Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bát Nhã Tâm Kinh

11/10/201815:57(Xem: 9)
Bát Nhã Tâm Kinh

BÁT NHÃ

TÂM KINH

(Prajnaparamitahridaya Sutra)

Hòa Thượng Thích Duy Lực dịch Việt

GI ẢI NGH ĨA

Toàn Không Đỗ Đăng Tiến

 

GIẢI NGHĨA ĐỀ KINH:

Chúng ta phân tích giải nghĩa Bát Nhã Tâm Kinh, chữ nghiêng đậm là lời Phật nói, chữ đứng ngay là giải thích toàn bài Kinh, chúng ta cùng theo dõi:

 

ĐỀ KINH:

 

BÁT NHÃ TÂM KINH

 

BÁT NHÃ TÂM KINH nói cho đầy đủ là MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT TÂM KINH.

 

MA HA: Là lớn nhưng không phải là đối với nhỏ mà nói lớn, mà là vượt khỏi số lượng.

 

BÁT NHÃ: Là Trí Huệ, Bát nhã là loại trí tuệ siêu thiện ác, vô phân biệt, thanh tịnh rỗng lặng, nó là thứ trí tuệ sâu xa vi diệu. Trí Huệ nầy không phải như Trí tuệ của thế gian là trí tuệ của bộ óc cần phải qua sự chú tâm (tác ý) mới dùng được, còn Bát Nhã của bản thể tâm (Tự Tính) thì không cần sự chú tâm. Bát Nhã là Trí Huệ của bản thể Tâm sẵn đầy đủ khắp không gian thời gian, chẳng có thiếu sót chướng ngại, cái Dụng của bản thể Tâm tự động chẳng cần tác ý, tùy cơ ứng hiện chẳng sai mảy may. Để đạt được Bát Nhã phải hành trì Lục Độ Ba La Mật, gồm: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ.

 

BA LA MẬT ĐA: Đáo bỉ ngạn. Nghĩa là tới bờ bên kia, vượt từ sinh tử khổ não đến nơi an vui Niết Bàn. Nếu chúng ta phát huy được cái đại Dụng của BÁT NHÃ thì được đạt đến bờ bên kia là chỗ tự do tự tại, không có khổ não, không còn sinh tử.

 

TÂM: Chữ TÂM biểu tượng cả chân tâm lẫn vọng tâm, cả chính tâm lẫn tà tâm; còn Bản Tâm tức là Tự tính, Tự tính là bình đẳng Không Hai (Bất Nhị), Tâm cũng tức là hư không pháp giới. Nhưng tâm của chúng ta hiện nay là gốc toàn bộ sinh hoạt của tâm trí, do đó thế giới hiện tượng xuất hiện, trong đó có muôn nghìn hình dạng dung mạo, muôn nghìn cảm thụ, muôn nghìn nghĩ nhớ, muôn nghìn ý muốn, muôn nghìn cái biết, muôn nghìn sai biệt.

 

 KINH: Kinh là các đường chỉ dọc của vải làm chuẩn cho tấm vải, tượng trưng cho giáo pháp không đổi thay, luôn luôn nó như vậy; Phật nay giảng như thế này, Phật quá khứ cũng đã giảng như thế, Phật trong tương lai cũng giảng như vậy, không bao giờ thay đổi gọi là Kinh.

 

TÂM KINH này có mục đích là muốn làm cho tất cả muôn ngàn cái tâm sai biệt đều đạt đến chỗ hoàn toàn không sai biệt được bình đẳng thanh tịnh, tức là hồi phục lại cái Không Hai của Tự tính. Kinh này chỉ rõ đường lối tu hành cho chúng ta, dạy chúng ta y theo đó mà thực hành để đạt đến chỗ chẳng phải một chẳng phải hai (Bất Nhất Bất Nhị).

 

Bát Nhã Ba La Mât Đa Tâm Kinh: Gọi tắt là Tâm Kinh, Bát Nhã Ba La Mật Đa là trí huệ qua b bên kia (đáo bỉ ngạn), tức là giác ngộ giải thoát khỏi sinh tử luân hồi khổ đau. Kinh này là phần kinh ngắn nhất trong bkinh Đại Bát Nhã, là một trong những kinh văn quan trọng nhất trong Phật giáo Bắc truyền.

     Toàn kinh nêu ra Mười Tám Giới, Năm Uẩn, Mười Hai Nhân Duyên và Bốn Đế để trình bày lí các pháp đều Không, tức là Không Tính. 

 

GIẢI NGHĨA KINH:

 

1). THỨ NHẤT:

 

HÁN VIỆT: Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

VIỆT: Quán Tự Tại Bồ Tát sau khi đi sâu vào trí huệ Bát Nhã, soi thấy Năm Uẩn đều không, liền qua tất cả khổ nạn;

 

Quán Tự Tại Bồ Tát là quán sát Tự Tính Tự Tại của mình hay Quán Tự Tính Quán Âm của mình; nói cho rõ là quán Tự Tính Phật của mình.

 

Sau khi đi sâu vào trí huệ Bát Nhã:

Chữ Đi là thực hành quán chiếu, chữ Sâu (Thâm) này tức là vượt khỏi (siêu việt) số lượng, không phải đối với Cạn mà nói Sâu, cũng như chữ Đại của Kinh Đại Bát Nhã, không phải đối với Nhỏ mà nói Lớn, mà là vượt khỏi số lượng. Nếu có số lượng thì không gọi được là Sâu, nếu có số lượng thì không phải là trí huệ Bát Nhã.

 

Soi thấy Năm Uẩn đều không:

Soi thấy là chiếu rọi suốt qua.

Năm Uẩn là thân tâm con người gồm có: Thân: Sắc (hình dạng dung mạo vật chất); Tâm gồm: Thụ (cảm giác), Tưởng (nghĩ nhớ), Hành (hành vi cư xử), Thức (phân biệt nhận thức)

Không: Trước hết, để hiểu toàn bài Bát Nhã Tâm Kinh, chúng ta cần hiểu Không là gì, khi đã hiểu rõ chữ Không rồi thì sau đó phân tích sẽ hiểu dễ dàng hơn; có ba ý nghĩa:

1- Không là không có Tự tính.

2- Không có nghĩa là không cố định, là giả, không thật, huyển ảo.

3- Không là thực tại, vượt khỏi mọi ý niệm hoặc có hoặc không.

     Phật pháp nói chữ Không là để hiện ra cái Dụng tích cực của Tự Tính, chứ không phải là cái “không ngơ”, vì duyên hợp nên không phải là không ngơ, do chấp không ngơ tức là chấp “không” đối với “có”. Không đây cũng chẳng phải là “trống không” như hư không trống trơn, hoàn toàn trống rỗng, mà là không Tự Tính, tức là biến đổi không cố định, không thật, là Tính Không hay Không Tính.

     Tính Không là thể tính của tất cả các pháp là Không, do duyên hợp nên mới có tất cả các pháp. Thí dụ một pháp như cái xe chẳng hạn, người đời cho là Có, hư không trống rỗng thì cho là Không, nhưng sự thực cả cái xe và hư không đều không ngoài Tính Không.

Chứng minh: Trong Kinh A Hàm, Đức Phật dạy: “Tất cả các pháp không tự có, mà do duyên hợp mới thành” Do duyên hợp mới thành, nên không một pháp nào tự có nguyên thể của nó, mà đều từ cái không, do duyên hợp thành có, đây gọi là Tính Không. Như ban đầu không có cái xe, phải có bao nhiêu bộ phận khác nhau được ráp nối lại mới thành cái xe, đây là duyên hợp; khi cái xe hư hỏng hay bị tai nạn người ta tháo ra từng mảnh thì chẳng còn là cái xe nữa. Như thế, cái xe là không thật có, vì nếu thật có thì nó phải là có vĩnh viễn, do đó nó chỉ là tạm có, giả có, là hư dối mà thôi. Hơn nữa, nếu trong xe không có khoảng trống thì không có chỗ ngồi, không có khoảng trống thì xe không thể di chuyển được, như vậy thật sự cần phải có Tính Không mới được gọi là cái xe. Tất cả các pháp trong vũ trụ cũng đều tương tự như thế cả.

 

     Chữ Không nầy kỳ thực nói ra rất dễ hiểu, ví như một căn nhà, nếu không có cái Không (chổ trống) thì không ở được, một cái tủ không có cái Không thì chẳng thể để đồ được. Một cái tách nếu không có cái Không thì chẳng thể đựng nước trà được, nếu hai cái tách to bằng nhau, nhưng một cái mỏng sẽ có cái KHÔNG lớn hơn là cái tách dầy; cho nên có thể suy ra, bất cứ cái gì nếu không có cái Không thì chẳng thể dùng được.

 

     Muốn Dùng thì phải có cái Không, cái Không đến cùng tột thì cái Dụng cũng được đến cùng tột; cái Dụng của Tự Tính cũng như vậy, hễ Không đến đâu thì Dụng đến đó, Không đến vô cực thì Dụng đến vô cực, mà Dụng đến vô cực tức là Phật, cũng là hoàn toàn phát huy được cái Dụng của Bát Nhã. Đến lúc đó cái Đại Dụng, Toàn Dụng của Trí Huệ (Bát Nhã) cùng khắp hư không pháp giới, ánh sáng ấy chiếu đến đâu thì tất cả tai nạn khổ sở đều bị tiêu tan sạch”.

 

     Không này, kinh Lăng Nghiêm gọi là Không Như Lai Tạng, kinh Hoa Nghiêm gọi là Pháp Giới Tính, Pháp Thân; kinh Viên Giác gọi là Viên Giác, cái biết thường hằng viên mãn. Kinh Lăng Già gọi là Viên thành thật Trí hay Đại viên cảnh Trí. Thiền tông gọi là Tâm, Chân Tâm, Tự Tính, Phật Tính, Tâm Không, Tâm Ấn; Mật tông gọi là Kim Cương Giới, thế giới bản thể, tất cả đều biểu trưng cho chữ KHÔNG.

     Chữ Không trong “soi thấy Năm Uẩn đều không”, Năm Uẩn là năm nhóm tích tụ gồm “Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức” của Thân Tâm đều không có Tự tính. Vì Thân là Sắc gồm Tứ Đại “Đất, Nước, Gió, Lửa” luôn luôn biến đổi không thường hằng, nên không có chủ tể của mỗi thứ, do hòa hợp mà giả có, biến đổi, không thật nên là Không. Và Tâm gồm “Thụ, Tưởng, Hành, Thức”, mỗi thứ đều chứa tích tụ của Sáu Căn (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý” đối với Sáu Trần “Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp”, chúng luôn luôn thay đổi không cố định, không trường cửu, nên không có chủ tể, là giả không thật nên cũng là Không.

     Tất cả pháp thế gian đều không có cái gì cố định, mà thưng biến đổi, không thật nên là Không. Nếu chúng ta thấy rõ thân này về sinh lý vật chất cũng như tâm lý tinh thần đều là tướng duyên hợp biến đổi không cố định, thì sẽ biết thân này là hư dối không thật, là Không.

     Và những gì đến với cái thân hư dối không thật này thì cũng là hư dối không thật, như cái thân không thật này thấy dung mạo đẹp mà dung mạo cũng là giả có không thật, thì cái đẹp chỉ là Không mà thôi, ví như người huyển làm tuồng chẳng phải là tuồng thật. Như thế những gì đến với thân này dù là tốt xấu hay vui buồn v.v… cũng đều hư dối không thật, thì chẳng còn gì gọi là khổ ách nữa; nên nói “Soi thấy Năm Uẩn đều không, liền qua hết tất cả khổ nạn” là vậy.

     Khi tu hành phải hành trì theo đúng tinh thần Trí Huệ (Bát Nhã) là phá “chấp Có” và phá “chấp Không”, để không còn một tý dính mắc chấp thật Có hay chấp thật Không “cái ta” (ngã), “cái của ta” (ngã sở) và “vạn pháp” thì lúc đó mới có thể soi thấy Năm Uẩn đều không, được qua hết khổ nạn và giải thoát là vậy.

2). THỨ HAI:

HÁN VIỆT: Xá-lợi tử sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.

VIỆT: Này Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ tưởng hành thức cũng lại như thế.

 

     Đức Phật nói với Tôn giả Xá Lợi Phất (Này Xá Lợi Tử):

 

Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc:

 

     Câu này với ý so sánh giữa Sắc và Không.

Sắc là tất cả vật chất có hình có tướng, Không thì không phải là vật chất, hai cái khác nhau, nhưng ý của Kinh này thì nói Sắc, Không không hai (bất nhị), chẳng có khác biệt.

 

     Như Kinh Hoa Nghiêm nói: "Nhất Thiết Duy Tâm Tạo" (Tất cả đều là tâm thức), Sắc là do tâm tạo, Không cũng là do tâm tạo, hai cái đều không có Tự Tính. Nếu không chấp cái Sắc là thật thì Sắc tức là Không, không chấp cái Không là thật thì Không tức là Sắc; cũng là cái nghĩa không hai (bất nhị) của Tự Tính, hai cái vốn không khác biệt chỉ vì chúng sinh có bệnh chấp thật nên mới phân biệt có Sắc có Không.

 

     Nói cho dễ hiểu, Sắc là phần Thân Tứ Đại gồm Đất, Nước, Gió, Lửa là tướng duyên hợp thay đổi không cố định, không thật nên không khác với Không. Cho nên nói Sắc chẳng khác với cái Không cố định và cái Không cố định chẳng khác với Sắc.

Sắc tức là không, không tức là sắc:

     Ở đây, Đức Phật nói thẳng rằng: Nếu không chấp Sắc là thật, tức Sắc là Không, nếu không chấp Không là thật, tức Không là Sắc. Hoặc nói một cách khác: Chính Sắc biến đổi không cố định, là giả có không thật, tức Sắc là Không; chính Không biến đổi không cố định, là giả không thật, tức Không là Sắc.

 

Thụ tưởng hành thức cũng lại như thế:  

   Sắc Uẩn trong Ngũ Uẩn như vậy thì bốn Uẩn kia cũng như vậy, cho nên Kinh nói “Cũng lại như thế”, nghĩa là: Thụ, Tưởng, Hành, Thức, chẳng khác Không, Không chẳng khác Thụ, Tưởng, Hành, Thức; Thụ, Tưởng, Hành, Thức tức là Không, Không tức là Thụ, Tưởng, Hành, Thức.

Bốn thứ Uẩn này thuộc phần tâm lý hay tâm thức với ý nghĩa như sau:

 

1- Thụ là thọ, là cảm giác, lĩnh thọ, khi mắt tai mũi lưỡi thân ý sinh hoạt tiếp xúc với sắc thanh hương vị xúc pháp, rồi khi cảm thấy ưa thích gọi là thọ lạc, khi cảm thấy chán ghét gọi là thọ khổ; đây là Thụ Uẩn.

2- Tưởng là những nghĩ nh về các hình ảnh dung mạo, lời nói âm nhạc, mùi vị, cảm giác đã thấy nghe ngửi nếm, xúc chạm v.v…, những nghĩ nh về quá khứ hay tương lai đều thuộc về tinh thần gọi là Tưởng Uẩn.

3- Hành là những ý muốn làm (tác ý) sinh khởi bới suy tư, hành như là nguồn gốc bản năng ý chí do những nghiệp xưa khiến tạo ra những hành vi cư xử hành động. Vì vậy Hành có thể nói là đầu mối vận mệnh của mỗi người.

4- Thức là nhn biết phân biệt, như mắt thấy dung mạo là biết đẹp xấu, tai nghe tiếng hát là biết hay dở, mũi ngửi mùi là biết thơm hôi v.v. Do đó gọi Thức Uẩn là tri giác nhận diện sự vật.

     Không những Sắc Thụ Tưởng Hành Thức như vậy, mà vũ trụ vạn vật tất cả đều phải như vậy. Thí dụ lấy “ta” mà nói thì "Ta chẳng khác không, không chẳng khác ta, ta tức là không, không tức là ta".

 

     Cái nghĩa trong Kinh này cũng như “Nghĩa Ba Câu” trong Kinh Kim-Cang, suốt phần Tôn Giả Tu Bồ Đề hỏi Phật đều chẳng ngoài ý nghĩa ba câu như:

Hoặc: Bồ Tát có trang nghiêm cõi Phật, tức không phải là trang nghiêm; chỉ tạm gọi là trang nghiêm thôi.

 

Hoặc: Thân người to lớn như núi Tu Di thật là to lớn, nhưng không phải là thân to lớn, đó mới thực là thân to lớn.

Câu thứ nhất: Chấp thật

Câu thứ hai: Phủ định, phá, chống lại câu 1, lọt vào chấp không.

Câu thứ ba: Giả danh, tạm gọi thôi.

Câu thứ ba phá cả ba câu 1, 2, 3, vì cả ba đều là giả danh, nghĩa là bác bỏ chấp thật của câu 1, bác bỏ chấp không của câu 2, bác bỏ chấp điên đảo tưởng của câu 3,

 

     Còn áp dụng vào “Lià Tứ cú”, thí dụ về việc “Khởi niệm” thì:

Hễ: “Khởi niệm” thì lọt vào cú thứ nhất, "Không khởi niệm" lọt vào cú thứ hai, "Chẳng khởi niệm chẳng không khởi niệm" lọt vào cú thứ ba, "Cũng khởi niệm cũng không khởi niệm" lọt vào cú thứ tư, nên phải lìa Tứ cú.

3). THỨ BA:

HÁN VIỆT: Xá-lợi tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

VIỆT: Này Xá Lợi Tử, tướng không của tất cả các pháp, nó không sinh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt.

 

     Đoạn này dùng chữ Không để phá sạch Tri kiến chấp thật của mọi người Phàm phu chúng ta, như hầu hết mọi người đều phân biệt chấp “sạch dơ, đẹp xấu”, chấp “ngắn dài, thêm bớt”, chấp “phải trái, đúng sai”, chấp “sinh diệt, vui buồn” v.v…. Đây là sự đối đãi trong nguyên lý “Không hai” (Bất nhị), chúng được cấu tạo theo hai bên đối lập, các cặp này không có thực thể tồn tại độc lập, không cố định, nên chỉ dựa trên cơ sở của Không.

 

     Như ở trên đã nói "Nhất Thiết Duy Tâm Tạo" (Tất cả đều là tâm thức), cũng gọi là Không Tướng, cái Không Tướng đó chẳng phải chỉ Không những cái có hình tướng, mà cũng Không những cái vô hình tướng. Như thấy có chẳng phải thật có, thấy chân chẳng phải thật chân là Không Tướng, thấy không chẳng phải thật không, thấy giả chẳng phải thật giả, cũng là Không Tướng. Nói tóm lại, không có một pháp nào chẳng phải là Không Tướng, cái Không Tướng nầy chẳng phải đối với có mà nói không, nó không có đối đãi, không lọt vào tứ cú; hai chữ Không Tướng cũng là biệt danh của Tự Tánh vậy.

 

    Không Tướng này là Tướng biến đổi không cố định của Năm Uẩn “Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức”, cũng như Tướng biến đổi, không cố định của tất cả các pháp, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Vì nếu nói “sinh” tức là không biến đổi, cố định sinh, thì chẳng thể “diệt”, nếu nói “diệt” cũng là không biến đổi, cố định diệt, thì chẳng thể “sinh”, tất cả các thứ khác cũng đều như vậy.

4). THỨ TƯ:

HÁN VIỆT: Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.

VIỆT: Vì thế trong tướng không nó không có sắc, thụ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương vị, xúc, pháp; không có nhãn thức giới cho đến ý thức giới.

 

     Mụốn phá chấp thật của Phàm phu thì Phật bảo rằng cần phải thấy rõ không có Năm Uẩn (không có sắc, thụ, tưởng, hành, thức), không có Sáu Căn (không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), không có Sáu Trần (không có sắc, thanh, hương vị, xúc, pháp), không có Sáu Thức (không có nhãn thức giới cho đến ý thức giới). Chữ Không này chẳng phải là cái không của tuyệt diệt không ngơ mà là cái Không của "Không Thật"; bởi vậy ở đây dùng chữ Không để phá sạch ý thức thấy biết (Tri kiến) chấp thật của mọi người. Không Thật hay Không Tướng này là Tướng biến đổi không cố định, không phải là bất cứ một pháp nào cả. Nếu Tướng biến đổi không cố định này là bất kỳ cái nào trong Năm Uẩn, Sáu Căn, Sáu Trần và trong Sáu Thức, tức nó là cố định rồi; vì nó không phải là cái nào cả, nên nó mới không cố định vậy.

5). THỨ NĂM:

HÁN VIỆT: Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận;.

VIỆT: Không có vô minh, cũng không có hết vô minh cho đến không có già chết, cũng không có hết già chết.

 

     Câu này để phá 12 Nhân Duyên, vì tất cả pháp đều là Không Tướng, tức là chẳng phải thật, như Vô minh đã chẳng phải thật thì không có Vô minh để Hết (Tận), Già chết chẳng phải thật thì không có Già chết để hết; nhưng trước mắt chúng ta thấy có già, có chết thì làm sao nói chẳng phải thật được?! Hiện nay chúng ta thấy rõ ràng có sinh có tử, nhưng chẳng biết cái sinh tử đó là do cảm giác sai lầm của chúng ta sinh ra mà thôi. Tại sao?

 

Chứng minh: Trong Kinh Viên Giác Phật có nói: Do vọng tâm của chúng ta ngày đêm hoạt động không ngừng cho nên thấy có sanh tử luân hồi, cũng như thân mình xoay không ngừng thì thấy căn nhà xoay vậy. Căn nhà xoay tượng trưng cho sinh tử luân hồi, căn nhà ngưng xoay tượng trưng cho Niết Bàn. Cái xoay của căn nhà là do cái xoay của thân thể sinh ra cảm giác sai lầm như thế, căn nhà ngưng xoay dĩ nhiên cũng là do cảm giác sai lầm mà ra, bởi vì căn nhà có xoay hồi nào đâu mà nói căn nhà ngưng xoay? Do vọng tâm hoạt động thấy có sinh tử luân hồi và do vọng tâm ngưng hoạt động mà hiển hiện Niết Bàn (liễu thoát sinh tử) cũng là lý lẽ nầy vậy.

 

     Như thế chứng tỏ Mười Hai Nhân Duyên chẳng phải thật, mà hàng Duyên Giác chấp đó là thật, cho nên đoạn nầy dùng chữ Không để phá cái ý thức chấp thật của hàng Duyên Giác. 

6). THỨ SÁU:

HÁN VIỆT: Vô khổ, tập, diệt, đạo.

VIỆT: Không có khổ, tập, diệt, đạo.

 

     Câu nầy là phá hàng Thanh Văn, hàng Thanh Văn gọi Khổ, Tập, Diệt, Đạo là Tứ Thánh Đế, chúng ta ở trong sinh tử chịu đủ thứ Khổ, là do cái tâm tạp nhiễm tích tập, rồi tu hành đến khi cái khổ sinh tử được diệt, nên gọi là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Như đoạn trên đã nói: sinh tử là do cảm giác sai lầm của vọng tâm hoạt động mà sinh ra, thì Khổ, Tập, Diệt, Đạo này chẳng phải là thật, cho nên ở đây lấy chữ “Không” của Không thật, Không Tướng, biến đổi Không cố định, để phá cái ý thức chấp thật của hàng Thanh Văn. 

7). THỨ BẢY:

HÁN VIỆT: Vô trí diệc vô đắc, Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại. Vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố. 

VIỆT: Không có trí tuệ, không có chứng đắc, cũng không có chỗ được; Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, có tâm không ngăn ngại, vì tâm không ngăn ngại nên không sợ hãi.

 

     Câu này là phá hàng Bồ Tát của Bắc Truyền, nếu người tu Bồ Tát chấp Trí tuệ là thật, chấp chứng đắc là thật thì bệnh chấp thật vẫn còn, cho nên nói “Không có trí tuệ, không có chứng đắc”. Ý là không có Trí huệ cho mình đắc được (Vô Sở Đắc), nếu tất cả đều Không Chứng Đắc thì không mong cầu, không mong cầu thì tâm an, tâm an là được không động, tâm không động là tâm thanh tịnh, tâm được tịnh tĩnh thì cái Dụng của Bát Nhã tự hiển lộ, Dụng của Bát Nhã hiện ra thì đạt đến bờ bên kia, cho nên Kinh nói “Y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, có tâm không ngăn ngại”.

 

     Muốn làm cho tâm không ngăn ngại thì phải “Không có trí tuệ, không có chứng đắc”, nếu chấp có trí tuệ, có chỗ đắc thì sẽ bị cái trí tuệ cái chứng đắc ấy ngăn ngại rồi. Đã được tâm không ngăn ngại tức là tự do tự tại, thì đương nhiên “không sợ hãi”; đoạn nầy là phá sạch cái Tri kiến chấp thật có trí tuệ có chứng đắc của hàng Bồ Tát. 

8). THỨ TÁM:

HÁN VIỆT: Viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu kính Niết-bàn.  

VIỆT: Xa lià mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh Niết Bàn.

 

     Niết Bàn là vô sinh, tức không sinh chẳng diệt. Hai chữ Xa lià (Viễn ly) cũng là để phá, mấy đoạn trước lấy chữ Không để phá, đoạn nầy phá chấp thật Niết Bàn, tức là muốn phá cái Tri kiến chấp Phật (phá cái thấy biết thuần tịnh là thật), nên dùng hai chữ Xa Lià để nhấn mạnh thêm; nếu chấp có cứu cánh Niết Bàn thật để chứng nhập thì cái Tri kiến chấp thật này tức là điên đảo mộng tưởng, cho nên đoạn nầy “cứu cánh Niết Bàn”, cũng phải phá chấp thật Niết Bàn cho sạch sẽ luôn. 

 

     Trong kinh này, từ Phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cho đến Phật Thừa, chia làm năm đoạn để phá, phá tới sạch hết không còn gì để phá nữa rồi mới có tư cách thành Phật; như trong Kinh Kim Cang, phá tới phá lui nhiều lần như sau:

     Phật hỏi Tôn giả Tu Bồ Đề:

- Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, Như Lai được Vô thượng Chính đẳng Chính giác chăng, Như Lai có nói pháp chăng?

 

     Tu-bồ-đề thưa:

- Như con hiểu qua nghĩa Phật nói, không có pháp nhất định tên là Vô thượng Chính đẳng Chính giác, cũng không có pháp nhất định Như Lai có thể nói; vì cớ sao? Vì pháp Như Lai nói đều không thể chấp, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp; vì tất cả bậc Hiền Thánh đều do pháp vô vi (tùy thuận tự nhiên không có tạo tác) mà có sai biệt.

 

     Nếu thấy pháp Như Lai được Vô Thượng Chính Đẳng là thật thì cũng còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả …; vì nói thành Phật thì ai thành Phật, ta thành phải không? Thấy có pháp thành Phật thật thì phải có người thành Phật, đó là còn ngã, còn ngã thì còn nhân, còn chúng sanh, thọ giả; nếu thế Phật là phàm phu mất rồi! Nếu cho rằng “Phật có nói pháp thật” cũng không được, phàm những gì nói ra đều là tướng hư giả; ở đây chúng ta thấy nếu phá những cấp dưới thấp thì mọi người dễ chấp nhận, còn phá luôn cả Phật thì mọi người cảm thấy rất khó chấp nhận, nên trong kinh Kim Cang mới phải phá tới nhiều lần là vậy. 

9). THỨ CHÍN:

HÁN VIỆT: Tam thế chư Phật y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.  

VIỆT: Ba đời Chư Phật y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo qủa Bồ Đề.

 

     Câu nầy mới chính thức thành Phật, cứu cánh Niết Bàn của đoạn trên chưa phải thành Phật, phải phá luôn cứu cánh Niết Bàn, sau khi phá sạch chấp thật Tri kiến Phật rồi mới đủ tư cách thành Phật. Ba đời Chư Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật vị lai đều phải y theo “Bát Nhã Ba La Mật Đa” mà thực hành; phá sạch tất cả Tri kiến, không còn một pháp nào để chấp thật mới có thể đạt đến giác ngộ tối cao Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. 

 

     Nếu cứu cánh Niết Bàn ở đoạn trên đã chứng nhập rồi, ở đây còn chứng nhập thêm nữa là không đúng, cho nên cứu cánh Niết Bàn ở trên cần phải phá; đoạn sau tả cái sức Dụng do sự phá của Không mà hiển lộ ra, như thế mới được phù hợp.

10). THỨ MƯỜI:

HÁN VIỆT: Cố tri Bát-nhã ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.

VIỆT: Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ hết thảy khổ nạn không hư dối.

 

     Câu này diễn tả cái Dụng của Bát Nhã, ở đây Thần chú chia làm bốn cấp, tùy theo sự phá KHÔNG của từng trình độ cao thấp mà hiện ra cái Dụng lớn nhỏ, phá trống được bao nhiêu thì cái Dụng hiện ra được bấy nhiêu. Bốn cấp Thần chú là đại diện cho sức Dụng có thần lực vĩ đại có thể chuyển đổi mọi việc; khi phá được Tri kiến chấp thật hàng tu 12 Nhân Duyên thì hiện ra cái sức Dụng có thần lực phá vô minh bằng Đại Thần Chú. Phá được Tri kiến hàng Thanh Văn rồi thì hiện ra cái sức Dụng có thần lực trừ phiền não bằng Đại Minh Chú; phá được Tri kiến của Bồ Tát rồi thì hiện ra cái sức Dụng có thần lực trí huệ đạt vô thượng Niết Bàn không gì hơn bằng Vô Thượng Chú. Phá sạch được Tri kiến Phật rồi thì hiện ra cái sức đại Dụng có Thần lực trí huệ không gì có thể so sánh bằng Vô Đẳng Đẳng Chú. Đến đây đã phá tới chỗ không còn gì để phá nữa, sức Dụng của Bát Nhã đã đạt được đến Cứu cánh, không có gì có thể bằng được, nên gọi là không còn bậc nào cao hơn nữa (Vô Đẳng Đẳng). Cuối cùng trừ hết thảy khổ nạn không hư dối, đến đây là đạt được đến chỗ tự do tự tại rồi. 

 

 

 

11). THỨ MƯỜI MỘT:

HÁN VIỆT: Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú tức thuyết chú viết: Yết-đế, yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, bồ-đề tát-bà-ha.

VIỆT: Cho nên nói ra lời Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, Chú ấy rằng: “Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát Bà ha; Ma ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

 

     Sau chót nói đến chú Bát nhã Ba La Mật Đa. Khi đã biết các pháp hư dối, đều tùy duyên nên tâm không còn chấp thật, như vậy không còn phân biệt dính mắc vào một pháp nào cả, gọi là “Tâm xa lià mộng tưởng điên đảo, đạt cứu cánh Niết-bàn”. Đây là đến chỗ như như tự tại, tâm như như rồi, sống với bản tâm thanh tịnh không có ý niệm tức là Chân tâm vậy. Thần chú là đại diện mệnh lệnh hoặc sức Dụng tự động của bản thể Tâm (Tự Tính), cho nên không cần giải nghĩa.

 

GIẢI NGHĨA

BÁT NHÃ TÂM KINH

HẾT

 

*

*    *

PHỤ CHÚ:

THỰC HÀNH QUÁN CHIẾU:

 

     Hiểu rõ Kinh rồi, điều quan trọng và khó nhất là thực hành quán sát chiếu soi, Bát-nhã Tâm Kinh nói "Y theo Bát-Nhã Ba La Mật Đa, được đạo qủa Bồ Đề” như sau:

 

1. BẬC TU ĐÀ HOÀN:

 

     Người nào muốn thành bậc Tu Đà Hoàn, là đạt qủa Sơ Thiền, phải phá hết chấp thật của Sắc và Không. Cách tu là: Phá hết sạch chấp thật của Sáu Căn: Mắt Tai Mũi Lưỡi Thân ý; phá hết sạch chấp thật Sáu Trần: Sắc Thanh Hương Vị Xúc Pháp, và phá hết sạch chấp thật Sáu Thức: Nhãn Nhĩ Tỵ Thiệt Thân Ý Thức.

 

     Phá như thế nào? Quán để thấy rõ Sáu Căn, Sáu Trần và  Sáu Thức đều thay đổi không cố  định, là giả có không thật, không có chủ thể, nên tất cả đều chẳng khác không, đều là Không; trong này bao gồm tất cả các pháp liên quan tới nhiễm ô, tham dục, sân hận và bất thiện.

 

     Như: Mắt-Sắc-Nhãn Thức chẳng khác Không, Mắt-Sắc-Nhãn Thức là Không; Tai-Thanh-Nhĩ Thức chẳng khác Không, Tai-Thanh-Nhĩ Thức là Không; Mũi-Hương-Tỵ Thức chẳng khác Không, Mũi-Hương-Tỵ Thức là Không. Lưỡi-Vị-Thiệt Thức chẳng khác Không, Lưỡi-Vị-Thiệt Thức là Không; Thân-Xúc-Thân Thức chẳng khác Không, Thân-Xúc-Thân Thức là Không; cho đến Ý-Pháp-Ý Thức chẳng khác Không, Ý-Pháp-Ý Thức là Không.

 

     Tất cả 18 giới ở trên đều chẳng khác Không, đều là Không, hành trì đến nhu nhuyễn triệt để rồi thì tâm được không động, tâm không động là tâm thanh tịnh, tâm được thanh tịnh thì cái Dụng của Bát Nhã tự hiển lộ theo kết qủa tu hành của mình mà sẽ đắc quả Tu Đà Hoàn là bậc Dự lưu, tức là đã bước vào bậc khởi đầu của dòng Thánh.

 

2. BẬC A LA HÁN:

 

      Muốn thành A-la-hán là đạt qủa Tứ Thiền, phải phá hết sạch chấp thật các pháp dành cho người tu đạt bậc Tu Đà Hoàn đã nêu ở trên cho được nhu nhuyễn; sau đó phá chấp thật Ngũ Uẩn: Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức và phá chấp thật Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

 

     Nghĩa là hành giả tu Thiền quán thấy dung mạo (Sắc) dù đẹp dù xấu, dù to dù nhỏ, dù cứng dù mềm v.v…, đều biến đổi không cố định, đều là giả không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, đều là Không. Thấy cảm giác (Thọ) vui buồn, cảm giác khổ sướng đều biến đổi không cố định, đều là giả không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác không, đều là không. Thấy nghĩ nhớ (Tưởng) hình ảnh, danh vọng địa vị, cảm giác sướng khổ đều biến đổi không cố định, là giả không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác không, đều là không.

 

     Thấy suy nghĩ mong muốn làm (Hành) cái này, tính toán làm cái kia đều biến đổi không cố định, là giả không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, đều là Không. Thấy nhận biết phân biệt (Thức) khi Sáu Căn tiếp xúc Sáu Trần sinh ra hình ảnh dung mạo, tiếng nói âm thanh, mùi vị cảm giác, đều biến đổi không cố định, là giả không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, đều là Không.

 

     Hành giả còn phải tu quán thấy Khổ là biến đổi vô thường, là tạm có, ảo huyển, không có chủ thể, nên Khổ chẳng khác Không, Khổ là Không; quán thấy nguyên nhân sinh ra Khổ (Tập) biến đổi vô thường, là giả có, ảo huyển, không có chủ thể, nên nguyên nhân sinh ra khổ chẳng khác Không, nguyên nhân sinh ra Khổ là Không.

     Quán thấy Diệt Khổ là biến đổi vô thường, là tạm có, ảo huyển, không có chủ thể, nên Diệt Khổ chẳng khác Không, Diệt Khổ là Không; quán thấy Đạo qủa của Khổ là biến đổi vô thường, là tạm có, ảo huyển, không có chủ tể, nên Đạo qủa của Khổ chẳng khác Không, Đạo qủa của Khổ là Không.

 

     Khi đã phá sạch hết chấp thật của Năm Uẩn và khi quán thấy hết sạch tất cả chấp thật Khổ Tập Diệt Đạo, nghĩa là khi quán chiếu những sự việc trên đến nhu nhuyễn rồi thì tâm được không động, tâm không động là tâm thanh tịnh, tâm được thanh tịnh thì cái Dụng của Bát Nhã tự hiển lộ theo kết qủa tu hành của mình mà đắc quả A-la-Hán, hết phiền não ô nhiễm, đoạn diệt sinh tử, đạt bậc vô học.

 

3. BẬC BÍCH CHI PHẬT:

 

     Muốn thành Bích Chi Phật phải phá chấp thật 12 Nhân duyên gồm: Vô Minh, Hành, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thụ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Già Chết. Mười hai nhân duyên làm nhân cho nhau và tạo thành dây chuyền sinh tử tiếp nối không ngừng, chia ra như sau:

1. Nhân quá khứ gồm: Vô Minh, Hành.

2. Quả hiện tại gồm: Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thụ.

3. Nhân hiện tại gồm: Ái, Thủ, Hữu.

4. Quả vị lai gồm: Sinh, Lão Tử.

 

     Cách tu là quán mỗi thứ trong Mười hai Nhân Duyên đều biến đổi, không cố định, là giả, ảo huyển, không có tự thể, nên chẳng khác Không, là Không. Nghĩa là tu quán thấy Vô minh ngu si chẳng khác không, Vô minh si mê là không; quán Hành từ suy nghĩ ý muốn nói năng hành động chẳng khác Không, suy nghĩ ý muốn nói năng hành động tạo tác là Không.

 

     Nghĩa là tu quán các Nhãn Thức khi Mắt thấy Sắc, Nhĩ Thức khi tai nghe Thanh, Tỵ Thức khi Mũi ngửi Mùi, Thiệt Thức khi Lưỡi nếm Vị, Thân Thức khi Thân tiếp xúc, Ý Thức khi Ý nghĩ nhớ Pháp, Mạt Na Thức khi chấp cái ta và cái của ta, A Lại Đa Thức kho tàng chứa, tất cả đều là giả có, ảo huyển, không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, là Không,

 

     Tu quán Danh Sắc, Lục nhập, Xúc, Thụ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, cho đến Già chết, đều là giả có, ảo huyển, không thật, không có chủ thể, nên đều chẳng khác Không, đều là Không. Khi quán chiếu đến nhu nhuyễn được thấy hết sạch tất cả chấp thật về 12 Nhân Duyên như thế rồi thì tâm được không động, tâm không động là tâm thanh tịnh, tâm được thanh tịnh thì cái Dụng của Bát Nhã tự hiển lộ theo kết qủa tu hành của mình mà thành Bích Chi Phật.

 

4. BẬC BỒ TÁT:

 

     Muốn thành Bồ-tát bậc cao phải phá hết chấp thật Sáu Căn, Sáu Trần, Sáu Thức của hàng Tu Đà Hoàn, phá chấp thật Năm Uẩn của hàng A La Hán. Dĩ nhiên là phải tu cùng lúc Lục Độ Ba La Mật và còn phải phá chấp thật Trí Huệ, và phá chấp thật có Chứng đắc thì mới là trọn vẹn của một vị Bồ Tát bậc cao.

 

      Nghĩa là quán thấy Sáu Căn: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý, đều biến đổi không cố định, là giả có, không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, là Không. Quán Sáu Trần: Sắc, Thanh, Hương, Vi, Xúc, Pháp đều biến đổi không cố định, là giả có, không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, là Không. Quán thấy Sáu Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỵ, Thiệt, Thân, Ý Thức, đều biến đổi không cố định, là giả có, không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, là Không.

 

     Tu Thiền quán phá chấp thật Năm Uẩn, như thấy dung mạo (Sắc) dù đẹp dù xấu, dù to dù nhỏ, dù cứng dù mềm v.v…, đều biến đổi không cố định, đều là giả không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, đều là Không. Thấy cảm giác (Thụ) vui buồn, cảm giác khổ sướng đều biến đổi không cố định, đều là giả không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, đều là Không. Thấy nghĩ nhớ (Tưởng) hình ảnh, danh vọng địa vị, cảm giác sướng khổ đều biến đổi không cố định, là giả không thật, không có chủ thể, nên đều chẳng khác Không, đều là Không.

 

     Thấy suy nghĩ mong muốn làm (Hành) cái này, tính toán làm cái kia đều biến đổi không cố định, là giả không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, đều là Không. Thấy nhận biết phân biệt (Thức) khi Sáu Căn tiếp xúc Sáu Trần sinh ra hình ảnh dung mạo, tiếng nói âm thanh, mùi vị cảm giác, đều biến đổi không cố định, là giả không thật, không có chủ thể, nên chẳng khác Không, đều là Không.

 

LỤC ĐỘ BA LA MẬT:

 

     Gọi là Lục Độ Vô Cực, Lục Đáo Bỉ Ngạn. Ba La Mật (s, p: pāramitā) dịch là Độ, nghĩa là đến bờ bên kia (đáo bỉ ngạn), đây là 6 pháp tu hành để thành Phật đạo của vị Bồ Tát, gồm: 
<![if !supportLineBreakNewLine]>
<![endif]>

1- BỐ THÍ BA LA MẬT (s, p: dāna-pāramitā):

     Gọi là Đàn Na Ba La Mật, Bố Thí Độ Vô Cực, Bố thí để trừ lòng tham lam ích kỷ, có 3 loại là:

- Tài Thí, bố thí về tiền tài vật chất. để trừ đói khát.

- Pháp Thí, bố thí lời dạy giáo lý để tu tập và đạt được chân lý.

- Vô Úy Thí, bố thí sự không sợ hãi, giúp cho sự an tâm. 

 

     Bố thí giúp phát triển trí tuệ bằng cách chú ý quan sát, tư duy quán chiếu để xem tâm của mình, đó là trước khi bố thí có so đi tính lại không? Khi bố thí có cầu mong đền đáp không? Và sau khi bố thí có hối hận không? Nếu thực hành đúng đắn bố thí vô tướng vô ngã thì đó là tự tạo cho mình nhân lành. Vì thế bố thí vừa độ cho người mà vừa độ cho mình và nó có công năng đưa mình và người từ mê lầm đến giác ngộ.

 

     Bố thí vô tướng: Là bố thí với tâm trong sạch, không vì danh lợi, với tâm từ bi quảng đại, bình đẳng không phân biệt v.v… Đối với người tu, phải quán sát tất cả chúng sinh và mình cùng đồng một bản thể mới không còn thấy ta bố thí và người được thọ thí. Bố thí không chấp ta (ngã) người (nhân), không còn thấy mình cho và kẻ nhận, mới thật sự là bố thí rộng lớn, dù sự bố thí rất nhỏ cũng vẫn được gọi là bố thí rộng lớn “Ba La Mật”.

 

    Chữ “Ba La Mật” ở đây có nghĩa là rốt ráo, bố thí đến cùng tận, vô cùng rộng lớn; không dính mắc nơi tướng, nên được gọi là bố thí Ba La Mật, mới thực sự là bố thí cao cả trong sạch, sẽ đưa người bố thí được phúc báo vô lậu thanh tịnh.

 

2- TRÌ GIỚI BA LA MẬT (s: śīla-pāramitā, p: sīla-pāramitā):

     Gọi là Giới Ba La Mật, Giới Độ Vô Cực; giữ gìn giới luật đã lãnh thọ, để trừ ô nhiễm, có thể đối trị ác nghiệp, khiến cho thân an, tâm thanh tịnh. 

 

     Trì giới để ngăn chận và xả bỏ những hành vi bất thiện từ Thân Khẩu Ý, không nên trì giới chấp tướng vì nó chỉ có hình thức b ngoài, còn bên trong đầy ô nhiễm. Như trì giới vì háo thắng để được người khen ngợi; hoặc với s tự cao tự đại là cho mình hơn người và khinh dễ người phạm giới

 

     Trì giới không chấp tướng là theo đúng các điều Phật dạy mà thi hành, không vì danh hay bị ép, không vì nể vì ganh đua mà trì giới. Trong khi giữ giới không hề nghĩ mình giỏi hơn người, mà chỉ nghĩ trì giới là bổn phận của mình không thực hành không được; trì giới với tâm như thế mới đúng là trì giới rộng lớn (Ba La Mật).

 

     Giữ Giới được đầy đủ sẽ khiến thân an tâm thanh tịnh, đây là nền móng để giúp người tu đạt đến chỗ giải thoát; vì nếu không có giới thì sẽ không vào định được vì thân tâm không an tịnh, do đó trí tuệ không phát sinh để có ththấy biết thật tướng của vạn pháp


3- NHẪN NHỤC BA LA MẬT (s: kṣānti-pāramitā, p: khantī-pāramitā):

     Gọi là Nhẫn Ba La Mật, Nhẫn Nhục Độ Vô Cực, nghĩa là nhẫn nại, chịu đựng các sự bức hại để đối trị sân hận, nóng nảy, giúp cho tâm an định không xao động

 

     Không nên nhẫn nhục vì danh lợi, có người khen, sợ uy quyền, hoặc vì chưa đúng lúc, chưa có đủ đều kiện trả thù, hoặc vì coi rẻ khinh bỉ đối thủ v.v… Đó là nhẫn nhục chấp tướng, chưa phải là nhẫn nhục thực sự, vì còn do dục vọng tham, sân, si, mạn, thúc đẩy chi phối. Mà chỉ nhẫn nhục vô tướng, người nhẫn nhục luôn luôn tự hỏi: “Ta có làm điều gì sai quấy không? Nếu có, ta bị sỉ nhục là phải, ta không nên tức giận mà phải cám ơn; hoặc nếu ta không làm điều gì sai quấy, sau này sẽ được chứng minh, vì vàng bao giờ cũng là vàng. Hoặc ta không làm điều gì quấy, những sự sỉ nhục ấy chẳng dính liú gì tới ta, nên ta không cần khổ tâm suy nghĩ đến”.

 

    Người tu hành muốn hành hạnh nhẫn nhục kiên cố (Ba La Mật), phải quán chúng sinh và mình cùng đồng một bản thể mới không thấy ta bị nhục và người làm nhục mình. Thí dụ như tay phải làm việc cầm con dao hay cái búa, cắt đồ vật hay đóng đinh, rủi cắt hay đập phải ngón của bàn tay trái làm chảy máu hay sưng lên đau đớn. Bị thương tổn như thế, nhưng tay trái tự nhận tay phải cùng với mình (tay trái) đồng một thân thể, nên tay trái không thấy tay phải làm nhục làm hại mình; nhẫn nhục như thế mới là nhẫn nhục rốt ráo Ba La Mật. 

 

4- TINH TẤN BA LA MẬT (s: vīrya-pāramitā, p: virya-pāramitā): Cũng gọi là Tấn Ba La Mật, Tinh Tấn Độ Vô Cực, nỗ lực tinh tấn tiến lên, không thối chí; giúp đối trị sự lười biếng, sinh trưởng các pháp lành. 

 

     Tinh tấn học hỏi giáo lý đầy đủ chu đáo, chúng ta phải áp dụng thực hành tức là tu; nếu đã hiểu biết giáo lý mà không chịu thực hành, người đó như con mọt sách, như người có một bồ chữ cất ở trong kho, chẳng ích gì.

 

     Khi có mặt người khác tỏ ra cần mẫn chăm chỉ, siêng năng hăng hái để được khen ngợi, có người vì sợ chê bai quở mắng mà tinh tấn, nhưng khi không có người kiểm soát, lại lười biếng. Có người tinh tấn vì háo thắng, muốn hơn người vượt người, tự cao tự đại “ta hơn người”; với dụng tâm vì danh lợi, vì sợ vì hơn như thế đều là tinh tấn chấp tướng. Mà nên Tinh tấn vô tướng do lòng mình tự cảm thấy cần phải tinh tấn, không tinh tấn không được, dù một mình hay có người khác cũng vẫn tinh tấn; không thoái chí ngưng nghỉ giữa chừng, chỉ một lòng một dạ tinh tấn tiến tới đích.

 

Tinh tấn như thế nào?

   Đức Phật dạy người tu phải khéo biết tùy thời tùy lúc tư duy về  tướng Chỉ, tướng Quán, tướng Xả. Nếu chỉ một bề tư duy về tướng Chỉ, tâm kia dễ đi đến hôn trầm hạ liệt. Nếu chỉ một bề tư duy về tướng Quán, tâm kia dễ đi đến loạn động. Nếu chỉ tư duy về tướng Xả, tâm kia dễ đi đến không được chính định, không sạch hết hữu lậu ô nhiễm của các thói quen. Do đó phải biết tùy thời mà thay đổi tinh tấn để làm sao tâm được chính định, sạch hết các lậu hoặc tham sân tà kiến.

 

     Trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật đã tha thiết dặn bảo: “Các ông hãy tinh tấn lên để giải thoát”. Đó là lời tâm huyết cuối cùng của Ngài vậy.

 

5- THIỀN ĐỊNH BA LA MẬT (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā):

     Gọi là Thiền Ba La Mật, Thiền Na Ba La Mật, Thiền Độ Vô Cực; tu tập Thiền định có thể đối trị sự loạn tâm, giúp cho tâm được an định. 

 

Thiền định là gì?

Thiền phiên âm theo tiếng Phạn là thiền na, là tư duy, suy nghiệm, suy cứu đối tượng của tâm thức; cũng là tĩnh lự, dùng tâm vắng lặng để thẩm sát sự việc.

Định theo tiếng Phạn là tam muội, chuyên nhất, tâm ý không tán loạn; nhờ định mà hành giả đạt tới trạng thái sâu lắng của tâm thức trong việc chú ý đến tâm hoặc vật, khả năng đạt định là một trong những điều kiện tiên quyết của tu tập thiền.

   Thiền định gồm có Chỉ và Quán:

1- Chỉ (Xa ma tha): Còn gọi là Thiền vắng lặng, là ngồi tĩnh lặng cho hết tư tưởng vọng niệm nổi lên để được thanh tịnh, tức là dứt niệm quên trần để tâm vắng lặng.

2- Quán (Tỳ bà xá na): Còn gọi là Thiền Minh Sát, là ngồi tập trung tư tưởng vào một đối tượng, đề mục nào đó, không cho tán loạn vọng tưởng, cho tâm được thanh tịnh để quán sát suy nghiệm chân lý.

 

Mục đích của thiền định:

     Thiền định là phương pháp làm các làn sóng tư tưởng khuấy động chấm dứt, thì sẽ nhận ra rằng mặt trăng chân lý lúc nào cũng chiếu sáng. Giây phút nhận ra điều nầy là kiến tính, là giác ngộ, có nghĩa là hiểu rõ được bản thể của tự tánh. Người quyết tâm tu thiền sẽ dẫn tới đồng nhất bản thể chân tâm với vũ trụ, sự chứng ngộ chân lý sẽ còn mãi với vị ấy và từ đó vị ấy có thể sống một cách tự tại trong cái tâm trạng đầy phúc lạc.

 

6. TRÍ HUỆ BA LA MẬT (s: prajñā-pāramitā, p: paññā-pāramitā):

     Gọi là Tuệ Ba La Mật, Bát Nhã Ba La Mật, Minh Độ Vô Cực, là hiểu rõ sự lý cùng tột, là Bát nhã, là trực nhận tánh không, là giác ngộ, là “Trí biết tục đế, Huệ thông chân đế”. Có thể nói Trí là thể tính sáng suốt trong sạch, Huệ là cái sáng chiếu soi, nên Trí Huệ rộng lớn (Ba La Mật) không thể nhầm lẫn, để trừ si mê. Trí huệ là sự hiểu biết siêu việt cùng tột, là điều kiện tối hậu để thấu triệt chân lý, là giải thoát.

 

     Tu bậc Bồ Tát còn phải phá chấp thật Trí Huệ và chấp thật Chứng đắc, bằng cách tu quán thấy Trí Huệ là giả, ảo huyển, không thật, nên chẳng khác Không, là Không; quán phá chấp thật Chứng đắc, vì Chứng đắc chỉ là giả, ảo huyển, không thật, nên Chứng đắc chẳng khác Không, Chứng đắc là Không. Khi quán chiếu đến nhu nhuyễn, thì thấy phá hết sạch chấp thật Trí Huệ và tất cả đều không chỗ đắc thì tâm được không động, tâm không động là tâm thanh tịnh, tâm được thanh tịnh thì cái Dụng của Bát Nhã tự hiển lộ theo kết qủa tu hành của mình mà có thể thành Bồ-tát từ Viễn Hành (bậc 8) trở lên.

 

5. BẬC PHẬT:

 

     Muốn thành Phật phải y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, hành giả phải tu tất cả từ phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, (xin coi lại các phần tu thực hành ở trên), cho đến phá chấp thật luôn Cứu cánh Niết Bàn tức là phá chấp Tri Kiến Phật là thật.

 

     Nghĩa là tu quán thấy Niết Bàn là giả. ảo huyển, không thật, nên Niết Bàn chẳng khác Không, Niết Bàn là Không. Khi quán chiếu đến nhu nhuyễn thì thấy phá hết sạch chấp thật Niết Bàn, thì tâm được không động, tâm không động là tâm thanh tịnh, tâm được thanh tịnh thì cái Dụng của Bát Nhã tự hiển lộ cùng khắp, Dụng của Bát Nhã hiện ra thì đạt đến bờ bên kia, được đạo qủa Bồ Đề thành Phật".

 

     Tất cả đều nhờ Bát-nhã, như thế Bát nhã Tâm Kinh bao gồm hết thảy Phật Pháp, tùy người hành trì được nhiều hay ít mà được đạo qủa tương ưng.

 

PHỤ CHÚ THỰC HÀNH QUÁN CHIẾU

BÁT NHÃ TÂM KINH

HẾT

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn