Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chân Kinh & Toán Học

22/03/201622:37(Xem: 3370)
Chân Kinh & Toán Học

Chân Kinh & Toán Học

*

Lê Huy Trứ, MSEE

 

 

  1. 1.    Giới Thiệu

 

Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa (sa. saddharmapuṇḍarīka-sūtra), hay Pháp Hoa, Phật ám chỉ ba cỗ xe (Tam Thừa) cũng chỉ là thành phần của một cỗ xe, là Nhất Thừa (sa. ekayāna) và kinh chỉ dạy tuỳ theo khả năng tâm trí, tiếp thu bất đồng của mỗi Phật Tử.

 

Tôi cũng nghe như vầy:  Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là Vua của tất cả các kinh điển Phật Giáo. 

 

Theo tôi thì tất cả các Chân Kinh Phật Giáo đều là ‘vua’ của tất cả kinh điển.  Tất cả 84000 pháp môn như những dược vương cứu khổ rất hữu hiệu cho mỗi căn bệnh vô minh của chúng sinh.  Nhưng hình như tông phái (thừa) nào cũng còn chấp ngã, phân biệt nhị nguyên, tự phong cho mình là ‘thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn.’  Tôi không nghĩ Đức Thế Tôn dạy pháp chấp ngã thượng mạn như vậy mà theo tôi hiểu thì Ngài sáng lập ra ‘đạo Phật tân thời’ 2600 năm về trước vì Ngài thấy những đạo khác ở Ấn Độ thời đó hình như ‘đi trật đường rầy’ nên Ngài chỉ điều chỉnh lại? 

 

Có lẽ Bát Nhã Tâm Kinh là ‘duyên khởi Phật Đà’ đối với tôi nên tôi hơi thiên vị cứ tưởng kinh này là ‘Sư tổ chân kinh’ (Master Sutra.)  Kinh này cứ như là tuyệt kỷ ‘vô chiêu thắng hữu chiêu’ thiện nghệ tìm thấy chổ hổng.  Nó giúp tôi thấy đâu đâu cũng có lỗ hổng trống không của vòng tròn lớn lẫn nhỏ đang xoay để ‘thọc gậy hai bánh xe’ lớn nhỏ đó cũng như ứng dụng trí tuệ vô chiêu này vào trong đời sống, triết lý, toán học, khoa học, kỷ thuật, vật lý, vũ trụ và tôn giáo. 

 

Nguyên tắc của vô chiêu là bất động nhưng quán trí tuệ để thấy cái sơ hở của hữu chiêu vì hữu chiêu (sắc) luôn động, có sở trụ vô thường nên sẽ nhi sinh một cái lổ hổng trống ‘không anh minh’ nhưng chứa đầy vô minh của tham sân si và đau khổ đầy khuyết điểm để vô chiêu thừa cơ tức khắc điểm thẳng vào tâm sắc bản lai diện mục của nó.

 

Tôi có tật làm biếng và không kiên nhẫn để đọc hết bộ kinh Bát Nhã cũng như bất cứ bộ kinh khác chỉ có học lóm vài ba chữ:  Sắc là Không; Không là Sắc!  Rồi thì đọc như vẹt với tâm si độn, lòng ngu muội, trí vô minh cho đến bây giờ vẫn không hiểu nó là cái quái đản (ma quái, spooky) gì nữa?

 

Nhưng rồi thì cái Sắc Không này nhập tâm, không muốn viết ra cũng không được vì vậy tôi phải tống nó lên internet để cùng nhau tu học.

 

  1. 2.    Bát Nhã Tâm Kinh và Toán Đại Số

 

Tôi xin dùng toán đại số để chứng minh, Sắc là Không và Không là Sắc trong Bát Nhã Tâm Kinh:

 

The following is my mathematical proof for Form = Emptiness in Buddhism Heart Sutra:

 

Let, a = b where, form is a = 1, and Emptiness = 0

 

Đặt, a = b và Sắc là a = 1, Không = 0, Vô Sắc = -1

 

Bắt đầu với công thức đơn giản trên:

 

Start with the above simple equation:

 

a = b  

 

Nhân 2 vế cho b:

 

Multiply both sides by b:

 

ab = b2

 

Trừ atừ 2 vế và ‘factorize:’

 

Subtract a2 from both sides and factorize:

 

ab−a2 = b2−a2

 

 

a(b−a) = (b+a)(b−a)

 

Đơn giản hóa và cọng -1 cho mỗi vế:

 

Simplify and add -1 to both sides:

 

a = b+a

 

a-1 = b+a-1

 

Bây giờ từ a = b

 

Now since a = b

 

Bắt đầu từ điềm chứng minh này, chúng ta phải viết như thế này:

 

The starting point of this proof, we can write this as:

 

a-1 = 2a-1

 

Và trong trường hợp nơi a = 1

 

And in the case where a =1

 

Chúng ta có:

 

We have:

 

1-1 = 2-1

 

Proved,

0 = 1

 

Đã chứng minh, Không = Sắc

 

Tóm lại:

 

 “In the arithmetic of love, one plus one equals everything, and two minus one equals nothing.”  Mignon McLaughlin

 

Tôi xin phiếm ‘dịch và tả:’

 

Trong toán học của tình yêu, 1 + 1 = tất cả, và 2 - 1 = Không.

 

Trong văn chương lãng mạn: Mình với Ta là tất cả trên đời, và chúng ta thiếu nhau thì đời vô nghĩa.

 

Theo triết lý: Mình với Ta tuy 2 mà 1, và Ta với Mình tuy 1 mà 2,  Mà 2 thiếu 1 thì Có cũng như Không.  Nhị mà trừ một thì không còn nhị nữa mà trở thành Bất Nhị

 

Theo triết lý Phật Giáo, Bát Nhã Tâm Kinh thì Sắc = Không; hay 1 = 0

 

Tôi cũng xin dùng toán đại số để chứng minh, Nhị Nguyên nhi sinh Tam Thừa; Nhị Nguyên = Tam Thừa; hay 1+1 = 3

 

The following is my mathematical proof for Form = Emptiness in Buddhism Heart Sutra:

 

Let, a = b where, a = 1

 

Đặt, a = b và a = 1

 

Bắt đầu với công thức đơn giản trên:

 

Start with the above simple equation:

 

a = b 

 

Nhân 2 vế cho b:

 

Multiply both sides by b:

 

ab = b2

 

Trừ atừ 2 vế và ‘factorize:’

 

Subtract a2 from both sides and factorize:

 

ab−a2 = b2−a2

 

 

a(b−a) = (b+a)(b−a)

 

Đơn giản hóa và cọng 1 cho mỗi vế:

 

Simplify and add 1 to both sides:

 

a = b+a

 

a+1 = b+a+1

 

Bây giờ từ a = b

 

Now since a = b

 

Bắt đầu từ điềm chứng minh này, chúng ta phải viết như thế này:

 

The starting point of this proof, we can write this as:

 

a+1 = 2a+1

 

Và trong trường hợp nơi a = 1

 

And in the case where a =1

 

Chúng ta có:

 

We have:

 

1+1 = 2+1

 

Proved,

1+1 = 3

 

Đã chứng minh, Phân biệt nhị nguyên = Tam Thừa

  1. 3.    Những con số nhị phân, thập phân và ternary trong điện tử (electronics)

Những thí dụ dưới đây cũng chứng minh 1 + 1 = 3; và 1 + 1 = 11 =3; 1 + 1 = 10 =3

Here is an image shows that 1 + 1 = 3:

Đây là một hình ảnh chỉ rằng  1 + 1 =3:

Hay

 

1+1 => 11 => 11 trong nhị phân (binary) là 3 trong thập phân (decimal)

 

Or

 

1+1 => 11 => 11 in binary is 3 in decimal

 

Hay

 

Giả sử 1+ 1 là nhị phân (Binary) và kết quả trong ternary. 1 + 1 = 10 (nhị phân) trong ternary = 3 trong số thập phân (decimal.)

 

Or

 

Assume 1+1 to be binary and the result to be in ternary. 1 + 1 = 10 (in binary) 10 in ternary = 3 in decimal 

 

  1. 4.    Trong trường hợp Bất Nhị (Nhất Thể, Nhất Thừa)

 

 

a+1 = 2a+1

 

Và trong trường hợp nơi a = 0

 

And in the case where a =0

 

Chúng ta có:

 

We have:

 

0+1 = 2 (0) +1

 

Proved,

1 = 1

 

Sắc = Sắc

 

Nhất Thể = Nhất Thể

 

  1. 5.    Trong trường hợp bờ bên kia (dark matters and dark energy)

 

 

a-1 = 2a-1

 

Và trong trường hợp nơi a = 0

 

And in the case where a =0

Chúng ta có:

 

We have:

 

0-1 = 2 (0) -1

 

Proved,

-1 = -1

 

Vô Sắc = Vô Sắc

 

 

  1. 6.    Tóm tắc về Tam Thừa, Pháp Hoa và Bát Nhã Tâm Kinh

 

 

Theo Wikipedia, Tam Thừa (三乘, sa. triyāna) là ba cỗ xe đưa đến Niết-bàn, đó là Thanh văn thừa (zh. 聲聞乘, sa. śrāvakayāna), Độc giác thừa (zh. 獨覺乘, sa. pratyekabuddhayāna) và Bồ Tát thừa (zh. 菩薩乘, sa. bodhisattvayāna). Đại thừa gọi Thanh văn thừa là Tiểu thừa (sa. hīnayāna) với sự đắc quả A-la-hán (sa. arhat) là mục đích, Độc giác thừa là Trung thừa (sa. madhyamāyāna) với quả Độc giác Phật. Bồ Tát thừa được xem là Đại thừa (sa. mahāyāna) vì nó có thể cứu độ tất cả chúng sinh và hành giả trên xe này cũng có thể đắc quả cao nhất, quả Vô thượng chính đẳng chính giác (zh. 無上正等正覺, sa. anuttarasamyaksaṃbodhi).

 

Triyāna (Skt, three vehicles). In Mahāyāna literature, a name used for the three ways to salvation. These are: (1) the Śrāvakayāna or ‘vehicle of the hearers’ (also known as the Hīnayāna); (2) the Pratyekabuddhayāna or ‘vehicle of the Solitary Buddhas’; and (3) the Bodhisattvayāna or ‘vehicle of the Bodhisattvas’. Different ‘vehicles’ are said to have been taught by the Buddhas at different times as appropriate for different individuals. According to the Mahāyāna, however, the highest and greatest is the last.

 

 

 

Các phương tiện khác nhau như Thanh Văn thừa, Độc Giác thừa hay Bồ Tát thừa thật ra chỉ khác nhau vì phải cần phù hợp căn cơ của hành giả. Phật chỉ tuỳ cơ duyên, sử dụng các Phương tiện (sa. upāya) mà nói Tam thừa nhưng thật chất chỉ có Phật thừa (sa. buddhayāna) – nó dẫn đến Giác ngộ, bao trùm cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa.

 

Diệu pháp liên hoa kinh (zh. 妙法蓮華經, sa. saddharmapuṇḍarīka-sūtra), cũng được gọi ngắn là kinh Pháp Hoa.  Kinh này được Phật giảng trên đỉnh Linh Thứu cho vô số người nghe gồm có nhiều loài khác nhau. Trong kinh này, Phật chỉ rõ, tuy có nhiều cách để giác ngộ, nhưng chúng chỉ là phương tiện nhất thời và thực tế chúng chỉ là một.

 

The Lotus Sūtra (Sanskrit: Saddharmapuṇḍarīka Sūtra, literally Sutra on the White Lotus of the Sublime Dharma) is one of the most popular and influential Mahayana sutras and the basis on which the Tiantai, Tendai, Cheontae, and Nichiren schools of Buddhism were established. For many East Asian Buddhists, the Lotus sutra contains the ultimate and complete teaching of the Buddha and the reciting of the text is believed to be very auspicious.

 

Trong kinh có ghi lý do Đức Phật xuất hiện nơi đời chỉ vì một đại sự nhân duyên lớn đó là Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Tại Phẩm Như Lai Thọ Lượng có nói rõ đức Phật Thích Ca Mâu Ni thọ mạng vô lượng, thành đạo từ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp về trước, đức phật có nhập Niết Bàn cũng chỉ là phương tiện để giáo hóa chúng sinh, nhưng thực ra đức Phật Thích Ca vẫn ở lai nơi đời thường còn chẳng mất.

 

Trong kinh này, Phật không còn được xem là vị Phật lịch sử nữa mà là dạng xuất hiện của Pháp thân (sa. dharmakāya, xem Tam thân), là thể tính đích thật của muôn loài. Mỗi chúng sinh đều xuất phát từ dạng chuyển hoá này của Phật tính và vì vậy đều có thể trở về với chân tính của mình, trở thành một vị Phật.

Bát-nhã-ba-la-mật-đa (zh. 般若波羅蜜多, sa. prajñāpāramitā, en. perfection of wisdom/insight, de. Vollkommenheit der Weisheit/Einsicht/Erkenntnis) có nghĩa là sự toàn hảo (sa. pāramitā, en. perfection) của Bát-nhã (sa. prajñā). Cũng được gọi ngắn là Bát-nhã-ba-la-mật.

Truyền thống Đại thừa Đông á thường dịch nghĩa prajñāpāramitā là Huệ đáo bỉ ngạn (zh. 慧到彼岸), Trí độ (zh. 智度), Trí huệ độ người sang bờ bên kia. Tuy có vấn đề về mặt ngữ nguyên - ví như chiết tự pāram-itā và cho pāram là bỉ ngạn, là bờ bên kia và itā là đến, bước sang (gốc động từ √i, eti) - nhưng cách dịch Huệ đáo bỉ ngạn hoặc Trí độ vẫn có nghĩa vì chúng chỉ đến một loại trí huệ độ người sang bờ bên kia, từ bể luân hồi đến bờ niết-bàn. Bát-nhã-ba-la-mật-đa cũng là tên của một số bộ kinh quan trọng, xuất hiện khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, với nội dung xoay quanh chính Bát-nhã-ba-la-mật-đa này, và cũng là tên của một vị Bồ Tát.

Prajñāpāramitā means "the Perfection of (Transcendent) Wisdom" in Mahāyāna Buddhism. Prajñāpāramitā refers to this perfected way of seeing the nature of reality, as well as to a particular body of sutras and to the personification of the concept in the Bodhisattva known as the "Great Mother" (Tibetan: Yum Chenmo). The word Prajñāpāramitā combines the Sanskrit words prajñā "wisdom" with pāramitā "perfection". Prajñāpāramitā is a central concept in Mahāyāna Buddhism and is generally associated with the doctrine of emptiness (Shunyata) or 'lack of Svabhava' (essence) and the works of Nagarjuna. Its practice and understanding are taken to be indispensable elements of the Bodhisattva path.

According to Edward Conze the Prajñāpāramitā Sutras are "a collection of about forty texts...composed in India between approximately 100 BC and AD 600." Some Prajñāpāramitā sūtras are thought to be among the earliest Mahāyāna sūtras.

One of the important features of the Prajñāpāramitā Sutras is anutpada (unborn, no origin).

Một bản của kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa bằng tiếng Phạn

References:

  1. http://puzzling.stackexchange.com/questions/5656/when-does-11-3
  2. Wikipedia
  3. http://dictionary.buddhistdoor.com/en/word/16617/triyana

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/202109:18(Xem: 92336)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
05/09/202110:22(Xem: 1257)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
01/09/202118:55(Xem: 762)
Với sự xuất hiện của virus SARS-CoV2 ở Vũ Hán - Trung quốc cuối năm 2019, và tiếp theo sau là sự lây lan rộng khắp thành một đại dịch toàn cầu, các tổ chức Phật giáo đã ra tay hành động khắp nơi trên thế giới. Đáp ứng của Phật giáo rất đa dạng, phản ảnh sự khác biệt giữa các tông phái và các nền văn hóa, tuy nhiên họ đã hội tụ quanh những chủ đề chung theo những tiền lệ đã được ghi sâu trong lịch sử. Một ví dụ về sáng kiến gần đây là dự án “ Làm Phẳng Đường Cong” do Hội Từ Tế ( Tzu Chi Foundation ) Chi Nhánh Hoa Kỳ công bố - đây là một Tổ chức nhân đạo Phật giáo khổng lồ đặt trụ sở trung ương tại Đài-loan, có trên 10 triệu hội viên và 45 chi nhánh khắp thế giới. Trong một thông cáo báo chí vào đầu tháng 4 , Hội Từ Tế Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ sẽ phân phối hằng triệu khẩu trang và dụng cụ y tế cho các nhân viên y tế làm việc ở tuyến đầu, và khởi động một chương trình hỗ trợ cho những người chịu tác động của đại dịch về mặt kinh tế xã hội. Những sáng kiến ấy ở Hoa kỳ bổ sung cho
23/07/202117:47(Xem: 964)
Giữa tương quan sinh diệt và biển đổi của muôn trùng đối lưu sự sống, những giá trị tinh anh của chân lý bất diệt từ sự tỉnh thức tuyệt đối vẫn cứ thế, trơ gan cùng tuế nguyệt và vững chãi trước bao nổi trôi của thế sự. Bản thể tồn tại của chân lý tuyệt đối vẫn thế, sừng sững bất động dẫu cho người đời có tiếp nhận một cách nồng nhiệt, trung thành hay bị rũ bỏ, vùi dập một cách ngu muội và thô thiển bởi các luận điểm sai lệch chối bỏ sự tồn tại của tâm thức con người. Sự vĩnh cửu ấy phát xuất từ trí tuệ vô lậu và tồn tại chính bởi mục đích tối hậu là mang lại hạnh phúc chân thật cho nhân loại, giúp con người vượt thoát xiềng xích trói buộc của khổ đau. Tuỳ từng giai đoạn của nhân loại, có những giai đoạn, những tinh hoa ấy được tiếp cận một cách mộc mạc, dung dị và thuần khiết nhất; có thời kỳ những nét đẹp ấy được nâng lên ở những khía cạnh khác nhau; nhưng tựu trung cũng chỉ nhằm giải quyết những khó khăn hiện hữu trong đời sống con người và xã hội.
07/05/202118:35(Xem: 1678)
Phật Điển Thông Dụng - Lối Vào Tuệ Giác Phật, BAN BIÊN TẬP BẢN TIẾNG ANH Tổng biên tập: Hòa thượng BRAHMAPUNDIT Biên tập viên: PETER HARVEY BAN PHIÊN DỊCH BẢN TIẾNG VIỆT Chủ biên và hiệu đính: THÍCH NHẬT TỪ Dịch giả tiếng Việt: Thích Viên Minh (chương 11, 12) Thích Đồng Đắc (chương 1, 2) Thích Thanh Lương (chương 8) Thích Ngộ Trí Đức (chương 7) Thích Nữ Diệu Nga (chương 3, 4) Thích Nữ Diệu Như (chương 9) Đặng Thị Hường (giới thiệu tổng quan, chương 6, 10) Lại Viết Thắng (phụ lục) Võ Thị Thúy Vy (chương 5) MỤC LỤC Bảng viết tắt Bối cảnh quyển sách và những người đóng góp Lời giới thiệu của HT Tổng biên tập Lời nói đầu của Chủ biên bản dịch tiếng Việt GIỚI THIỆU TỔNG QUAN Giới thiệu dẫn nhập Giới thiệu về cuộc đời đức Phật lịch sử Giới thiệu về Tăng đoàn: Cộng đồng tâm linh Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Thượng tọa bộ Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Đại thừa Giới thiệu về các đoạn kinhcủa Phật giáo Kim cương thừa PHẦN I: CUỘC ĐỜI ĐỨC
09/03/202107:55(Xem: 1381)
Anton đã nói với tôi rằng một người bạn nổi tiếng của ông một lần nọ đã lưu ý rằng hầu hết những nhà vật lý lượng tử liên hệ đến lãnh vực này thì ở trong phong thái tâm thần phân liệt. Khi họ ở trong phòng thí nghiệm và chơi đùa với mọi thứ, thì họ là những người thực tế. Họ nói về những quang tử (photon) và điện tử đi đây và đi đó. Tuy nhiên, lúc chuyển sang việc thảo luận triết lý, và hỏi họ về nền tảng của cơ học lượng tử, thì hầu hết sẽ nói rằng không có gì thật sự tồn tại mà không có cơ cấu nhận – định nó.
29/11/202014:03(Xem: 2827)
“Ma” tiếng Phạn gọi là Mara, Tàu dịch là “Sát,” bởi nó hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. “Ma” cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối thất đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác, rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến Niết-bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong luân hồi sanh tử, gọi là Ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong "Niệm Phật Thập Yếu", Ma tuy nhiều, nhưng cốt yếu chỉ có ba loại: Phiền não ma, Ngoại ma và Thiên ma
04/11/202019:34(Xem: 1887)
Những chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn: Các chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn được chứng ngộ khi nghe được những học thuyết về các Uẩn, Giới, Xứ, nhưng lại không đặc biệt lưu tâm đến lý nhân quả. Họ giải thoát được sự trói buộc của các phiền não nhưng vẫn chưa đoạn diệt được tập khí của mình. Họ đạt được sự thể chứng Niết-Bàn, và an trú trong trạng thái ấy, họ tuyên bố rằng họ đã chấm dứt sự hiện hữu, đạt được đời sống Phạm hạnh, tất cả những gì cần phải làm đã được làm, họ sẽ không còn tái sinh nữa. Những vị nầy đã đạt được Tuệ kiến về sự Phi hiện hữu của “Ngã thể” trong một con người, nhưng vẫn chưa thấy được sự Phi hiện hữu trong các sự vật. Những nhà lãnh đạo triết học nào tin vào một "Đấng Sáng Tạo" hay tin vào “Linh hồn” cũng có thể được xếp vào đẳng cấp nầy.
03/10/202020:05(Xem: 5918)
Đây là một bài nghị luận về Lý Duyên Khởi được Ajahn Brahm viết lần đầu tiên hơn hai thập niên trước. Vào lúc đó, ngài quan tâm nhiều hơn đến những chi tiết phức tạp trong việc giảng dạy kinh điển. Vì lý do đó bài nghị luận này có tính cách hoàn toàn chuyên môn, so với những gì ngài giảng dạy hiện nay. Một trong những học giả Phật học nổi tiếng nhất hiện nay về kinh điển Phật giáo đương đại là Ngài Bhikkhu Bodhi, đã nói với tôi rằng “Đây là bài tham luận hay nhất mà tôi được đọc về đề tài này”.
01/06/202010:25(Xem: 9726)
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà (loạt bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng trong mùa dịch cúm Covid-19)