kệ rằng :

 

“Mạng muốn hết ngày đêm,

Cấp thời sức siêng năng,

Thế gian “đế” phi thường,

Chớ lầm trong mờ tối.

Phải học thắp đèn ý,

Tự luyện cầu trí tuệ,

Lìa cấu chớ nhiễm ô,

Cầm đuốc soi đường chánh”.

(Trích kinh Pháp Cú Thí Dụ, quyển thứ 3, phẩm Lão Xị, tạng 28, tờ 79, bên trái)

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Phạm Chí  :   Brahmacàrim, học sinh của Bà-la-Môn giáo, trong giáo lý của Bà-la-Môn, một đời người có chia bốn thời kỳ.  Thời kỳ đầu gọi là tựu học.  Tức là thời kỳ Phạm Chí.

 

 

  1. Các khó của người đời:

 

Nghèo cùng bố thí khó,

Hào quí nhẫn nhục khó,

Nguy hiểm giữ giới khó,

Tuổi trẻ xuất gia khó.

(Trích kinh Bồ Tát Bổn Hạnh, quyển Trung, vũ 5, tờ 40, bên mặt).

 

  1. Người đời có 8 việc khó.

 

Nghe được chánh pháp rất khó,

Gặp được minh sư không dễ,

Thân người rất là khó được,

Các căn rất là khó đủ,

Sanh được chánh kiến càng khó,

Phát được chánh tín không dễ,

Sum hợp vĩnh viễn rất khó,

Tự tại vô ngại khó hơn.

(Trích kinh Đại Tát Giá Ni Kiền Tư Sở Thuyết, quyển thứ 3, phẩm Tam Luân, dinh 4, tờ 11, bên mặt).

 

Mục  II   -   Vô Thường

 

  1. Mạng sống như cá cạn nước.

 

Ở trong mỗi ngày lẫn đêm,

Khi đi hoặc đứng lại thêm hao mòn;

Như dòng sông lớn cuốn tròn,

Liên tục chảy mãi không còn đứng yên.

Mỗi đêm ta ngũ qua liền,

Mạng sống theo đó giảm riêng kiếp người,

Như cá cạn nước trọn mười,

                        Làm sao vui được mà cười hởi ai !

(Trích kinh Kim Sắc Đồng Tử Nhân Duyên, quyển thư nhất, túc 7, tờ 41, bên trái).

  1. Một ngày qua mạng người giảm bớt.

 

Ngày nay đã qua,

Mạng người giảm bớt,

Như cá ít nước,

Đâu có vui gì ?

Người sống ở đời,

Hành nghiệp chẳng đồng,

Hiểu biết cũng khác;

Một ngày trôi qua,

Mạng người sút kém;

Tuy sống trăm năm,

Nằm tiêu hết nữa.

(Trích kinh Xuất Diệu :  Avadàna sùtra, quyển thứ 2, phẩm Vô Thượng, tạng 5, tờ 40, bên trái).

 

  1. Mạng người nhanh hơn trâu dẫn đi giết:

 

Ví như Chiên Đà La (1)

Đuổi trâu đến lò sát,

Mỗi bước gần tử địa,

Mạng người nhanh hơn thế.

(Trích kinh Ma Ha Ma Gia :  Mahàmayà sùtra, quyển thượng, dinh 10, tờ 28, bên trái).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Chiên đà la  :  Candàla giống rất hạ tiện ở Ấn Độ, lấy sự sát sanh trâu dê làm nghiệp.

 

  1. Mạng người không bền lâu:

 

Không bà con có thể nương cậy,

Không có chỗ để mà ẩn tàng;

Phước cõi trời còn có thể hết,

Mạng người đâu có thể bền lâu.

(Trích kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ, trắc 10, tờ 83, bên mặt).

 

  1. Thí dụ Vô Thường Sinh Tử.

           

            Lúc bấy giờ đức Thế Tôn ở trong đại chúng bảo vua Thắng Quang (1) rằng :  “Đại Vương !  ta nay vì quốc vương lược nói một thí dụ, các cõi sinh tử đắm trước mùi vị vượt qua các họa hoạn.  Quốc Vương lắng nghe và suy nghĩ kỹ !

            Thuở trước có một người đi dạo chơi nơi đồng ruộng, bị voi dữ đuỗi theo, sợ chạy không chỗ nương; thấy có giếng bỏ trống, bên cạnh có rể cây, liền nắm chắc rễ kia, đưa mình vào giếng.  Có hai con chuột trắng và đen, cùng nhau cắn rễ cây.  Ở bốn phía bờ giếng có bốn con rắn độc, muốn cắn người kia.  Dưới đáy giếng có con độc long.  Lòng người kia sợ con độc long, sợ rễ cây đứt, rồi lại thấy trên cành (2) cây có ổ ong mật, năm giọt mật chảy sa vào miệng, nhánh cây lay động, ong bay bốn phía, muốn chích người kia; lữa đồng ruộng bay đến, đốt cháy cây nầy”.  Đại Vương hỏi rằng :  “Người ấy làm thế nào, ham ít mùi vị ngọt mà chịu khổ vô lượng ?”

            Lúc ấy đức Thế Tôn bảo rằng :  “Đại Vương ! đồng ruộng là nói ví dụ cho vô minh đêm dài xa rộng.  Nói người kia là để thí dụ cho dị sanh (3).  Voi dụ vô thường.  Giếng là dụ cho sinh tử.  Rễ cây dụ mạng căn.  Hai con chuột đen trắng là để dụ ngày đêm.  Cắn rễ cây dụ cho mỗi thiện niệm bỏ qua.  Bốn con rắn độc dụ về tứ đại.  Mật ong dụ ngũ dục.  Ong bay dụ tướng tà.  Lửa là dụ cho già bịnh.  Độc long dụ cho sự chết.

(Trích kinh Thí Dụ, túc 8, tờ 18 bên trái và tờ 19 bên mặt).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Vua Thắng Quang :  Xét trong các kinh điển khác.  Thí dụ nầy liên quan đến vua Ba Tư Nặc (Prasenajit) ở nước Xá Vệ.
  2. Cành cây, mật ong 5 giọt sa vào miệng :  Ý nói sợ lòng tham ưa thích 5 giọt mật ngon ngọt mà không nghĩ đến độc long, ác xà quên luôn rễ cây gần đứt.
  3. Dị sanh  :  người phàm phu vậy.  Mỗi loài khác chủng thọ sanh.  Đều gọi là dị sanh.

 

 

  1. Không nhà nào chẳng có người chết:

 

            Thuở xưa có một bà lão, duy nhất có một người con bị bịnh rồi mạng chung, mang để tại gò mã.  Bà lão ôm xác con khóc thật thảm thiết !  Bà kể :  “Chỉ có một người con, hủ hỉ lúc tuổi già, giờ đây chết mất, tôi sống làm gì đây ?  Nếu không lại thì tôi phải chết theo.”  Bà bỏ ăn không uống đã bốn năm ngày.  Đức Phật biết, hướng dẫn 500 vị tỳ-kheo đến thẳng gò mả kia.  Bà lão xa xa thấy đức Phật đi đến, hào quang tỏa sáng.  Bà ấy nửa tĩnh nửa mê, đến chỗ Phật làm lễ rồi ngồi một bên.

            Đức Phật hỏi bà lão : “Vì sao  bà ở trong gò mả?”  -  Bà lão bạch Phật :  “Vì chỉ có một người con, chết mất bỏ lại tôi một mình, tình thương quá nặng tôi muốn chết theo cho đỡ bớt khổ não”.  Phật bảo bà lão : “Muốn cho người con sống lại không ?”  Bà lão thưa : “Muốn lắm lắm” - Đức Phật nói : “Mang hương lửa đến đây, ta sẽ chú nguyện cho người con sống lại.  Nhưng chỉ có một điều là phải tìm hương lửa ở nhà nào không có người chết.”

            Lúc ấy bà lão liền đi xin lửa, đến mỗi nhà đều hỏi : “Nhà ông lâu nay có ai chết không, cho tôi xin ít lửa? -  Người trong mỗi gia đình đều đáp : “Ông bà, cha mẹ, thân quyến đều có chết”.  Mỗi nơi hỏi đều bị từ chối, trãi hơn 10 nhà, không dám mang lửa về, liền trở về chỗ Phật, bạch rằng : “Thưa Thế-Tôn ! Tôi đi khắp nơi tìm, nhưng không có lửa nhà nào mà không có người chết, nên tôi đành trở về tay không”.  Đức Phật bảo bà lão :”Từ khi khai thiên lập địa đến nay, không có người nào sanh ra mà không chết.  Người đã chết rồi, bắt họ sống lại, đâu có vui gỉ ?  Mẹ muốn chết theo con, đâu có ở bên cạnh được, vì mỗi người đều có nghiệp lực khác nhau”.

            Bà lão có phần tỉnh ngộ, nhận hiểu lý vô thường một phần nào.  Nhờ đó, Phật thuyết cho một thời pháp đặc biệt, bà ấy liền đắc đạo Tu-đà-Hoàn (1).  Kẻ đến xem trong gò mả vài nghìn người, hầu hết đều phát tâm vô thượng chánh chân vậy.

(Trích các kinh Soạn Tạp Thí Dụ quyển hạ, thự 7, tớ 15, bên trái).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Tu Đà Hoàn  :  Srota-apanna, dịch là Dự Lưu, lại cũng gọi là nhập lưu.  Người mới vào cửa thánh, là quả đầu trong 4 quả Thinh Van vậy.

 

  1. Chết không đợi thời :

 

Ngày nay gây nghiệp nầy,

Ngày mai tạo việc kia,

Đắm trước không quán khổ,

Không biết giặc chết đến.

Hối hả lo việc mình,

Việc người không rảnh giúp;

Giặc chết không đợi chờ,

Đến thì không trốn khỏi.

Như lộc khát đến suối,

Uống rồi mới nghĩ nước;

Thợ săn không lòng từ,

Không cho uống rồi bắn.

Người si cũng như thế,

Siêng làm các tội đời,

Chết đến không chờ thời,

Ai sẽ vì mình giúp.

Lòng người cầu giàu sang,

Năm dục tình chưa đủ,

Các vị đại quốc vương,

Đâu khỏi việc lo nầy.

Tiên nhân luyện chú tiễn,

Cũng không khỏi chết đến;

Vô thường đại tượng đạp,

Kiến, mối cũng khó tha !

(Trích kinh Tọa Thiền Tam Muội, quyển thượng, thự 6, tờ 7, bên trái).

 

 

  1. Bốn cách cư xử của trượng phu.

 

              Một thuở nọ, đức Phật ở nước Xá Vệ, trong rừng cây của thái tử Kỳ Đà, vườn của ông Cấp Cô Độc.  Lúc bấy giờ đức Thế-Tôn bảo các tỳ-kheo  :  có bốn thứ ngựa, hiền nhân nên cỡi mà trong thế gian thường có.  Những gì là bốn ?  Loại thứ nhất vừa thấy bóng roi liền theo mệnh lệnh, không chút sái ý.  Loại thứ hai roi chạm vào lông, liền biết sợ hãi, vừa ý người chủ.  Loại thứ ba roi quất đến thân, rồi sau mới sợ tuân theo ý chủ.  Loại thứ tư roi đánh thấu thịt thắm xương, rồi mới lo sợ theo ý của chủ nhân !

              Những bậc Trượng Phu (1) cũng có bốn cách.  Những gì là bốn ?  Một là nghe những người ở chốn tụ lạc, hoặc nam hoặc nữ bị bịnh bức não rất là khốn khổ, lăn lộn gần chết.  Nghe nói việc ấy, đối với pháp thế gian, hiểu biết nhàm chán; do sự nhàm chán đó chí tâm tu thiện.  Ấy là bậc trượng phu điều thuận; như ngựa thấy bóng roi liền theo mệnh lệnh.  Hạng người thứ hai ở trong chốn tụ lạc thấy các nam nữ bị bịnh rất nặng, hấp hối rồi bị mạng chung; thấy việc ấy rồi, sanh lòng nhàm lo, nhờ sự nhàm lo ấy, nên hết lòng tu thiện.  Ấy là bậc trượng phu điều thuận; cũng như ngựa roi mới chạm vào lông liền tuân ý chủ.  Hạng người thứ ba, mặc dù thấy trong chốn tụ lạc có nhiều người bịnh chết, không sanh tâm nhàm ghét; thấy mình có bà con thân tộc giúp đỡ, rồi họ gặp bịnh khốn khổ, bèn đến lúc mạng chung, vậy sau mới xét trong pháp thế gian sanh lòng nhàm ghét, nhờ sự nhàm ghét, siêng tu hạnh lành.  Ấy cũng là bậc trượng phu điều thuận; cũng như bị ngựa roi quật đến thân, rồi mới tuân theo ý chủ.  Hạng người thứ tư, mặc dù đã thấy có thân tộc giúp đở mìnhj, rồi họ bị bịnh chết mất, nhưng không sanh tâm nhàm chán; đợi đến lúc chính mình thọ bịnh, chịu rất nhiều khổ não, gần đến mạng chung, sau đó mới sanh tâm nhàm chán, do sự nhàm chán mới tu các hạnh lành.  Ấy cũng có thể gọi là hạng người trượng phu hay điều phục; cũng như bị roi đánh thấu thịt thấm xương, rồi mới lo sợ, theo ý của chủ nhân……

(Trích kinh Biệt Dịch Tạp A Hàm, quyển thứ 8, thời 5, tờ 51, bên mặt).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Những bậc trượng phu :  chữ bậc là phương pháp đưa người đến bờ bên kia.  Bậc truợng phu nhờ nhận rõ lý vô thường mà qua đến bốn loại bờ bên kia vậy.

 

 

Mục   III   -    KHỔ

 

  1. Tướng họa phước vô thường

 

            Đa số người đời không tin làm lành được lành, làm đạo đắc đạo; không tin người chết rồi sanh lại, bố thí được phước; những việc thiện ác đều không bao giờ tin; họ cho rằng tất cả đều mơ màng, không có gì thật tế.  Cùng nhau sống để hưởng thụ.  Tu nhơn tích đức già đời cũng chết !  Cùng sống tự do tạo tác, cha truyền con nối, tiền nhân tổ phụ đều không làm lành, không biết gì tội phước báo ứng.  Thân ngây thơ tâm mờ ám, ý chí điên cuồng, con đường sinh tử, các việc thiện ác, tự họ không thấy được mà cũng không cần tìm hiểu; tốt xấu họa phước không biết phân biệt cứ nhắm mắt làm càng, đến đâu hay đó.  Con đường sinh tử, những cảnh thiện ác, triển chuyển tạo thành; hoặc cha khóc con, hoặc con khóc cha, anh em, vợ chồng, lẫn nhau than khóc; họ điên đảo gây nghiệp, căn bản vô thường, đều do đời quá khứ, không thể bảo trì trường tồn.  Những lời về đạo lý, họ không chịu tin, do đó nên bị sinh tử lưu chuyển, không khi nào thôi dứt.  Những người như thế mờ tối đến chỗ cùng tột, không bao giờ tin tưởng kinh pháp, tâm không chịu lo xa, mỗi việc đều muốn cho toại ý.  Mê lầm con đường ái dục, không thông hiểu đạo đức, đắm chìm trong sự giận tức, tham lam tài sắc.  Không biết khi nào họ mới thức tĩnh, mãi chịu khổ trong đường ác, không bao giờ giải thoát được con đường sinh tử.  Thật là đáng thương xót !

            Hoặc đôi khi trong gia đình cha con, anh em, chồng vợ, khi chết lúc sanh, thương xót lẫn nhau; ân ái quyến luyến, lo nghĩ mọi sự ràng buộc, tâm ý rất là đau khổ, cùng nhau luyến ái hoặc có khi trái ý nghịch lòng, trãi ngày dồn tháng, không bao giờ giải quyết xong.  Những lời dạy về đạo đức, tâm thần khó mở mang; suy nghĩ việc đời thì dễ dàng đắm nhiễm, nhất là không bao giờ rời tình dục, màng vô minh ngăn che dày đặc làm cho tâm hồn luôn luôn mờ tối; không thể nghĩ sâu về đạo lý, tâm làm sao đoan chính, chuyên tinh hành đạo để mà quyết chí đoạn hẳn việc đời, rốt cuộc không ích gì cho mình cũng như cho đời thì làm sao mà đắc đạo.  Thật đáng xót thương !  Tất cả việc làm rối tâm đều do ái dục đứng đầu.  Người mê lầm thì quá đông, kẻ giác ngộ lại ít, thế gian điên đảo không thể vào đó nương nhờ, tôn ti thượng hạ, nghèo giàu, sang hèn đều nằm trong biển khổ, trong mỗi lúc đều tạo sự sát độc.  Ác khí bao trùm do các việc vọng động phát khởi trái ngược sự tự nhiên của trời đất, không theo lương tâm của con người, cứ gây các sự quấy ác, hành động buông lung, tội ấy đưa đến chỗ cùng cực, mạng sống lâu chưa hết, liền bị cướp đoạt.  Khi vào nơi đường ác, nhiều kiếp họ chịu khổ lụy, xoay dần trong ấy vài nghìn ức kiếp, khó mà cầu ra khỏi, sự đau khổ khó mà diễn tả.  Rất đáng thương xót !

(Trích kinh Vô Lượng Thọ :   SukhàvativyùhaSùtra, quyển hạ, địa 8, tờ 24, bên phải và trái).

 

  1. Cái gì khổ nhất ?

 

            Ngày xưa đức Phật ở tại tịnh xá, thuộc nước Xá-Vệ.  Lúc bấy giờ có bốn vị tỳ-kheo ngồi dưới gốc cây cùng nhau vấn đáp : “Tất cả việc trong thế gian, cái gì khổ nhất ?”  Một vị trả lời : “Sự dâm dục là khổ nhất trong thiên hạ”.  Vị thứ hai : “Sự giận tức là khổ nhất trong thế gian”. Vị thứ ba : “Sự đói khát là khổ nhất trong thế gian”.  Tỳ-kheo thứ tư : “Sợ hãi là khổ nhất trong trời đất”.  Bốn vị tranh nhau cải mãi không thôi về vấn đề cái gì khổ nhất trong thế gian.

            Đức Phật nghe biết liền đến chỗ ấy hỏi các tỳ-kheo tranh luận về việc gì.  Các vị làm lễ và bạch lại các việc cho đức Phật nghe.  Đức Thế-Tôn dạy : “Tỳ-kheo ! các ông luận không chịu xét nghĩa gốc của khổ; nỗi khổ nhất trong thiên hạ, chính là do có xác thân, đói khát lạnh nóng, giận tức sợ sệt, sắc dục oán họa v.v… đều do ở thân.  Luận về thân, nó là gốc của sự khổ, nó là nguồn gốc của sự hoạn họa; lao tâm nhọc trí, lo buồn muôn mối; trong ba cõi xáo trộn, tàn hại lẫn nhau, mỗi loài bị ràng buộc đắm trước, con đường sinh tử không bao giờ chấm dứt.  Đều do có thân; muốn lìa các khổ ở thế gian, cầu được tịch tịnh.  Mỗi người phải nhiếp tâm giữ chánh niệm, mặc nhiên không vọng tưởng, sẽ được trở về cãnh giới nê-hoàn (1).  Ấy là nguồn vui tối thượng.  Lúc ấy đức Thế-Tôn liền nói bài kệ rằng:-

 

“Nóng nảy không gì hơn dâm dục,

Độc hại không gì hơn giận tức,

Khổ não không gì hơn thân mạng,

An vui không gì hơn tịch diệt.

Không nên vui những việc vui nhỏ,

Người biện luận ít, ít có huệ;

Quán sát kỹ tìm cầu việc lớn,

Mới được nhiều an vui vĩ đại.

Ta đã là Thế-Tôn trong đời,

Chánh độ ba cõi (2) vượt bến mê,

Hàng phục quân ma trừ nhiệt não”.

(Trích kinh Pháp Cú Thí Dụ  :  Dhammapada Sùtra, phẩm An-Ninh thứ 3, tạng 6, tờ 81, bên trái).

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Nê Hoàn  :  Nirvàna  : Niết Bàn, cảnh an vui, giải thoát.
  2. Ba cõi  :  tức là cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc.  Chúng hữu tình mê muội cho sự tồn tại của tam giới.

 

 

  1. Khổ nào nặng nhất trong thế gian ?

 

            Lúc bấy giờ có năm vị tỳ-kheo thông thái, đều gọi là tinh tấn lực, ở dưới gốc cây trong rừng núi, nhàn tịch cầu đạo.  Khi ấy có bốn con thú, nương nhờ bên cạnh thường được an ổn.  Ấy là một con bồ câu, một con quạ, một con rắn độc và một con nai.  Bốn con thú ấy ban ngày đi kiếm ăn, tối lại trở về.  Một đêm nọ bốn con thú cùng nhau đưa ra câu hỏi : “Khổ trong thế gian, loại nào nặng nhất ?” Con quạ nói : “đói khát khổ nhất.  Lúc đói khát thân ốm mắt mờ, thần thức không yên ổn; khi gieo thân vào lưới, không còn thấy nguy hiểm; chúng tôi tan nát thân mạng cũng đều do sự đói khát, tìm kiếm món ăn.  Tóm lại, đói khát là một việc hết sức khổ”.  Con bồ câu tỏ bày ý kiến : “Dâm dục rất khổ, sắc dục hừng thạnh, mọi việc mù quáng cho đến nổi nguy thân diệt mạng đều do nổi khổ dăm dục”.  Con rắn độc nói : “Giận tức rất là khổ, một khi lửa giận nổi lên, không kể thân sơ; nhiều lúc giết hại người, cũng có khi tự sát”.  Cuối cùng con nai phát biểu ý kiến : “Sự sợ hãi là mối đe dọa khổ nhất, tôi đi dạo trong rừng, mắt cứ dớn dác, lo sợ các người thợ săn và các loài beo sói, mỗi khi nghe tiếng động, lén lút chạy trốn, mẹ con phải giúp nhau, tim gan gần như xé nát.  Tóm lại, sợ hãi thật là khổ lụy.”

            Các tỳ-kheo nghe biết liền bảo bốn con thú rằng : “Các ý kiến của bốn huynh đệ bàn luận đều là nhánh ngọn của sự khổ; các vị không chịu xét đến gốc khổ.  Nguồn gốc khổ trong thiên hạ là do xác thân; thân là túi đựng các sự khổ não, lo ngại đủ điều cũng là cái thân.  Vì thế, nên chúng tôi bỏ thế tục học đạo, diệt ý thức đoạn vọng tưởng, không ham xác thân tứ đại, đoạn hẳn nguồn gốc khổ đau, chí hướng tìm cầu cho được Niết-bàn.  Cảnh giới Niết-bàn tịch diệt không hình tướng, dứt hết các vấn đề lo nghĩ, cầu mong an lạc rộng lớn”.

            Bốn con thú nghe rồi tâm khai ý hiểu, trực nhận gốc khổ là do nơi thân mạng.

(Trích kinh Pháp Cú Thí Dụ, phẩm An Ninh thứ 3, tạng 6,tờ 81, bên trái).

 

  1. Chết là khổ

 

            Chết tức là xã xác thân đã thọ.  Khi xã báo thân có hai cách :  một là mạng căn hết rồi chết.  Hai là do duyên nghiệp bên ngoài mà chết.  Mạng căn hết rồi chết cũng có ba cách :  một là thân mạng tàn, không phải phước hết.  Hai là do hết phước, chẳng phải mạng hết.  Ba là phước mạng đều hết.  Do duyên nghiệp bên ngoài bị chết lại có ba thứ : một là chết không phải số phần hại mình; hai là chết ngang trái vì người khác; ba là đều bị cả hai.

            Lại nữa có ba loại chết khác  :  một là chết phóng dật;  hai là chết phá giới; ba là chết hoại mạng căn.  Thế nào gọi là chết phóng dật ?  Nếu có ai hủy báng đại thừa, Phương Đẳng, bát nhã ba la mật.  Gọi là chết phóng dật.  Chết phá giới là như thế nào ?  tức là hủy phạm các giới cấm mà các đức Phật đời quá khứ hiện tại đã tạo dựng cũng như chư Phật đời vị lai sẽ tạo dựng gọi là chết phá giới.  Thế nào gọi là chết hoại mạng căn ? Bỏ xác thân ngũ ấm, nên gọi là chết hoại mạng căn.  Do đó nên thường gọi chết là đại khổ.

(Trích kinh Đại Bát Niết Bàn :   Mahàparinirvàna sùtra, phẩm Thánh Hạnh thứ 12, dinh 5, tờ 60, bên mặt).

 

  1. Khổ thuộc bên khác

 

            Nếu tất cả việc xảy ra cứ cho la thuộc kẻ khác thì sẽ chuốc lấy sự khổ não thêm; trái lại nếu các việc xảy ra đều nghĩ do nơi mình, thì sẽ đi đến tụ tại an lạc.

(Trích kinh Đại Bát Niết-bàn, phẩm Chúng Sở vấn thứ 16, Dinh 5, tờ 53, bên trái).

 

Mục   IV   -  Phiền Não

 

  1. Phật Pháp độ thoát 84.000 phiền não

 

            Đức Phật bảo Bồ Tát Hỷ Vương :  có 2.100 (1) các pháp độ thoát không cùng cực, thuyết pháp giáo hóa cho những người tham lam và dâm dục; có 2.100 các phương pháp độ thoát không cùng tột, thuyết pháp khai hóa các hạng người giận tức, tà kiến, có 2.100 các pháp độ thoát cùng cực, nói pháp khai ngộ các hạng si mê mờ tối; có 2.100 pháp độ tận chúng sanh, thuyết pháp huấn hố, khai hóa các hạng đẳng phần.   Hợp lại tất cả có 84.000 các pháp độ thoát không cùng cực, một tăng thành 10, hợp lại thành (2) 84.000 các phương pháp độ thoát chúng sinh.

            Đức Phật là vị Y Vương vì tất cả chúng sinh trong 3 cõi đã cấp cho một loại pháp dược vô thượng.  Chủ ý trị lành những chứng tâm bịnh “ấm cái ba độc”, tiêu trừ các chứng “phản nghịch đẳng phần” (3), không phản ngược lại người đó, nên nhìn thấy sự hóa đạo đều giải thoát.  Không tuân hành 84.000 các pháp độ thoát tột cùng nầy, dù muốn giúp trăm nghìn người trừ các cấu nhiễm trần lao (4), cho đến muốn tu tập 84.000 các pháp thiền định, cũng khó thành tựu được.  Vì thế cho nên thành lập các nghĩa thiết yết 84.000 phương pháp thật hành để hóa đạo trăm nghìn hạng người, tiêu trừ 84.000 các cấu nhiễm trần lao, đưa đến 84.000 các pháp môn thiền định.  Do đó, nên nói Phật giáo đi sâu vào chỗ vi diệu để khai thác toàn diện “nhất thiết trí”.

(Trích kinh Hiền Kiếp  :   Bhadrakalpa sùtra, quyển thứ 6, phẩm bát đẳng, huỳnh 4,tờ 36, bên mặt).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. 2.100  :  một đời truyền giáo của đức Phật có 350 pháp môn, mỗi môn đều có pháp lục độ, hợp thành 2.100.
  2. 84.000 :  Đây 2.000, mỗi phần có 4 loại :  tham dục, giận tức, ngu si và đẳng phần, hợp lại thành 84.000, họp chung với 10 thừa thành 84.000.  Trong kinh Phật thường dùng số 84.000 phiền não, đồng thời do đó mà có số 84.000 pháp môn để đối trị.
  3. Đẳng phần  :  các phiền não quân bình ba độc :  tham, sân, si.
  4. Trần lao:   tên khác của phiền não vậy.

 

 

  1. Oán hại của phiền não chịu vô lưông thân

 

            Ai muốn diệt oán hận, trước phải diệt trừ phiền não.  Oán của phiền não hại vô lượng thân.  Oán của thế gian mặc dù nặng, chính hại chỉ một thân; oán của phiền não hại đến pháp thân thiện niệm.  Oán trong thế gian mặc dù khốc liệt nhưng chỉ hại sắc thân hữu lậu ô uế mà thôi.

(Trích kinh Tạp Bửu Tạng, quyển thứ 2, túc 10, tờ 11, bên mặt).

 

  1. Khi đèn trí chiếu, phiền não không thể trụ :

 

            Cũng như trăm ngàn năm, có một ngôi nhà rất tối tăm, không bao giờ có ánh sáng của đèn; ngôi nhà rất tối ấy, không có cửa nẽo, cho đến không có một tia ánh sáng, dù là nhỏ như mũi kim cũng không có.  Yến sáng mặt trời, mặt trăng không thể nào soi thấu được.  Nầy Ca Diếp !  Nếu trong nhà tối, đốt lửa thắp đèn sáng, bóng tối ấy có thể tự nói rằng : “Ta ở đây trăm nghìn năm, nay ta không thể đi !  Có thể nói như thế được không ?”  Ca Diếp bạch Phật rằng : “Không thể như thế, bạch Thế-Tôn !  Đương khi đèn sáng, bóng tối kia liền tan”.  Đức Phật nói : “Cũng như thế đó, nầy Ca Diếp !  trăm ngàn muôn ức kiếp, mình đã tạo các nghiệp chướng, một khi tin lời Phật dạy, hiểu biết pháp duyên khởi, tu tập quán sát, thật hành giới định huệ, quán các pháp vô ngã, vô mạng, vô nhơn, vô trượng phu v.v….. ta nói những người ấy là những người không phạm, không chỗ, không gây.  Nầy Ca Diếp !  Vì lẽ đó, nên phải biết khi diệt trừ các phiền não v.v….đèn trí huệ soi đến, bóng tối tội lỗi không thể nào tồn tại.”

(Trích kinh Đại Phương Quảng Như Lai Bí Mật Tạng, quyển hạ, vũ 10, tờ 7, bên trái và bên phải).

 

 

Mục   V   -  Luân Hồi

 

  1. Nhơn ái dục mà có luân hồi:

 

           Các thiện nam !  tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay, vì có các thứ ân ái tham dục, nên có luân hồi.  Các thế giới tất cả chủng tánh, noãn sinh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, đều do dâm dục mà có tánh mạng.  Các vị phải biết, cội gốc luân hồi đều do ái dục mà ra.  Vì có các dục tình, giúp đở phát ra tình ái, nên hay khiến sự sinh tử tương tục.  Lòng dục nhân ái mà sinh ra mạng, nhân tham dục mà có, chúng sinh ái mạng lại nương nơi dục làm căn bản.  Ái dục là nhân.  Ái mạng là quả.

(Trích kinh Viên Giác, thiên 11, tờ 90, bên mặt).

 

  1. Niệm niệm tương tục luân hồi:

 

            Các thiện nam ! tất cả thế giới, thỉ chung sinh diệt, trước sau có không, tụ tán khởi dừng, niệm niệm tương tục, tuần hoàn qua lại, các thứ thủ Xả, đều là luân hồi.  Ai chưa ra vòng luân hồi, mà biện nói tánh viên giác, thì tánh viên giác kia, tức đồng lưu chuyển; nếu ra khỏi luân hồi thì không có lý.  Ví như con mắt động, hay thấy nước xao, lại cũng như mắt yên nhìn thấy vòng tròn lửa xoay; mây bay mặt trăng chuyển vận, thuyền đi bờ đời, cũng lại như thế.

(Trích kinh Viên Giác, thiên 11, tờ 90, bên mặt).

 

  1. Tên nhợn ái trước:

 

“Chặt cây không đào rễ,

Dù chặt vẫn mọc lại;

Đoạn ái không đoạn gốc,

Thường bị khổ lại sinh.

Cũng như tên mình tạo,

Lại tự hại thân mình;

Tên trong cũng như thế,

Tên ái hại chúng sinh”.

(Trích kinh Xuất Diệu  :  Avadànasùtra,  phẩm  Ái thứ 5, tạng 5,tờ 58).

 

  1. Sinh lão cùng nhà cửa :

 

Sống chết có nhiều vô lượng,

Đến đi đi đến không nhường thời gian,

Người tìm nhà cửa (1) xóm làng,

Thường chịu quả báo con đàng đầu thai.

Ai xem nhà cửa bản lai

Lại không nên tạo lâu đài thế gian,

Cột keo (2) hư hoạn ngổn ngang,

Lâu đài xây dựng, hoạn tan chắc gì !

Tâm ta đã bỏ lồi đi (3)

Giờ đây chỉ biết vô vi trở về …..

(Trích kinh Xuất Diệu :   Avadànasùtra, quyển thứ 28, phẩm Tâm Ý, tạng 6, tờ 47, bên mặt).

 

LƯỢC GIẢI :

 

  1. Nhà cửa  :  thí dụ cho thân thể mỗi người.
  2. Cột kèo :  thí dụ cho phiền não hành nghiệp.
  3. Lối đi  :  Nói về động hướng bên trong do vô minh phát khởi.

 

Mục   VI   -   Phật Tánh

 

  1. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh :

 

            Phàm người có tâm, quyết định sẽ chứng đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì nghĩa ấy, nên ta thường nói : “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”.

(Trích kinh Đại Bát Niết-Bàn  :   Mahàparinirvàna, quyển thứ 27, phẩm Sư Tử Hẩu, dinh 6, tờ 31, bên trái).

 

  1. Phật tánh cùng ngã :

 

            Những người trong thế gian cũng nói có ngã (1);  trong giáo pháp của Phật, cũng nói có ngã.  Các người trong cõi đời, mặc dù nói có ngã, nhưng không nói có Phật tánh; như thế thì gọi là ở trong cái không ngã, rồi tướng sanh ra ngã.  Ấy là điên đảo.  Trong Phật pháp nói có ngã.  Tức là Phật tánh.  Người đời cho Phật giáo nói vô ngã, ấy là vô ngã sinh tướng vô ngã.  Nếu nói Phật giáo quyết định vô ngã tại sao Như Lao, sắc chỉ các hàng đệ tử tu tập vô ngã, thật là điên đảo.

(Trích kinhb Đại  Bát Niết Bàn  :   Mahàparinirvàpa sùtra, quyển thứ 7, phẩm Như Lai Tánh, dinh 5, tờ 37, bên mặt).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Ngã  :  Người trong thế gian nói, tức là linh hồn.  Trong kinh nói “ngã”, có nghĩa là Phật tánh, phá trừ quan niệm linh hồn thông thường, nhưng chỉ dùng danh từ vô ngã để nói.  Do vô ngã để tiến đến tư tưởng đại ngã.  Tức là Phật tánh.  Đây là chữ ngã đã nói trong các kinh vậy.

 

 

  1. Phật tánh chẳng có cũng chẳng không:

 

            Phật tánh của chúng sinh, chẳng phải có chẳng phải không.  Vì sao ?  Vì Phật tánh tuy có, chẳng phải như hư không.  Tại sao ?  Tại hư không trong thế gian, mặc dù dùng không lường thiện xảo phương tiện, không thể thấy được;   Phật tánh có thể thấy.  Vì thế, nên tuy có không phải như hư không.  Phật tánh tuy không, chẳng đồng với sừng thỏ.  Do đó, nên nói Phật tánh chẳng có, chẳng không, cũng có cũng không.  Thế nào gọi là có ?  Tất cả mọi loài đều có, các chúng sanh tánh biết không đoạn, không diệt, cũng như ánh đèn, cho đến chúng đạng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.  Thế nên nói có.  Tại sao nói là không ? -  Tất cả chúng sanh còn đang mê lầm, hiện tại chưa có Thường Lạc Ngã Tịnh trong Phật Pháp; thế nên gọi là không.  Vì có và không hài hòa tương hợp, tức là trung đạo.

(Trích kinh Đại Bát Niết-Bàn, quyển thứ 35, dinh 6, tờ 70, bên trái).

 

  1. Tất cả thiện ác, vô ký (1) đều gọi Phật tánh:

 

            Các thiện nam !  Luận về Phật tánh, không gọi là một pháp, không gọi là mười pháp, không gọi là trăm pháp, không gọi là nghĩa pháp, không gọi là muôn pháp.  Khi chưa chứng đặng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tất cả thiện bất thiện cùng vô ký  đều gọi là Phật tánh.

(Trích kinh Đại Bát Niết-Bàn, quyển thứ 36, phẩm Ca Diếp, dinh 6, tờ 77, bên trái).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Vô ký  :   Avyàkhyàta, không ghi llà thiện hay lá ác.

 

 

Mục   VII   -   Bản Lai Thành Phật

 

  1. Giác tánh cùng khắp :

 

            Các thiện nam !  tánh giác cùng khắp thanh tịnh không biến động, vì nó tròn đầy thúc phược viên mãn, phải biết sáu căn (1) cùng khắp pháp giới.  Vì căn nó cùng khắp, nên biết sáu trần (2) cùng khắp pháp giới.  Vì trần cùng khắp, nên phải biết bổn đại (3) cũng cùng khắp trong thế giới.

            Các thiện nam !  Do bản tánh diệu giác (4) kia cùng khắp căn tánh, trần tánh không bao giờ hoại và tạp loạn.  Vì căn trần không hoại, như thế cho đến môn đà la ni (5), không hoại không tạp.  Cũng như trăm nghìn ngọn đèn, yến sáng chiếu soi trong một nhà; ánh sáng kia cùng khắp, không khi nào hoại và xen tạp.

            Các thiện nam !  Vì tánh giác sẳn thành tựu phải biết các vị Bồ Tát, không cùng pháp phược (6), không cầu pháp giải thoát, không ngán sự sanh tử, không ưa thích niết-bàn, không kính người giữ giới, không ghét kẻ úy phạm giới cấm, không tôn trọng kẻ nghiên cứu lâu mà cũng không bao giờ khinh chê kẻ mới học.  Vì sao ?  Vì tất cả nằm trong tánh giác.  Ví như yến sáng của mắt, rõ ràng các cảnh trước mắt, ánh sáng kia tròn đầy, không bao giờ có sự tấn ái.  Vì sao. ?  Vì thể của ánh sáng không hai, không bao giờ có thương ghét vậy.

(Trích kinh Viên Giác; thiên 11, tờ 89, bên trái).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Sáu căn : sáu giác quan là mắt, tai, mũi, lữi, thân, ý.
  2. Sáu trần :  tức là sáu cảnh sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, đối tượng là sáu căn vậy.
  3. Bổ đại  :  bốn yếu tố của đất, nước, gió, lửa.  Nó tạo thành thế giới cùng muôn loài, nên nói là đại.
  4. Bản tánh diệu giác :  Bản tánh cùng Phật tánh đồng, Phật táng cùng khắp, như trong kinh Niết-bàn đã  nói : Phật tánh cùng khắp nầy, khi tỉnh ngộ, liền nhận thấy trong tất cả trời đất đều là diệu dụng vô ngại.
  5. Môn đà-la-ni  :  Dhèrani dịch là tổng trì, cửa đặt biệt của trí tuệ.
  6. Pháp phược :  Pháp là vạn pháp tức là muôn loài chúng sinh.  Tâm còn chấp trước tức là bị ràng buộc trong muôn sự vật vậy.

 

 

  1. Bản giác của chúng sinh :

 

            Một hôm ngài Vô Trụ Bồ Tát bạch đức Phật rằng : “Thưa Thế-Tôn ! có cách nào để chuyển tất cả tỉnh thức của chúng sinh vào yêm-ma-la (1) ?”  -  Đức Phật trả lời : “Các đức Phật, Như Lai thường dùng sự toàn giác, để chuyển các thức vào trong yêm-ma-la.  Vì sao ?  Vì bản giác (2) của tất cả chúng sinh, thường dùng một giác (3) ngộ; giác ngộ của chúng sanh, khiến cho chúng sinh kia đều được bản giác (2), hiểu biết các tỉnh thức, vắng lặng không sinh.  Vì cớ nào ?  Vì bản tính quyết định, vốn không có động ….”

(Trích kinh Kim Cang Tam Muội  :   Vajrasamàdhi sùtra,  phẩm Bổn Giác Lợi, dinh bốn, tờ 57, bên mặt).

 

LƯỢC GIẢI:

 

  1. Yêm-ma-la  :  Amala, dịch là vô cấu, hoặc gọi là thức thứ chín, tức là chơn như thức, thức nầy hoàn toàn thanh tịnh vậy.
  2. Bản giác :  Sự giác ngộ của từ xưa đến nay, tức là chơn như vậy.
  3. Một giác ngộ  :  tự giác “Bản giác của tất cả chúng sinh”.  Ấy là một giác ngộ, đây là bản giác tự giác, tức là thỉ giác vậy.  Cứu cánh của thỉ giác, tức hiệp nhứt với bản giác.

 

 

  1. Bản lai thành Phật :

 

            Các thiện nam ! Bồ Tát đây và chúng sinh thời mạt pháp, tu tập tâm nầy được thành tựu viên mãn, đối với tâm nầy không chịu tu dưỡng, thật khó thành tựu !  Tánh viên giác khắp soi, vắng lặng không hai.  Ở trong muôn nghìn trăm ức thế giới, các đức Phật nhiều vô số, không có cách gì tính kể được, cũng như hoa đốm giữa hư không, loạn khởi loạn diệt, không tức không ly, không ràng buộc, không giải thoát; thế mới biết tất cả chúng sinh, bản lai thành Phật, sanh tử cùng niết-bàn cũng như giấc mộng.

            Các thiện nam  !  Vì như giấc mộng, nên biết sanh tử cùng niết bàn, không khởi không diệt, chẳng lai chẳng khứ; người đã chứng ngộ, không đặng không thất, chảng thủ, chẳng xa; người hay chứng ngộ, không tru không chỉ, không tạo tác mà cũng không hoại diệt.  Ở trong sự chứng ngộ nầy, không năng không sở, rốt ráo không chứng, cũng không pháp để chứng.  Tất cả pháp tánh, bình đẳng không hoại diệt.

(Trích kinh Viên Giác, thiên 11, tờ 90, bên mặt).

 

 

Hết Phần Một của Chương Bốn

Pd Phuong An

                                                           

 

 

 

 

 

 

 

 

             

 

 

           

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn