Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

Tác phẩm 2: 32 Tướng Của Đức Phật

30/07/201613:40(Xem: 4045)
Tác phẩm 2: 32 Tướng Của Đức Phật
Tác phẩm 2 trong quyển
Toàn tập
TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG BỬU CHƠN
(NĀGA MAHĀ THERA)
 
Dl. 2016 – Pl.2559

 ---

 
32 TƯỚNG CỦA ĐỨC PHẬT
(LAKKHAA SUTTA)
 
 

Phi Lộ

Bao nhiêu nhân loại trên thế gian hình dáng mặt mày đều khác nhau, ít có giống nhau (trừ song thai) thậm chí đến trong một gia đình hay gia tộc cũng khác nhau, kẻ được chỗ nầy, xấu chỗ nọ, người cao kẻ thấp, ốm mập khác nhau, không khi nào giống nhau như khuôn đúc. Tại sao vậy? Câu hỏi nầy làm cho nhiều tôn giáo luôn cả khoa học cũng khó mà giải quyết được. Nhưng theo Phật giáo sự khác ấy không chi hơn là: mỗi nhân vật đều do nơi sự hành vi khác nhau, người thích làm thiện, kẻ ưa làm ác, người thì tham lam ích kỷ, kẻ lại rộng lượng lợi tha, người thì tánh tình cộc cằn hung ác, kẻ lại nhã nhặn hiền từ, người hống hách tự kiêu, kẻ lại khiêm tốn bình đẳng v.v... Do sự hành vi khác nhau như thế ấy nên khi tái sanh lại trong quốc độ hoặc cảnh giới nào mới có những hình dáng khác nhau tuỳ theo tâm tánh hành vi trong kiếp trước. Vì vậy mà: Ít có người được đầy đủ 32 tướng tốt và 80 phụ tướng[1]. Mặc dù các pháp tướng đều vô thường, nhưng người còn ở thế phần nhiều ai ai cũng muốn có tướng tốt và sắc đẹp cả.

Đức Phật Ngài chuyển sanh từ hằng hà sa số kiếp để thực hiện cho tròn đủ 10 pháp ba la mật mới được những quả lành để tạo ra 32 tướng tốt ấy.

Bần tăng tuỳ khả năng hiểu biết ráng phiên dịch xuôi theo Kinh PĀLI, theo thứ tự 32 tướng và nguyên nhân để phát sanh lên tướng ấy.

Với sự ước mong rằng: Sau khi Quý vị độc giả đã đọc xong quyển kinh sẽ có nhiều quan niệm tốt tươi để thực nghiệm theo những phương châm mà đức Bổn sư đã từng thực hành trong nhiều kiếp trước.

Do quả lành phiên dịch nầy, xin thành tâm hồi hướng đến các bậc thầy tổ và Song thân cùng luôn tất cả chúng sanh ba giới, bốn loài đồng chung thọ hưởng cho được mọi điều hạnh phúc cho đến khi đắc quả Niết Bàn.

Rất mong thay !

Bhikkhu Nāga Mahā Thera - Tỳ khưu Bửu Chơn

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

Xin thành kính làm lễ đến Đức Thế Tôn, Ngài là bậc Alahán, là bậc Chánh biến tri.

__

 

Nguyên Nhân Đức Phật Giải 32 Tướng

            Một thuở nọ, đức Thế Tôn ngự nơi Bố Kim tự Jetavana của ông Cấp Cô Độc, trưởng giả gần thành Xá Vệ - Sāvathī.

            Đức Phật kêu các thầy tỳ khưu mà dạy rằng: Này các thầy tỳ khưu, bậc vĩ nhân nào có đủ 32 tướng tốt thì bậc ấy chắc chắn chỉ có 2 địa vị là:

1. Nếu bậc vĩ nhân ấy ở tại gia thì sẽ thành một vị chuyển luân vương có nhiều đức hạnh thanh cao, có quyền thế lan rộng khắp quả địa cầu, 4 biển bao chung quanh làm giới hạn, xứ sở rất phong túc, có 7 báu là: xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, vợ báu, hộ báu[2], con báu. Ngài có rất nhiều con đều cường tráng anh dũng có thế đương cự lại với quân nghịch một cách dễ dàng. Ngài trị vì xứ sở bằng cách đạo đức là người người nên giữ ngũ giới, vì vậy mà khắp lãnh thổ của Ngài không có ranh giới, không trộm cướp, không tai nạn, của cải không cần gìn giữ, được phong phú, sung túc, thái bình, Ngài không khi nào cần dùng đến khí giới, hình phạt để cai trị dân chúng.

2. Nếu Ngài xuất gia tu hành thì sẽ thành bậc Chánh đẳng Chánh giác.

32 tướng tốt ấy là thế nào? 32 tướng tốt ấy là: 1) Supatitthita pādo hoti: Có 2 lòng bàn chân bằng thẳng (phần đông lòng bàn chân đều hũng vô, người lòng bàn chân ít hũng vô là tượng trưng người ít phiền não). 2) Hetthāpādatalesu cakkāni jātāni honti sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāra paripūrāni: 2 lòng bàn chân đều có hình bánh xe có vành đùm và 1000 cây căm mỗi khoản đều nhau. 3) Āyatapanhi hoti: Có gót chân thật dài. 4) Dīghangulī hoti: Có ngón chân và ngón tay thiệt dài và nhọn như dùi trống. 5) Mudataruna hatthapādo hoti: Có lòng bàn tay và bàn chân mềm mại. 6) Jāla hatthapādo hoti: Lòng bàn tay và bàn chân có chỉ giăng như lưới. 7) Ussankha pādohoti: Cổ chân hình như nổi lên trên bàn chân. 8) Enijangho hoti: Có ống quyển tròn thon như ống chân con hưu. 9) Thitako va anonamanto ubhohi pānitalehi jannukāni parimasati parimajjati: Có hai cánh tay thật dài, khi đứng dậy không cần cúi xuống cũng rờ đụng tới đầu gối. 10) Kosohita vatthaguyho hoti: Ngọc hành (dương vật) ẩn vào trong bọc da (như dương vật con voi). 11) Suvanna vanno hoti: Màu da vàng sạch như vàng ròng. 12) Sukhumacchavi hoti sukhumattā chaviyā rajojallam kāyena na upalippati: Da thật mịn láng trơn, bụi trần không đóng dính được trên thân mình. 13) Ekekalomo hoti: Mỗi lỗ chân lông chỉ mọc một sợi lông. 14) Uddhanga lomo hoti uddhangāni lomāni jātāni nīlāni ānjana vannāni kundalavattāni dakkhinā vattaka jatāni: Tất cả lông đều cong đầu trở lên, uốn qua phía tay mặt, màu xanh đậm như bông biếc, uốn quắn lại có vòng. 15) Brahmujugatto hoti: Thân mình ngay thẳng, như thân mình của Trời Phạm Thiên. 16) Sattussado hoti: Thịt trong 7 chỗ đều no đầy bằng thẳng (thịt cần cổ, 2 lưng bàn tay, 2 lưng bàn chân, 2 bả vai). 17)Sīhapubbaddha kāyo hoti: Thân mình từ phân nửa trở lên giống như thân mình con sư tử hẩu.18) Pittantaramso hoti: Lưng đầy bằng thẳng. 19) Nigrodhaparimandalo hoti: Thân người đều như cây da hay gừa, là thân người bao cao thì sãi tay cũng bằng nhau. 20) Samavattakkhandho hoti: Cần cổ đều và tròn trịa. 21) Rasaggasaggī hoti: Có 700 sợi gân thật nhỏ châu đầu lại cuống lưỡi để lãnh lấy hương vị khi để vô lưỡi (liền dẫn đem khắp châu thân). 22) Sihahanu hoti: Cằm tròn như cằm sư tử hoặc như trăng ngày 12. 23) Cattālīsadanto hoti: Có 40 cái răng (hàm trên 20, dưới 20). 24) Samadanto hoti: Răng ấy rất đều đặn bằng nhau. 25) Aviraladanto hoti: Răng ấy rất khít khao nhau. 26) Susukkadatho hoti: 4 răng nhọn thật trắng và sạch. 27)Pahūtājivaho hoti: Lưỡi thật lớn, dài và mềm (có thể le ra đậy cả mặt, hay cuốn lại xỏ vào lỗ mũi hoặc lỗ tai được). 28) Brahmassaro hoti: Tiếng nói rõ rệt êm dịu như tiếng nói của trời Phạm Thiên hay là tiếng chim karavika. 29) Abhinīla netto hoti: Tròng con mắt đen huyền (như mắt bò con). 30) Gopakhumo hoti: Có lông nheo mịn như lông bò con. 31) Unnā bhamukantare jātāhoti odātā mudutūlasannibhā: Những lông mày màu trắng mềm mại như bông gòn. 32) Unhīsa sīso hoti: Cái đầu tròn trịa, tóc uốn quăn qua phía tay mặt coi hình như đội mão.

Này các thầy tỳ khưu, các nhà đạo sĩ thường khoe mình thông hiểu 32 tướng lạ của bậc vĩ nhân, nhưng các nhà đạo sĩ ấy không biết được bậc vĩ nhân ấy thực hành theo pháp nào mà có 32 tướng tốt ấy.

 ---

Sự Thực Hành Để Phát Sanh Mỗi Tướng

1.       Này các thầy tỳ khưu, thuở trước kia, trong những kiếp trước Như Lai sanh làm người đã thọ trì những pháp lành (kusaladhamma) không gián đoạn là thân, khẩu, ý hằng giữ gìn trong sạch, bố thí, trì giới, bát quan trai, phận sự phải thực hành đối với cha mẹ, các bậc Sa môn, Bà la môn những người trưởng thượng trong gia tộc và điều lành khác nữa. Vì vậy mà khi Như Lai tan rã ngũ uẩn được sanh về cõi trời. Lúc ấy Như Lai được hưởng quả lành 10 điều là: tuổi thọ, màu da, sự yên vui, danh vọng, địa vị, sắc tướng, thinh, hương, vị, xúc đều của thần tiên vi tế và thanh cao cả. Khi hết phước cõi thiên đường trở xuống cõi trần gian sanh làm người mới được 2 lòng bàn chân bằng thẳng khi đạp xuống hoặc giở lên cũng bằng thẳng như nhau. Tướng lạ này nếu ở tại gia thì làm Vua chuyển luân vương có nhiều đức hạnh thanh cao, quyền thế lan rộng khắp tứ phương, có 7 báu v.v..

Nếu xuất gia thì sẽ thành Chánh đẳng Chánh giác diệt tận cả ái dục phiền não, không nao núng, run sợ trước quân nghịch bên trong và bên ngoài như tham, sân, si và các bậc Sa môn, Bà la môn, Chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên cả thảy.

 

2.       Trong những kiếp trước kia, Như Lai sanh làm người thường làm cho nhiều người được sự an vui, khỏi kinh hãi, sợ sệt, lo gìn giữ bảo bọc họ cho hợp pháp lại thêm bỏ của cải ra bố thí luôn cả vật phụ tùng[3]. Do nhân lành ấy khi hết tuổi thọ được sanh về cõi thiên đường có đầy đủ sự an vui lạc thú, khi tái sanh lại làm người mới được bàn chân có hình bánh xe, vành, đùm và 1000 cây căm sanh lên rõ rệt.

                                                        

3. 4. 5. Kiếp trước kia, Như Lai thường xa lánh sự sát sanh, huỷ bỏ hình phạt và khí giới, ghê sợ tội lỗi, có lòng từ bi thương xót mọi người, thường giúp đỡ nhiều điều lợi ích. Do nhân lành ấy ...

Khi tái sanh lại làm người mới được 3 tướng lạ là: gót thật dài; ngón tay và ngón chân thật dài; thân mình giống như thân mình trời Phạm Thiên.

 

6. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường cho vật thực mặn, ngọt rất quý báu cao lương và các thứ nước ngọt đáng ưa thích (như nước trái xoài, chuối, trâm, viết, thanh trà v.v..). Do nhân lành ấy ...

Khi tái sanh lại làm người mới được thịt trong 7 chỗ no đầy bằng thẳng.

7. 8. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường hay tế độ mọi người trong bốn điều là: bố thí, lời nói cho người thương mến, làm cho người được sự lợi ích, hạ mình bình đẳng (là không tự tôn tự đại). Do nhân lành ấy ...

Khi tái sanh lại làm người thì được 2 tướng lạ là: lòng bàn tay, chân mềm như bông gòn; lòng bàn tay, chân có những chỉ như lưới giăng.

 

9. 10. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường hay nói điều lợi ích, đúng theo chân lý giảng giải cho người được sự lợi ích, yên vui và thường hay bố thí pháp. Do nhân lành ấy ...

Khi tái sanh lại làm người được 2 tướng lạ là: cổ chân hình như nổi lên, đầu lông đều cong lên uốn quắn qua phía mặt.

 

11. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường hay chỉ dạy cho nhiều người những nghề tầm thường hoặc nghề cao quý, các môn học kỹ thuật, khoa học và những hạnh kiểm cao thượng, như trì ngũ giới, bát quan trai giới hoặc giới bậc xuất gia, trong tâm nghĩ rằng: Làm thế nào cho họ được mau hiểu biết, thực hành theo mau chóng khỏi phải tổn phí nhiều thì giờ. Do nhân lành ấy …

Khi tái sanh làm người được 2 ống chân thon dài và tròn trịa giống như ống chân con hưu.

 

12. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường hay đến viếng các bậc Sa môn hoặc Bà la môn để hỏi đạo như vầy: Bạch các Ngài, thế nào gọi là thiện? Thế nào gọi là ác? Hành động thế nào gọi là thấp hèn? Hành vi thế nào gọi là cao thượng? Sự hành động thế nào nên hành theo? Thế nào không nên hành theo? Sự thực hành thế nào làm cho ta không được sự tấn hoá lợi ích? Sự thực hành thế nào làm cho ta được lợi ích, sự yên vui lâu dài? Do nhân lành ấy ...

Khi Như Lai tái sanh lại làm người được da thật mịn láng trơn, bụi trần rớt không dính được.

 

13. Kiếp trước kia, Như Lai sanh làm người thường không sân hận, bất bình, dầu cho nhiều người đến mắng nhiếc cũng không hờn, không giận, không thù, không oán, không hãm hại cũng không tỏ vẻ buồn cho thấy rõ bằng thân, khẩu đâu. Nhưng trái lại, Như Lai cho vật trải ngồi, y vải thật mịn màng, mềm mại đến họ. Do nhân lành ấy ...

Khi Như Lai tái sanh lại làm người thì được màu da như vàng ròng bóng láng, mịn màng, khít khao.

 

14. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường hay thương yêu, thân mật, tiếp đãi thân hữu đã cách mặt từ lâu. Tiếp độ cha mẹ, anh em, con trai gái và rất vui thích trong sự thuận hoà với mọi người. Do nhân lành ấy ...

Khi Như Lai tái sanh lại làm người có dương vật (ngọc hành) ẩn trong bọc da (như dương vật con voi). Tướng lạ này nếu ở thế thì có nhiều ngàn người con anh dũng, dạn dĩ; nếu xuất gia thì cũng có rất nhiều con (là đệ tử) dạn dĩ, sáng suốt, dễ dạy.

 

15. 16. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường hay suy xét tìm sự tiếp độ công chúng, tự mình biết được không cần ai chỉ bảo, hạng người này có đức lành bằng với hạng kia, biết rõ hạng người bậc hạ, trung, thượng để tiếp đãi cho phù hợp với trình độ, biết rõ đức lành của người này đáng thọ lãnh lễ vật cúng dường như thế này. Người kia thì nên lãnh lễ vật như thế kia, khi biết rõ như vậy Như Lai mới làm sự lợi ích tuỳ theo đức lành của mỗi bậc khác nhau. Do nhân lành ấy ...

Khi Như Lai tái sanh lại làm người thì được 2 tướng tốt là: có thân mình đều đặn như cây gừa hay cây da, khi đứng khỏi cần phải cúi xuống nhưng 2 tay rờ đụng tới đầu gối.

Tướng lạ này nếu ở tại gia có nhiều của cải đầy kho, đầy lẩm, còn nếu xuất gia thì được 7 kho báu là: đức tin, trì giới, hổ thẹn tội lỗi, ghê sợ tội lỗi, nghe nhiều học rộng, bố thí và trí tuệ.

 

17. 18. 19. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường hay ước nguyện và làm thế nào cho bá gia bá tánh được sự tấn hoá, sự lợi ích, sự an vui thái bình, nhiều đức tin, giới hạnh, tuổi thọ, trí tuệ, của cải, ruộng vườn, vợ con, tôi tớ, thân quyến, bầu bạn, tông môn được dồi dào đầy đủ. Do nhân lành ấy ...

Khi Như Lai tái sanh lại làm người thì được 3 tướng tốt là: thân mình phân nửa phía trên giống như thân mình con sư tử, cái lưng thật bằng thẳng không có trũng vô, cần cổ đều đặn tròn trịa.

 

20. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người không có hay đánh đập các loài thú bằng tay, cục đất, cây, khí giới làm cho nó đau khổ. Do nhân lành ấy ...

Khi Như Lai tái sanh lại làm người được lưỡi có nhiều sợi gân ngóc đầu lên để lãnh vật thực khi để vào lưỡi và đem vị trần ấy liền dẫn khắp trong châu thân. Tướng lạ này nếu ở thế Như Lai ít có bịnh hoạn đau khổ; nếu xuất gia đắc thành chánh giác, có cơ thể điều hoà ít bịnh hoạn, đau khổ.

 

21. 22. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người không có liếc mắt nhìn người (với lòng sân hận) hoặc háy nguýt người vì lòng oán ghét. Là người có tâm ngay thẳng chân chánh nhìn người đầy tròng con mắt hoặc bằng cặp mắt yêu thương. Do nhân lành ấy ...

Khi Như Lai tái sanh lại làm người thì được 2 tướng tốt là: có cặp mắt xanh tươi đen huyền như mắt bò con, có lông nheo thật mịn như lông bò cái non.

Nếu còn tại gia thì mọi người trông đến Như Lai rất vừa lòng thương mến, đẹp ý muốn nhìn xem không mãn nhãn. Nếu xuất gia đắc thành Chánh giác thì rất được vừa lòng đẹp ý nhiều người muốn nhìn xem bằng cách quý mến.

 

23. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường hay dẫn đầu, làm hướng đạo cho nhiều người trong các điều lành như: thân, khẩu, ý trong sạch, bố thí, trì ngũ giới, bát quan trai, hầu hạ cha mẹ, các bậc Sa môn hoặc Bà la môn, các bậc trưởng lão trong gia tộc và những pháp lành khác. Do nhân lành ấy ...

Khi tái sanh lại làm người thì được cái đầu tròn trịa, tóc uốn quăn qua phía tay phải coi giống như đội mão. Tướng lạ này khi ở tại gia thì được nhiều hạng người tuỳ tùng, hầu hạ, nếu xuất gia thì cũng được rất nhiều người tuỳ tùng như: Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, Thiện nam, Tín nữ, Chư Thiên, A-tu-la, Long vương, Càn thát bà.

 

24. 25. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường xa lánh lời nói láo, chỉ nói lời chân thật, ngay thẳng, đáng tin cậy không nói gạt gẫm người. Do nhân lành ấy ....

Khi tái sanh lại làm người thì được 2 tướng lạ là: mỗi sợi lông mọc trong mỗi lỗ đều nhau và ngóc đầu trở lên; lông mày màu trắng mềm mại như bông gòn.

Hai tướng này khi ở thế thì tất cả quan quân đều nghe và thực hành theo huấn lệnh, nếu xuất gia thì tất cả hàng đệ tử đều cuối đầu tuân nghe theo huấn từ chỉ dạy.

 

26. 27. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường dứt bỏ xa tránh lời nói đâm thọc, khi nghe chỗ này không đem lại chỗ kia làm cho 2 đàng chia rẽ hoặc nghe đàng kia không đem nói lại đàng này, là người ưa giảng hoà cho người đã chia rẽ. Người đã hoà thuận rồi thì nói cho càng hoà thuận thêm. Ưa thích, vui lòng với sự hoà hảo luôn luôn. Do nhân lành ấy ...

Khi tái sanh lại làm người thì được 2 tướng tốt là: có đúng 40 cái răng, những răng ấy rất đều và khít nhau.

Nếu khi còn ở thế làm vua thì những quan quân tuỳ tùng không khi nào chia rẽ. Nếu xuất gia thành Chánh giác thì hàng tứ chúng cũng thuận hoà, vui vẻ không chia rẽ nhau.

 

28. 29. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường xa lánh lời nói cộc cằn, thoá mạ người, lại dùng lời nói vô tội, nói êm ái làm cho người để tâm thương mến, vừa lòng, yêu chuộng, lời nói của người ở kinh đô. Do nhân lành ấy ...

Khi Như Lai tái sanh lại làm người thì được 2 tướng lạ là: có lưỡi thật dài và lớn; tiếng nói thật rõ ràng êm dịu như tiếng của trời Phạm Thiên hay là chim karavika.

Hai tướng lạ này nếu ở thế thì làm vua khi nói ra điều chi làm cho mọi người phải kính nể mà thừa hành theo; nếu xuất gia thì đắc thành Chánh giác tất cả các hàng tứ chúng đều vâng giữ hành theo lời giảng dạy của Như Lai.

 

30. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường xa lánh lời nói vô ích, viển vông, lại dùng lời chân thật đứng đắn, theo nhân, theo quả, giảng dạy cho người để vào tâm, có bằng cớ dứt khoát, có lợi ích và đúng thì giờ. Do nhân lành ấy ...

Khi Như Lai tái sanh lại làm người thì được cái cằm tròn như cằm sư tử hẩu hoặc như trăng ngày 12. Tướng lạ này khi ở thế làm vua thì toàn thắng tất cả kẻ nghịch, nếu xuất gia thành Chánh giác thì kẻ nghịch bên trong là phiền não và quân nghịch bên ngoài là người, trời, Ma vương, Như Lai cũng dẹp yên không thể quấy nhiễu Như Lai được.

 

31. 32. Kiếp trước kia, khi Như Lai sanh làm người thường xa lánh sự nuôi mạng tà vạy (Micchājīva) và luôn luôn sanh sống bằng cách nuôi mạng chân chánh (sammā ājīva) là xa tránh sự lường gạt người bằng cách lường cân tráo đấu, đồ giả nói đồ thiệt, mưu này kế kia để gạt gẫm người đặng nuôi mạng sống, chặt tay chân, cột trói, hăm he, gạt cho lạc đường để cướp giựt của cải đem về để nuôi mạng. Do nhân lành ấy. Khi lâm chung được sanh về cõi thiên đường có đầy đủ 10 điều lạc thú thần tiên ...

Khi tái sanh lại làm người thì được 2 tướng lạ là: những răng khít khao và đều đặn; bốn cái răng nhọn thật trắng và sạch.

Hai tướng lạ này nếu Như Lai ở thế thì làm Vua chuyển luân vương trị vì dân chúng theo đường đạo đức, có uy quyền khắp cả tứ phương, có 7 báu, nhiều ngàn người con trai đều anh dũng dẹp trừ các kẻ nghịch, xứ sở được dồi dào của cải, no ấm, thái bình thạnh trị, không cần đến hình phạt hoặc vũ khí. Nếu xuất gia sẽ thành Chánh đẳng Chánh giác diệt tận cả phiền não và nhiều nhân vật tuỳ tùng rất trong sạch là hàng tứ chúng, Chư Thiên, Nhân loại, A tu la, Long vương, Càn thát bà đều là bậc có tâm trong sạch đến thọ giáo hộ tùng Như Lai.

Trong tướng thứ 31 có 2 tướng thành 32 tướng lạ cả thảy.

Khi Đức Thế Tôn giảng xong, các hàng tỳ khưu rất hoan hỉ thoả thích pháp Ngài đã giảng giải ấy.

 

– Dứt pháp hành để phát sanh 32 tướng tốt –

---

 

Chú Giải

Đức Phật có 4 pháp chan hoà – pamāna là: rūpa pamāna – sắc chan hòa (là lai láng, dồi dào sự tốt đẹp cao quý), dhamma pamāna – pháp chan hoà, ghosa pamāna – thinh chan hoà, lolupa pamāna – vui thích cách bình đẳng chan hoà.

Giải: Có người thích sắc tướng tốt của Ngài rồi vào tu hoặc phát tâm trong sạch làm điều thiện cũng có. Có người thích Ngài vì pháp cao thượng, vi tế, hợp lý rồi tu theo. Có người ưa thích tiếng thanh bai, tao nhã, êm ái nghe thật rõ ràng êm dịu như tiếng chim karavika rồi tu theo cũng có. Có người lại mến thích vì có tâm bình đẳng dầu cho người giàu kẻ nghèo đem món chi đến dâng cúng Ngài thì Ngài thọ dụng một cách vui vẻ không phân biệt vật cao quý hay thấp hèn vì vậy mà phường hạ lưu rất mến và theo thọ giáo với Ngài. Về sự thấy tướng tốt của Ngài mà pháp tâm trong sạch.

Lúc Phật còn tại thế, một hôm Ngài đến độ con một bà-la-môn vì quá bỏn xẻn, con đau không lo thuốc sợ tốn tiền hao của để đến gần chết, lại sợ người tới nhà thăm tốn trầu cau nên cho làm trại kế mé đường trước cửa cổng, tính khi nào con chết thì đem thiêu liền khỏi phải ai tới nhà bận rộn. Đức Phật biết được đến đứng gần bên trại ấy, cậu trai thấy dung nhan Đức Phật rất đẹp có hào quang sáu màu phát tâm trong sạch muốn đưa tay lên đảnh lễ nhưng vì đã kiệt sức nên giở lên không nổi, Đức Phật biết được tâm đang trong sạch khắn khít với hình ảnh Ngài (Buddhāramana). Ngài liền đi khỏi nơi ấy, đồng thời cậu trai ấy cũng tắt hơi. Liền khi ấy được sanh về cõi Trời Đạo Lợi.

Hoặc như ông Vakkali con một nhà thương gia, khi đến nghe pháp Đức Phật, thấy Ngài có 32 tướng tốt phát tâm thương mến Ngài rồi vào xin xuất gia. Khi xuất gia xong, ông không lo học hành chi cả, chỉ mỗi ngày thọ thực xong chờ đến giờ hội họp thì vào để nhìn xem dung nhan Đức Phật. Đức Phật biết nhưng không nói chi chờ cho duyên lành ông Vakkali đầy đủ. Một hôm duyên lành ông đã đến, Đức Phật bèn đuổi ông đi không cho ông ở để nhìn xem Đức Phật nữa. Ông Vakkali rất buồn rầu, chán nản và nghĩ rằng: Ta vì thương Đức Phật nên xuất gia ý muốn để nhìn xem Ngài cho thoả mãn. Nhưng Ngài lại đuổi ta đi không cho ở để xem nữa, như vậy ta còn sống làm chi, thôi ta lên núi nhảy xuống tự vận cho rồi. Tính xong ông đi thẳng lên chót núi, còn đang ngồi nhớ lại Đức Phật rồi sẽ tự vận. Vừa khi ấy Đức Phật Ngài phóng hào quang đến trước mặt thầy tỳ khưu Vakkali và kêu rằng: Này con, Như Lai ở đây! Ông Vakkali rất vui mừng vì cho Đức Phật cũng còn thương mình. Kế tiếp đức Thế Tôn mới thuyết pháp cho ông nghe rằng: “Yo Dhammam passati so mam passati. Yomam passati so dhammam passati – Ai thấy được pháp gọi là thấy Như Lai. Ai thấy được Như Lai cũng gọi là thấy pháp”.

Hơn nữa, này ông Vakkali, thân này dầu cho tốt đẹp đến đâu một ngày kia phải tiêu hoại không bền, khổ não, vô ngã cả, ông không nên quyến luyến chi đến thân uế trược này. Khi thuyết xong, ông Vakkali đắc A-la-hán luôn cả huệ phân tích liền bay đến chỗ Phật ngự đảnh lễ đức Thế Tôn.

Giải tới đây để chỉ rõ cho thấy, có người vì quá trong sạch, thoả thích với tướng tốt của Ngài mà được sanh về nhàn cảnh hoặc bỏ hết mọi sự đời xuất gia cho đến khi đắc đạo quả cũng có.

- Dứt 32 tướng tốt của Đức Phật-

Soạn xong tại P. Penh mùa Hạ năm Tân Sửu, PL. 2505 – DL. 1961

Bhikkhu Nāga Mahā Thera – Tỳ khưu Bửu Chơn

---


Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân

Hiệu đề thập ngoạt hoài thai

Tam niên nhũ bộ ai ai cho tường.

Kể ra mỗi sự trăm đường

Nghe thời phải gắng cho thường chớ sai.

Dặn dò già trẻ gái trai

Tưởng công cha khổ, nhớ hoài mẹ lao.

Trước thưa huynh đệ nhậm ngôn

Sau cùng thiện tín đồng môn đạo tình

Hằng ngày lạy Phật tụng kinh

Ráng tu thiền định sửa mình trì trai.

Thập thiện ráng giữ hỡi ai!

Tứ ân báo đáp chẳng sai phận mình.

Nhớ khi sanh sản khổ hình

Trăm cay ngàn đắng muôn ngàn so đo

Thọ thai lòng mẹ thêm lo

Chín tháng chẳng dám ăn no bao giờ.

Năm canh giấc ngủ tờ mờ

Cưu mang thai trẻ trông chờ lo âu

Nghĩ càng luỵ nhỏ thâm bâu

Khổ thân từ mẫu ruột đau như dần.

Khi sanh tán loạn tâm thần

Khó khăn sanh đẻ nửa mừng nửa lo.

Chậm xổ cha thật buồn so

Có khi bái tử chờ cho sổ lòng.

Nhớp nhơ trong chốn cử phòng

Cúi đầu chờ trẻ sổ lòng cho mau.

Lớn khôn phải nghĩ trước sau

Công ơn cha mẹ tả sao cho cùng.

Phải nằm một tháng trong cung

Ô trì huyết máu làm xung hao mòn.

Lá cây đầy nước nồi tròn

Lửa gây hừng hực dưới giường biết bao.

Đắng cay mẹ vẫn không nao

Làm con phải nhớ công lao sanh thành.

Thập ngoạt nhứt tử nhứt sanh

Tam niên gầy ốm mòn xanh thân mình.

Từ tâm mẹ rất thậm tình

Khi con la khóc luôn mình bồng đai.

Máu tươi từ ngực chảy ngay

Biến thành sữa lỏng để rày nuôi con.

Thân không bao quản hao mòn,

Nếu khi đau yếu lại còn chạy quay

Công mẹ giặt rửa liền tay

Chăm lo con trẻ bao nài thối hôi.

Đang đêm thổ tả lôi thôi

Mẹ cha bỏ ngủ rửa nôi lau mình

Rủi khi bịnh hoạn linh tinh

Chân không bén đất tình hình âu lo.

Con cười mẹ cũng vui cho

Con khóc mẹ lại buồn xo lo lường.

Thương con chịu khổ trăm đường

Dưỡng nuôi khôn lớn đoạn trường biết bao.

Làm người phải nhớ ơn cao

Đáp ân cha mẹ công lao sanh thành.

Ráng noi gương sự tu hành

Trau tâm sửa tánh làm lành thêm lên.

Dắt dìu cha mẹ đôi bên

Trên đường sáng suốt đồng lên Niết Bàn.

Hưởng miền cực lạc thanh nhàn

Thoát vòng khổ não muôn ngàn tử sanh.

Báo ân phụ mẫu đành rành

Mong cầu trăm họ thực hành chớ quên.

 

Tỳ khưu Bửu Chơn

 

 

– Dứt tác phẩm 2. 32 tướng của Đức Phật –


[1] Có nhiều chỗ nói đức Phật có 32 tướng lạ và 80 phụ tướng, nhưng theo trong Tam tạng Pāli thì có giải đủ 32 tướng còn 80 phụ tướng thì không thấy nói tới. Trong chú giải chỉ có kể sơ qua rằng : 80 phụ tướng ấy cũng do 32 tướng ấy mà kể thêm ra, có tướng thì giải có 2 hoặc 3 điều vi tế thêm nữa, vì vậy mà mới có thêm đến 80 phụ tướng.

[2] Có nhiều gia chủ phú hộ, giúp đỡ đức vua.

[3] Vật phụ-tùng có 10 thứ là : cơm, nước, vải, xe, tràng hoa, vật thoa mình, giường ghế, chỗ ở, đèn hoặc dầu.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/11/2022(Xem: 475)
Đức Phật thuyết giảng giáo nghĩa Đại thừa vì tám lý do, được nêu lên ở trong bài kệ của Đại thừa trang nghiêm kinh luận: "Bất ký diệc đồng hành Bất hành diệc thành tựu Thể, phi thể, năng trị Văn dị bát nhân thành". Bài kệ này nêu lên tám lý do, tám bằng chứng kinh điển Đại thừa là do đức Phật nói chứ không phải là ai khác. Hàng Thanh văn không đủ khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Hàng Duyên giác không có khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Bồ tát cũng chưa đủ sự toàn giác để nói kinh điển Đại thừa. Còn đối với ngoại đạo thì đương nhiên không thể nói được một từ nào ở trong kinh điển Đại thừa. Có nhiều vị cố chấp, thiên kiến nói rằng kinh điển Đại thừa do ngoại đạo tuyên thuyết; nói như vậy là hồ đồ, không có luận cứ. Tu tập đến cỡ như hàng Thanh văn, hàng Duyên giác mà còn không nói được kinh điển Đại thừa thì làm gì cái đám ngoại đạo chấp ngã, chấp trước, chấp danh, chấp lợi mà nói được kinh điển Đại thừa. Cho nên nói kinh điển Đại thừa do ngoại đạo nói, đó
02/11/2022(Xem: 807)
Bấy giờ, tôi khoảng chín tuổi, một hôm đi xem đưa đám tang ông Võ Hờ trong xóm, thấy mọi người đi sau đám tang đều khóc nức nở và tức tối. Thấy họ khóc, tôi cũng khóc, nhưng bấy giờ tôi không biết tại sao tôi lại khóc như vậy.
31/10/2022(Xem: 576)
SOTAPATTI, quả vị Dự lưu, là cấp bậc đầu tiên trong bốn cấp bậc giác ngộ được đề cập trong Phật giáo Sơ kỳ. Tên gọi của quả vị nầy là từ ý nghĩa của một hành giả nhập vào dòng chảy không thối chuyển (sotāpanna, thánh Dự lưu) đưa đến giải thoát hoàn toàn. Dòng chảy nầy chính là đường thánh tám chi (Bát chi Thánh đạo, SN 55:5, kinh Sāriputta), là dòng sông hướng đến Niết-bàn cũng giống như sông Hằng chảy ra biển cả (SN 45:91, kinh Phương đông). Thời gian cần thiết để dòng sông nầy tiến đến mục tiêu tối hậu là tối đa bảy kiếp sống, không kiếp nào tái sinh trong cõi giới thấp hơn cõi người (SN 55:8, kinh Giảng đường bằng gạch).
29/10/2022(Xem: 1067)
Nhận tin nhắn trễ trên Viber sau khi đã ra khỏi nhà, và mãi đến trưa con mới trở về nên con chỉ nghe lại bài phỏng vấn này do TT Thích Nguyên Tạng có nhã ý cho chúng đệ tử học hỏi thêm giáo lý Phật Pháp trước khi Ngài trở về trú xứ Hoa Kỳ sau 3 tuần tham dự Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư và Lễ Mừng 32 năm Khai Sơn Tu Viện Quảng Đức, vào trước giờ có pháp thoại của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục của Giáo Hội Úc Châu cùng ngày. Tuy nhiên với sự ngưỡng mộ của con đối với bậc cao tăng trí tuệ viên minh, diệu huyền thông đạt như Ngài, mà những lời Ngài trình bày qua những kinh nghiệm tu chứng hành trì, hạnh giải tương ưng thu thập được trong suốt hơn 46 năm qua đã khiến con phấn chấn tu tập hơn, hầu đạt được mục đích tối cao mà Đức Phật đã truyền trao nên con đã nghe lại đôi lần vào hôm nay để có thể uống được cam lồ qua những lời đáp trao đổi Phật Pháp. Thành kính tri ân TT Thích Nguyên Tạng và HT Thích Đồng Trí và kính xin phép cho con chia sẻ lại những gì con đã học được.
13/07/2022(Xem: 4151)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 4115)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
17/11/2021(Xem: 11283)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 9413)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
08/11/2021(Xem: 7529)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 7089)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,261,329