Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Quyển Thứ Năm

08/11/201417:29(Xem: 1468)
Quyển Thứ Năm

Mật Tạng Bộ 2 _No.946 (Tr.172_ Tr.179)

 

ĐẠI PHẬT ĐẢNH QUẢNG TỤ ĐÀ LA NI KINH

_QUYỂN THỨ NĂM_

 

Hán dịch: Mất tên người dịch
Việt dịch: Sa Môn THÍCH QUẢNG TRÍ
Phục hồi  Phạn Chú: HUYỀN THANH

 

Đại Phật Đảnh Vô Úy Bảo Quảng Tụ Như Lai Phật Đảnh

BÍ ĐÀN, BÁT TRỬU ĐẠI ĐÀN PHÁP

_PHẨM THỨ MƯỜI SÁU_

 

Lại nói Vô Cấu Bảo Liên Hoa Phật Đảnh Tụ Tâm Nhất Thiết Như Lai Bí Mật Đại Đàn, Biến Hóa Nhất Thiết Phật Hứa Khả Đàn, Quyết Định Tối Thượng Đàn. Chọn lựa đất thanh tịnh, như nơi gần biển, sông, suối… Đất ấy cần phải mềm mại vi diệu, không có các nhóm: cát, đất mặn, gạch ngói, đá, xương… Đất đều màu vàng kèm có mùi thơm với cỏ xanh mềm. Như bên trên đây mới có thể làm Đàn ấy. Nên sửa trị lấp đất, xoa bôi mặt đất ấy với thềm bậc, lối đi. Kết Giới dựa theo Đàn lúc trước.

Đàn rộng một cánh tay, chính giữa hơi cao khiến cho bằng phẳng, đất ấy sáng bóng giống như mặt gương, liền lấy nước thơm rưới vảy, xoa mài. Màu sắc, vật khí đều phải mới, Giới Đạo thanh tịnh dựa theo Pháp lúc trước.

Chính giữa vẽ một hoa sen báu có 108 cánh với tua nhị đều nên như Pháp, ở bên trên an Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi)

Bên trái an hình sân nộ khủng bố của Kim Cang Tạng (Vajra-garbha)

Bên phải vẽ Ca Nị Sắt Trạch Thiên (Akaṇiṣṭha-deva) ngồi trên mặt đất, buông thõng một chân, diện mạo rất đoan chánh, hoan hỷ nhìn Đức Như Lai. Nơi Đức Phật ngồi, trên hoa quả, trên mỗi một cánh vẽ chư Thiên của 32 Cung

Ở phương Đông, vẽ thân Đế Thích (Indra) với đầy đủ mọi loại trang nghiêm

Phương Nam làm một vị Phạm Thiên (Brahma-deva) như lúc trước

Phương Tây làm một vị Tự Tại Thiên (Īśvara-deva) như lúc trước

Phương Tây làm một vị Đại Tự Tại Thiên (Maheśvara-deva) như lúc trước

Bốn góc vẽ bốn vị Đại Thần Vương kèm các quyến thuộc, trang nghiêm như Pháp.

Xong phần Trung Tâm bên trên, Bắt đầu từ phương Đông, mỗi một khoảng giữa vẽ làm một cái Đàn nhỏ với lối đi giới hạn năm màu (ngũ sắc giới đạo), bốn mặt đều như vậy. Làm một ngăn ở giữa, một mặt chia làm 9 ngăn, một ngăn ở trung tâm làm cái cửa, bốn phương đều làm như vậy, tổng cộng có 32 ngăn

Từ góc Đông Bắc, bắt đầu xoay theo mặt trời chuyển, Thứ nhất làm Ma Ma Kê Thần (Māmakī), thứ hai là Sân Nộ Thần, thứ ba là Đa La Thần (Tārā), thứ tư làm Câu Thần (Aṃkuśa), thứ năm là Kim Cang (cũng gọi là Ca La Tiêu), thứ sáu là Nhật Thần (Āditya), thứ bảy là Đại Bạch Thần Nam Phương, thứ tám là Liên Hoa Tôn Na Thần, thứ chín là Thiên Thần (Devatā), thứ mười là Địa Thần (Pṛthivi), thứ mười một là Sứ Giả Thần (Ceṭaka), thứ mười hai là Kim Cang Sứ Giả (Vajra-ceṭa), thứ mười ba là Kim Cang Nha Thần (Vajra-daṃṣṭra), thứ mười bốn là Công Đức Thiên Thần (Śrī-devatā), thứ mười lăm là Bà La Tô Phạ Thần, thứ mười sáu là Nguyên Tỉ Thần, thứ mười bảy là Hư Không Tạng Thần (Ākāśa-garbha-devatā), thứ mười tám là Hải Thần (Sāgara-devatā), thứ mười chín là Chấp Loa Thần (Śaṅkha-dhāra-devatā), thứ hai mươi là Loa Kế Thần, thứ hai mươi mốt là Đại Hắc Thần (Mahā-kāla-devatā), thứ hai mươi hai là Kim Cang Tộc Thần (Vajra-kulāyā-devatā), thứ hai mươi ba là Diêm La Vương Thần (Yama-rāja-devatā), thứ hai mươi bốn là Sân Nộ Dạ Xoa (là Hỏa Thần: Agni-devatā), thứ hai mươi lăm là Long Vương Thần (Nāga-rāja-devatā), thứ hai mươi sáu là Bạt Nan Đà Long Vương Thần (Upananda-nāga-rāja-devatā), thứ hai mươi bảy là Ma Nữ Thần

Chư Thần bên trên đều tùy theo Bản Pháp của mình trang nghiêm khuôn mặt hình sắc của mình. Ở bốn góc của Ngoại Viện để Ấn Cát Tường hoặc bốn vị Thiên Vương cũng được.

 

_Lại vẽ Viện thứ nhất bên ngoài Đàn, vẫn làm 9 ngăn, từ góc Đông Bắc bắt đầu vẽ

Thứ nhất làm Kim Cang Ấn, thứ hai là Chuyển, thứ ba là Tam Cổ Xoa, thứ tư là sợi dây, thứ năm là Phục Đột, thứ sáu là Thiên Bổng (cây gậy), thứ bảy là Thiên Chùy (cái chùy), thứ tám là Thiên Chử (cái chày), thứ chín là Thiên Đao (cây đao), thứ mười là Thiên Tràng (cây phướng), thứ mười một là Bạt Chiết La (Vajra: chày Kim Cang), thứ mười hai là Loa (cái loa bằng vỏ ốc), thứ mười ba là tòa Sư Tử (tòa cao bằng một ngón tay của Đức Phật), thứ mười bốn là cây phướng (tràng), thứ mười lăm là Ma Kiệt Ngư Sáo (cây giáo), thứ mười sáu là Liên Hoa Kích (bốn cây kích để ở bốn góc. ND: như vậy thành số đếm là 19), thứ hai mươi bốn (?) là bốn cái bình báu (an trí ở 4 góc. ND: như vậy thành số đếm 23), thứ hai mươi lăm (?) là Cát Tường Ấn (quyết định làm ở 4 bốn mặt. ND: như vậy thành số đếm 27)

Phương Nam làm một lò lửa do vị Thần cầm, phương Đông làm một Linh Đạc (cái chuông), phương Tây làm một cái bát báu, phương Bắc là áo Cà Sa có 25 điều. Lại ở  bên ngoài, vẽ bề mặt của một lớp đều rộng bốn khuỷu tay, chia làm hai lớp

 

_Ở trong Nội Viện, y theo màu sắc của phương hướng vẽ hoa sen bảy báu trên mặt đất, một mặt để riêng 7 cái, ở bên trong Viện, y theo phương mà vẽ màu sắc

Phương Đông ở trong Nội Viện là một cái Đàn nhỏ rộng 2 khuỷu tay. Trong Đàn làm Trí Tuệ Bồ Tát (Prajña-bodhisatva: làm hình Chấp Pháp), Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteśvara-bodhisatva), Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Mañajuśrī-bodhisatva), Trừ Cái Chướng Bồ Tát (Nīvaraṇa-viṣkaṃbhin-bodhisatva), Hư Không Tạng Bồ Tát (Ākāśa-garbha-bodhisatva), Địa Tạng Bồ Tát (Kṣiti-garbha-bodhisatva). Lại làm một hoa sen an một cái bát báu như hình mặt trăng.

Phương Nam cũng làm cái Đàn nhỏ rộng 2 khuỷu tay. Trên Đàn làm các vị Đại Bồ Tát: Phổ Hiền Bồ Tát (samanta-bhadra-bodhisatva), Từ Thị Bồ Tát (Maitreya-bodhisatva), Kim Cang Tạng Bồ Tát (Vajra-garbha-bodhisatva), Vô Tận Ý Bồ Tát (Akṣaya-mati-bodhisatva), Hải Tạng Bồ Tát (Sāgara-garbha-bodhisatva), Kim Cang Khế Bồ Tát (?Vajra-mudra-bodhisatva). Các vị Bồ Tát đó có tay phải cầm: Ấn Khế, hoa, Kinh, viên ngọc báu đều tùy theo Bản Hình mà làm.

Phương Tây như lúc trước làm cái Đàn nhỏ rộng 2 khuỷu tay, bên trên làm Dược Vương Bồ Tát (Bhaiṣaijya-rāja-bodhisatva)… Các vị Bồ Tát đó có tay cầm: Trời, Đất, biển, núi Tu Di, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao (tinh thần), ba ngàn Đại Thiên Thế Giới… đầy đủ mọi loại trang nghiêm

Phương Bắc làm cái Đàn nhỏ rộng 2 khuỷu tay như lúc trước. Vẽ Kim Chấp Bạt Chiết La (Suvarṇa-vajra-dhāra), Đại Đao (Mahā-khaḍga), Kim Cang Sư Tử Vương (Vajra-siṃha-rāja), Tống Bà Kim Cang (Sumbha-vajra), Kim Cang Chử (Vajra:chày Kim Cang), Kim Cang Câu (Vajrāṃkuśa), Bàn Long Bạt Chiết La, Liên Hoa Bạt Chiết La (Padma-vajra), Đại Liên Hoa Bạt Chiết La (Mahā-padma-vajra), Kim Cang Tỏa (Vajra-śaṃkhara), Kim Cang Đao (Vajra-khaḍga), Kim Cang Sáo Kích, Kim Cang Sáo…. Đều vẽ ở phương Bắc trên Đàn

 

_Tiếp theo làm Pháp của ba loại cọc để Kết Giới (tam chủng kết Giới Quyết Pháp). Thứ nhất là cây cọc bằng gỗ Đàn Hương, thứ hai là cây cọc bằng đồng, thứ ba là vây cọc bằng gỗ cây Đà La

Bình thường làm các tất cả Đàn đều nên để nước trong nhóm vật khí bằng vàng, bạc… nếu không có thì dùng cái bình bằng sành sứ mới, nghiêm chính chọn một cái bồn bằng vàng, bạc. Lò hương bằng vàng, bạc, đồng… nếu không có thời dùng nhóm sành sứ mới cũng được,

Đem thức ăn uống, hương xoa bôi, hương bột, mọi loại hoa quả… xếp xồng chất trong vật khí, ở trước mặt Phật, Bồ Tát, hàng Thiên Thần… cúng dường. Bốn góc của cái Đàn ấy, an trí tháp Xá Lợi bảy báu, bốn cái lò hương, mọi loại châu báu cũng đem cúng dường. Bốn mặt trên Đàn đều để mọi loại thức ăn uống, hoa quả, hương, dầu… nên như Pháp. Nhóm tượng Phật đều ở mặt ngoài của Đàn, hướng mặt vào Đàn. Mặt ngoài của Đàn ấy hướng vào Đàn, nhóm phan, hoa… đều nên như Pháp.

 

_Phương hướng đốt hương:

Bát Đa La Hương (là Hoắc Hương), Huân Lục Hương, Chiên Đàn Hương (là Bạch Đàn), Đốt Lỗ Sắc Ca Hương (Turuṣka: là Tô Hợp Hương), Trầm Hương (Ác Yết Lỗ), Cũ Cụ La (An Tất Hương), An Thiện Hương, Tát Nhã Bà La Hương (là Bà Luật Cao), Giáp Hương, Long Não Hương, Xạ Hương, Cộng Củ Ma (là Uất Kim Hương). Mười hai vị này là vua của tất cả hương, dùng thiêu đốt trên Đàn

Lại đem mọi loại âm nhạc cúng dường (Chú Sư liền làm Pháp)

 

_Tiếp theo làm Pháp Kết Giới: Trước tiên kết Tứ Phương Giới, tiếp theo kết Đàn Pháp Giới, tiếp theo kết Đảnh Giới, tiếp theo kết Hộ Thân Giới (với người khác), tiếp theo kết Đại Hộ Thân, liền làm Nhập Đàn Pháp Giới, Hành Đạo Tam Muội Giới với Đệ Tử Ấn Chú kèm kết Giới, Hoa Giới (sau đó cầu Pháp thành tựu)

 

_Lại có Pháp, Chú Sư nên tắm gội thân sạch sẽ, mặc áo sạch, một ngày ba thời tắm gội, sau đó ngồi ở chỗ thanh tịnh, chẳng được đến nơi ô uế, thường nên làm Trai, sau đó tụng Chú, tế Hỏa Thần một ngày ba thời cúng dường

Chọn ngày tốt, giờ tốt, (Nakṣatra) tốt, Diệu (Grahā) tốt, cần tướng tốt lành, vào ngày 15 của kỳ Bạch Nguyệt, tự thân thanh tịnh, chặt đứt các Sắc Dục, làm Hạnh chân thật, phát Tâm Từ (Maitra-citta), lìa hạnh tham sân si, tác Ý bình đẳng, sau đó được làm Pháp Kết Giới, tự thân Ấn Chú đều làm như bên trên, cầu thỉnh, nghênh truy, Sân Nộ Chú, Tọa Pháp, Thiện Diện Chú phát khiển… mỗi mỗi y theo Chú Pháp mà làm. Lại tất cả Tỳ Na Dạ Ca, Dạ Xoa, La Sát với các nhóm Ma ác gây não hại thì Chú Sư đều nên cột trói lại.

Như trên đã nói, mỗi một thứ tự làm Pháp, sau đó cầu thành tựu.

 

Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói Kệ là:

“Hay vào Đàn này với làm Pháp

Nghiệp Chướng, Báo Chướng, Phiền Não Chướng

Năm Nghịch, bốn Trọng với ba Ác

Thảy đều tiêu diệt, quyết không nghi

Thoáng không gián đoạn thành tựu lớn

Công Đức khôn sánh khó nghĩ bàn

Thanh tịnh trong suốt như Ma Ni

Rất sạch mềm mại như dát vàng

Như Ta: thanh tịnh không nhiễm dơ

Mau dứt nghi ngờ thành Bồ Tát

Trụ đời, Nhân Thiên Tối Tôn Vương (vua cực tôn quý trong hàng người trời)

Thường hành Thế Gian, không mọi khổ

Như trăng trên không chiếu bốn châu

Giống như trăng đầy chiếu chúng sanh

Mọi sao vây quanh trăng tối thắng

Thường phóng tất cả ánh sáng lớn

Đều do sức Phật Đảnh Hỏa Đàn

Bốn Chúng Sát Lợi, các Đại Vương

Hoàng Hậu, Phi Tần với cung nữ

Thể Tướng, các Quan, hàng Sĩ Quan

Thảy đều tôn trọng, cầu yêu thích

Thân được thành tựu Bất Thoái Chuyển

Tất cả Như Lai cùng diễn nói

Đều do được vào Phật Đảnh Đàn

 

Đại Phật Đảnh Vô Úy Bảo Quảng Tụ Như Lai Phật Đảnh

ÁI LẠC DƯỢC PHÁP (Pháp thuốc yêu thích)

_PHẨM THỨ MƯỜI BẢY_

 

Bấy giờ lại nói thuốc cùng yêu thích nhau: tịnh trừ, giáng phục chúng sanh có Tâm ác, giáng phục Ngoại Đạo, chẳng kể nam, nữ, đàn bà… hô gọi Dạ Xoa, La Sát cùng khiến cho vui vẻ, sai khiến.  Như trên đã nói đều hay hàng phục, thường sai khiến được giống như nô bộc, cũng không có Tâm sân hận.

Khi ấy, Đức Thế Tôn liền nói Kệ là:

“Hoặc nam, hoặc nữ, các Thiên Vương

Phi Hậu, cung nhân với cung nữ

Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, bốn Chúng,

Tất cả bốn Chúng đều quy y

Cho đến một đời với diệt độ

Nay Ta nói công năng của hương

Bộ Đa (Bhūta), Địa Thần (Pṛthivi-devatā), Cưu Bàn Trà (Kumbhaṇḍa)

Y hương (hương tẩm trên áo), Huân hương (hương xông ướp), Đồ Thân Hương (hương xoa bôi thân)

Nếu có ướp dính thuốc hương này

Có người ngàn dặm vây năm lớp

Sức thuốc nhiếp nên mau đi đến

Trời (Deva), Rồng (Nāga), Dạ Xoa (Yakṣa), Dược Sư Ni (?Rākṣasa: La Sát)

Kim Sí (Garuḍa), Thát Càn (Gandharva), Khẩn Na La (Kiṃnara)

Ma Hầu La Già (Mahoraga), A Tu La (Asura)

Tỳ Kheo (Bhikṣu), Sát Đế (Kṣatriya), Bà La Môn (Brāhmaṇa)

Tỳ Xá (Vaiśya), Thủ Đà (Śūdra), các nhóm chúng

Đều đến tùy ý, thường cung kính

Cho đến mạng chung, Tâm chẳng lùi

Bốn phương truy nhiếp, tùy Tâm đến

Ngàn dặm ngửi hương đều mê loạn

Đều do sức thuốc hay thâu nhiếp

Nơi ý nghĩ nhớ đều thành tựu

Trầm Hương, Tiên Hương, Đàn Hương, An Tất Hương, Giáp Hương, Tát Tất Lật ca (là Ba Tây Mục Túc Hương), Tát Giả La Bà (nước cốt cây Sa La), Mang Tư Hương (là Cam Tùng Hương), Hương Phụ Tử, Thanh Mộc Hương, Tất Lý Nghệ Cụ Na La Đà (là Ba Tây Địch Căn), Thiên Thi La (là Tế Tân màu trắng mà mùi thơm cũng gọi là Căn Hương), Uất Kim Hương, Thạch Mật, bơ mật tốt… các nhóm bên trên chia bằng nhau, giã nhỏ vụn, hòa với bơ làm thành viên như hạt bắp. Dùng Căn Bản Chú chú vào 1008 biến, dùng Sân Nộ Kim Cang Chú chú vào 1008 biến, dùng Sân Nộ Tâm Chú chú vào 1008 biến, dùng Sân Nộ Trung Tâm Chú chú vào 1008 biến. Tụng xong, đem hương này đến chỗ cao, thiêu đốt một viên thì cảm được núi lớn lay động, hết thảy Trời Rồng, mười loại Thiên Chúng ngửi được mùi thơm đều tuôn mưa, Càn Thát Bà đều nhiếp đến, Khẩn Na La Thiên Nữ đều đi đến, gấp rút như bị lửa đốt. Tất cả nhóm có sức mạnh khó giáng phục ngửi thấy mùi thơm đều tự đi đến. Đây gọi là Kim Cang Tâm Trung Tâm Tốc Nhiếp Quang Tụ Hương Vương Phương

 

_Lại có Pháp, Nếu Chú Sư tự xông ướp hương này, hoặc xông ướp quần áo. Xông ướp xong thì nơi Chú Sư đã đi đến, bốn Chúng đều đến tụ hội, hoặc nam hoặc nữ, Đồng Nam, Đồng Nữ đều sanh cung kính. Xông ướp thuốc hương này đều được nhiếp đến, đều phát Thiện Tâm, yêu thích lẫn nhau, bình thường đi theo sau chẳng xa lìa. Tất cả nhóm Ma ác, Tỳ Na Dạ Ca với các La Sát bạo ngược (La Sát tật), nhóm cọp gây khốn khó (hổ bệnh)…khiến cho con người chết đột ngột, tất cả Quỷ Thần chẳng thể gây hại. Thường được Thiện Thần ủng hộ, thân như mặc áo giáp Kim Cang, Chú Sư liền phóng ánh sáng lớn

Nếu muốn nhiếp mọi người, lấy tên gọi với hình trạng của người ấy, vẽ để trong cái hũ mới chưa từng dùng qua, bốn mặt vẽ hoa tạp (đủ thứ hoa) che hợp lại, để đáy hũ hướng lên trên, bên trong đốt hương xông ướp. Ở trong  hình trạng, họ tên để năm sanh với tháng sanh, hoặc nam hoặc nữ đều như lúc trước đã nói, đều hay nhiếp lấy vàng, bạcg, tài bảo, nô tỳ, Lục Súc… tất cả sự cần thiết đều đạt được.

Nếu muốn vì người khác, đều nên như vậy nhiếp ngàn dặm, chẳng quá 7 ngày đều hay đi đến.

 

_Lại có Pháp, nếu muốn nhiếp hàng Rồng. Dùng bùn bằng phân bò làm con Rồng chín đầu, lấy 7 hạt Hương lúc trước, dùng miến được làm bằng hạt gạo lớn làm lò hương rồi thiêu đốt trước mặt Rồng, xưng tên gọi của Rồng với viết tên Rồng để ở trên hình tượng, cũng xưng gọi tên ấy thì bảy Tộc đều đi đến trước mặt Chú Sư. Hết thảy nơi sai khiến đều chẳng dám trái ngược, sai hẹn. Như ngưng dứt gió ác, sương, mưa đá, sấm chớp, sét đánh, mây ác… muốn hạ xuống, muốn ngưng dứt đều tùy theo ý sai khiến chẳng dám trái ngược. Nếu thường cúng dường Rồng đấy thì Rồng liền đứng dậy, bay lên hư không mà đi.

Nếu đem hương lúc trước thiêu đốt trước mặt Phật thì tượng Phật ấy liền đứng dậy đi. Nếu thiêu đốt Hương này trước tượng Thiên Thần thì các hàng Thiên đểu ẩn đi chẳng hiện. Nếu ở trong đấy thiêu đốt hương này thời hết thảy các vật Bất Tịnh trong đó đều cùng chẳng hiện.

Nếu ở trước Tháp thiêu đốt hương này thời chư Thên trên Tháp ấy chẳng hiện.

Nếu tất cả bệnh động kinh, nghiệp Hổ Quỷ đều khiến cho điên cuồng hoặc chạy đi… mà muốn cột trói dập tắt thì đem hương này thiêu đốt ắt đều tự cột trói. Hương này hay ngăn cấm được tất cả không gián đoạn: cho dù mạnh, yếu, có bệnh, không có bệnh đều hay cột trói được

Nếu ở trong Chúng thiêu đốt hương này, ở ngay trước mặt Ma Ha Ca La (Mahā-kāla: Đại Hắc Thiên) thì tất cả mọi người đều tự động quy y Chú Sư đấy. Mọi người ngửi thấy  mùi hương này đều tự cột đánh

Nếu ở trên ngã tư đường, thiêu đốt hương này thì mọi người ở bên trong ngửi thấy mùi hương liền tự cột trói, tùy theo Tâm mà sai khiến. Nếu muốn giải phóng thời lấy hạt cải trắng (bạch giới tử) với nước, Chú vào rồi rải trên mặt kẻ ấy thì mọi người trở lại như cũ.

Nếu ở trong rừng Thi Đà, thiêu đốt hương này thời hết thảy Dạ Xoa, La Sát, Bộ Đa, các Quỷ Thần ngửi thấy mùi hương này đều đi đến trước mặt Chú Sư… Muốn sai khiến đều tùy theo ý giống như nhóm nô bộc.

Nếu ở trong nhóm người mang hàng hóa có giá trị mà thiêu đốt hương này thì hết thảy giặc cướp với cọp, sói, sư tử, rắn độc chẳng dám quấy nhiễu. (Nếu bị) người ác, Tri Thức ác có khả năng đột ngột đi đến gây chướng nạn… mà thiêu đốt hương này thì thảy đều chẳng dám đến gần. Thiện Thần thường ủng hộ khiến cho chỗ làm luôn được như nguyện, được toại Tâm, buôn bán được lợi lớn, trăm ngàn vạn ức việc thảy đều vừa ý.

Nếu muốn sai khiến nữ Dạ Xoa thì nên làm hình tượng của nữ Dạ Xoa ấy, đốt hương để trước mặt, cũng thiêu đốt hương này cầu khấn thì nữ Dạ Xoa ấy liền tự đi đến, sai khiến làm gì đều tùy theo ý, cho đến khi mạng chung thường chẳng xa lìa.

Nếu có Nghịch Tặc với giặc ác hoại loạn đất nước kèm với nhóm oán địch… Vẽ hình, viết tên họ như lúc trước. Thiêu đốt hương này thì các nhóm giặc bên trong ngàn dặm, ngửi thấy mùi hương này đều bị đau buốt đầu. Đốt hương bảy ngày chẳng dứt thì giặc kia bị bể đầu, lòi tròng mắt ra ngoài.

Nếu ở trong chúng giặc, như lúc trước đốt hương này thì chúng giặc đều tự cột trói, bỏ chạy tán loạn như người điên, ẩn trốn mất cũng không có chỗ đến

 

_Lại có Pháp, nếu muốn làm Pháp Sứ Giả. Lấy 7 cái đầu lâu sạch sẽ, như Pháp tẩy rửa khuôn mặt, lỗ hổng khiến cho đầy đủ.  Có ba hoạch là 3 phần (?) tức là người nam, liền gom lại dùng. Có bốn hoạch là đầu lâu của đàn bà thì chẳng thể dùng. Tẩy rửa đầu lâu sạch sẽ trang nghiêm con mắt, lỗ mũi, lỗ hổng, răng đều nên như Pháp, theo thứ tự xếp đặt chỗ ngồi. Lấy hương lúc trước, thiêu đốt cúng dường, làm ở chỗ kín đáo đừng cho người khác nhìn thấy. Khi muốn sai khiến thời đốt hương, Chú 21 biến, liền ra lệnh thì đầu lâu tự hành động mở cửa, đi ra, quay ngược mà chạy, về sau tự tùy thuận, liền phát ra lời nói. Hỏi việc tốt xấu sắp tời thì đều hướng về Chú Sư nói. Nếu cần vàng, bạc, tiền tài, châu báu… cũng hay biết nơi chốn, cũng hay lấy được, tùy ý nhiều ít. Nếu muốn sai khiến đều tùy theo ý chẳng khó

Nếu muốn kết sợi dây Chú (Chú sách) với khuôn phép. Lấy chỉ ngũ sắc se lại thành sợi dây, như lúc trước đốt hương 21 biến thì sợi dây ấy như con rắn, liền tùy theo điều dạy bảo đi khắp Đông, Nam, Tây, Bắc… liền hay làm được. Hay lên trên Đàn, hoặc bảo cột trói người cũng được tùy theo ý.

Nếu muốn chuyển cái bát. Như lúc trước đốt hương thì cái bát ấy liền chuyển động với bay lên hư không, tất cả như ý.

Nếu muốn Chú Đao thời lấy hương lúc trước thiêu đốt, tức cây đao ấy hành động di chuyển…

 

 


Đại Phật Đảnh Vô Úy Bảo Quảng Tụ Như Lai Phật Đảnh

THÀNH TỰU CHÚ SƯ Y THƯỜNG (Thành tựu quần áo của Chú Sư)

_PHẨM THỨ MƯỜI TÁM_

 

_Áo ứng với Pháp: Hoặc áo của Chú (Chú y), hoặc muốn áo sân nộ (sân nộ y), hoặc muốn áo của Quán Đảnh (Quán Đảnh y)nay Ta mỗi mỗi đều phân biệt nói.

Quần áo khoác mặc, nếu muốn tụng Chú thì chọn lấy biến số, liền mặc nhóm áo màu Càn Đà (màu vàng đất), màu trắng, màu tro… đều được dùng

Nếu muốn thành tựu thời mặc áo màu lụa đào (phi sắc y), cần Đồng Nữ làm

Nếu muốn làm Pháp sân nộ thì mặc áo màu xanh

Nếu muốn ngồi Thiền tụng Chú thì mặc áo màu trắng

Nếu muốn cầu việc Cát Tường thì mặc áo màu của cây tía tô

Nếu muốn Quán Đảnh thời mặc áo màu Càn Đà

Nếu muốn thành tựu Đàn Pháp thì mặc áo màu hoa sen, màu đỏ, màu Càn Đà, màu tro, màu Uất Kim (màu vàng nghệ), màu tía tô

 

Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói Kệ là:

 “Các màu sắc như trên

Đều cần Đồng Tử (?Đồng Nữ) làm

Chú Sư trước tiên dạy

Chú Nữ tắm sạch sẽ

Uống nước cốt năm vị

Sau đó cho nhuộm màu

Ta nói Pháp màu áo

Nếgười muốn thành tựu

Đều nên mặc áo này

Người hay hành Pháp này

Mau được thành tựu lớn”

 

Đại Phật Đảnh Vô Úy Bảo Quảng Tụ Như Lai Phật Đảnh

CHÚ SƯ TỰ TRƯỚC CHÚ SÁCH (Chú Sư tự làm sợi dây Chú)

_PẨM THỨ MƯỜI CHÍN_

 

 

Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại nói Pháp Chú Sư tự làm sợi dây Chú (Chú sách). Lấy chỉ tốt tinh khiết, cần được màu đỏ rồi sai Đồng Nữ xe hợp làm sợi dây. Chú Sư cùng với Đồng Nữ uống nước cốt năm vị, sợi dây dài 5 thước một tấc (51/3 dm), khi thành thì cần 5 thước (5/3 m). Lấy 12 sợi se hợp lại thành một sợi chặt kín. Làm 3 cái hình Bắc Đẩu, dùng vàng mà làm. Nếu không có vàng bạc thì dùng hạt Hồ Ấn lót bên trong cũng được. Khi thành thì lấy ba hạt Bồ Đề, ở bên cạnh vị Thần, để ở ba chỗ trên sợi dây. Đây là Pháp Hộ Thân Cát Tường Sách, sợi dây này gọi là quyết định thành tựu, sợi dây này chẳng được dùng huỳnh trùng (con đom đóm) mà chỉ được dùng  sợi vải trắng với sợi tơ của ngó sen.

Nếu làm sợi dây sân nộ thì dùng chỉ màu đỏ se làm kín chặt

Nếu làm sợi dây dũng mãnh thì dùng chỉ màu xanh làm dây đai

Nếu muốn làm tất cả việc thì dùng sợi dây đai màu trắng.

Sợi dây đã nói bên trên đều nên quấn ràng ở bắp tay.

_Bên trên muốn thành Tụ này sử dụng.

(Tụ ở đây là ống tay áo, không hiểu trên đây còn có nghĩa gì theo tiếng thổ âm mỗi xứ, pháp nầy không rõ được)

Nếu làm Pháp Kim Cang thì dùng Đàn Hương tạo thành (nơi làm tất cả việc)

Nếu sân nộ thì dùng đồng tạo thành

Nếu Pháp hung mãnh thì dùng gỗ Khước Địa La tạo thành

 

_Tiếp theo nói Pháp của cây cọc năm màu

Nếu muốn làm tất cả việc thì dùng Bạch Đàn làm (cây cọc)

Nếu khi sân nộ làm ác thì dùng đồng đỏ làm cây cọc

Nếu khi làm hung mãnh thì dùng sắt làm cây cọc (5 cây)

Nếu khi làm việc thiện thì dùng gỗ Khước Địa La làm cây cọc

Nếu khi làm  đốt cháy kẻ địch thì dùng xương người chết làm cây cọc

Cây cọc bên trên, dài ngắn như lúc trước

 

Đại Phật Đảnh Vô Úy Bảo Quảng Tụ Như Lai Phật Đảnh

CHÚ SƯ TÁO DỤC (Chú Sư tắm gội)

_PHẨM THỨ HAI MƯƠI_

 

_Nếu muốn thành tựu việc Cát Tường thì dùng mọi loại nước hương tắm rửa, dùng nước cốt năm vị của con bò để uống.

Nếu làm sân nộ thì dùng sữa để tắm rửa

Nếu làm Pháp hung mãnh thì dùng nước đái bò để tắm rửa

Như trên đã nói Pháp tắm gội, sử dụng thì thành tựu lớn

 

_Tiếp theo nói ngày tháng, tốt xấu làm Pháp

Nếu muốn làm việc tốt thì đều dùng kỳ Bạch Nguyệt, chọn lựa ngày tốt, giờ tốt. Còn tháng thì dùng tháng 1, tháng 2, tháng 5, tháng 9… làm tất cả việc với tắm gội, bắt đầu từ các tháng bên trên thì rất tốt (đại cát)

Nếu làm tất cả việc hung ác thì chọn lấy kỳ Hắc Nguyệt… cũng chọn ngày xấu, giờ xấu, sao xấu. Nếu có nhóm việc đấu tranh giết chóc thì dùng ngày bên trên mà làm

 

_Tiếp theo nói Pháp Thời Tiết

Phàm một ngày một đêm chỉ có ba Thời: một là việc thiện lành với việc tốt, hai là việc xấu, ba là việc sân nộ

Nếu muốn làm việc ác hung mãnh thì chọn dùng lúc hoàng hôn làm tất cả việc hung mãnh. Nếu hoàng hôn được giờ tốt thì chẳng cần nhọc nhằn tìm tháng tốt, trọn tháng đều dùng được

Nếu việc thiện lành thì thời tiết dùng là giờ Ngọ trong ngày

Nếu việc sân nộ thì Thời đều dùng giờ Mùi làm

Nhóm việc như trên, Chú Sư cần hiểu biết, chẳng được vượt qua Thời này

Phàm Pháp muốn dựa vào Thời TiếtHạn Chế (khắc), chẳng dựa vào Thời Khắc.

Chẳng được Thời ấy thì chẳng dùng chuông trốngĐịnh Huệ rối loạn (khủng úy), hoặc chậm chạp hoặc vội vàng, ắt nên biết Thời với tác Pháp

Chẳng phải Thời (phi thời) làm Pháp thì các Ma (Māra) tranh nhau khuấy động, ắt được dịp thuận tiện chẳng đúng Thời mà đi xuống. Thứ nhất là chuông trống, thứ hai là xem Thời

 

Nếu xác định được Thời Tiết thì chỗ làm đều thành tựu. Nếu vượt qua Thời Tiết hoặc chưa đến Thời thì đây gọi là Phi Thời tác (chẳng phải Thời mà làm) ắt tất cả đều chẳng thành tựu

Nếu đã quyết định được ngày giờ:  Lúc mặt trời mới mọc (?giờ Mão), giờ Ngọ, giờ Dậu

Nếu muốn thành tựu các việc Thiện lành thì chọn giờ Ngọ là hơn hết, chỗ làm đều được thành tựu

Nếu làm việc dũng mãnh thì lúc mặt trời mới mọc làm các việc giáng oán hàng phục, được dùng cho đến giờ Ngọ

Nếu làm việc giết chóc, việc xấu… tức giờ Dậu là hơn hết

Ba Thời như vậy đều là Pháp Tỳ Lô Giá Na thành Phật. Diệt trừ Ma, giáng phục… đều dùng ba Thời này là hơn hết

 

Đại Phật Đảnh Vô Úy Bảo Quảng Tụ Như Lai Phật Đảnh

PHÁP LIÊN HOA HỌA TƯỢNG

_PHẨM THỨ HAI MƯƠI MỐT_

 

Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng Kệ tụng là;

“Nếu người hay tô vẽ Tượng này

Tự làm hoặc bảo dạy người khác vẽ

Giáo Hóa hoặc lại tự tùy việc

Thấy hình tượng này với lễ bái

Tức thấy thường được Bất Thoái Chuyển

Tất cả mỗi tội, nghiệp chướng nặng

Đều khiến thanh tịnh không dư sót

Tất cả chỗ làm đều thành tựu”

  

Trước tiên, lấy vải trắng với lụa tốt vuông vức. Nếu vẽ Tượng này thì chẳng được dùng nước keo nấu bằng da thú. Hòa các màu sắc, dùng chất nước đặc, người vẽ nên thọ nhận tám Giới với trì Trai, tắm gội sạch sẽ, mặc áo sạch mới, mỗi mỗi như Pháp vẽ hình trạng, Đức Như Lai dùng miệng tuyên nói Pháp vẽ Tượng, Phật Đảnh bí mật khó được gặp thẳng, tăng trưởng Phước Đức, thành tựu việc lớn, cũng hay thành tựu Công Đức căn lành, tha nhân quả [Quả của người khác (?)], sẽ được địa vị chẳng lùi của Bồ Đề, thường vì chúng Trời Người chuyển Đại Pháp Luân. Hoặc đi, hoặc ngồi đều được nơi chốn không có ngăn ngại, không có sợ hãi giống như mặt trời mặt trăng

Trước tiên, lấy tấm lụa mềm mại dài 4 khuỷu tay, chia làm tám phần: vuộng, tròn, giới hạn. … Lối đi giới hạn (giới đạo) ấy đều làm năm màu trang nghiêm như Pháp.

Chính giữa vẽ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi), làm hoa sen, trên hoa sen làm tòa Sư Tử, làm dáng dấp Thuyết Pháp, chỉ cần dung mạo đoan chánh, bốn mặt phóng ánh sáng

Bên trái, vẽ làm Kim Cang Tạng (Vajra-garbha) với thân màu xanh nhạt có 4 cánh tay, ngồi Bán Già, làm khuôn mặt giận dữ, lông mày như cây Xuân (xuân my), đầu có búi tóc Kim Cương với mão Trời, hồi hướng Đức Phật. Tay cầm: Bạt Chiết La, sợi dây, cây búa dựng đứng, cây đao của cõi Trời đều an trí trong bốn bàn tay, tạo làm như Pháp. Khắp bàn tay của thân ấy có hào quang

Bên phải, vẽ làm Đại Sân Nộ Kim Cang Vương (Mahā-krodha-vajra-rāja) ngồi Bán Già, thân có bốn cánh tay, đầu có búi tóc xoắn ốc như hình hoa sen với mão Trời. Một tay cầm cái chày, một tay cầm cây đao, một tay cầm Bạt Chiết La, một tay cầm chày Tam Xoa Khí, ở trong bốn bàn tay đều nắm giữ một việc, Thân làm mọi loại màu sắc, ánh sáng tuôn ra từ trong thân, mặt sân nộ, tướng khủng bố đáng sợ. Mặt Kim Cang ấy để ở hai bên trái phải của Đức Phật

Phía sau Kim Cang đều vẽ một vị Kim Cang, tay cầm Bạt Chiết La đứng ở hai bên của Đức Phật

Hai bên vẽ làm A Nan (Ānanda), Ca Diếp (Kāśyapa) tay cầm cây quạt, cây phất. Như tự mình dùng tướng làm đám lửa sáng

Ở trên vô thượng của Đức Phật ấy, vẽ làm khuôn mặt Liên Hoa Phật Đảnh (Padma-buddhoṣṇiṣa). Ở trên đầu của Phật cũng làm khuôn mặt hoa sen, các đám lửa sáng đều như màu đám lửa cháy rực. Thẳng bên trên Đức Phật vẽ làm Già Sắt Tra Thiên Cung với mọi loại báu trang nghhiêm, như Pháp có bốn cửa. ở bên trong cung ấy vẽ chúng Như Lai, đều làm ở hai bên trái phải

Vẽ hình thế Kim Cang (Vajra) cầm Bạt Chiết La vui vẻ thỉnh Phật Pháp

Vẽ làm bốn Chúng, hàng Trời Người vây quanh lắng nghe

 

_Lại ở bốn cửa, vẽ tháp Xá Lợi, hai mặt trái phải vẽ ngọn núi, ở trên ngọn núi làm lầu gác bảy báu, tùy ý làm bảy báu trang nghiêm, làm 12 cái tháp Xá Lợi, trong mỗi một cái tháp có 12 Đức Phật, gọi là Bồ Đề Tộc Tháp Môn, cửa đều mở.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trên tòa Liên Hoa Sư Tử ấy, như lúc trước thỉnh Pháp đều có bốn Chúng,

Vẽ lọng mây bảy báu, Trời tuôn mưa mọi loại bảy báu với hoa, quần áo…

Ở trung tâm, bên phải Đức Phật vẽ Đức Như Lai ngồi trên tòa Liên Hoa Sư Tử

Bên phải vẽ Quán Thế Âm (Avalokiteśvara), bên phải vẽ Văn Thù Sư Lợi (Mañjuśrī), Hư Không Tạng (Ākāśa-garbha), Phổ Hiền (Samanta-bhadra), Địa Tạng (Kṣiti-garbha)

Bên bên trái phải để Đế Thích (Indra), Phạm Vương (Brahma-rāja), Tự Tại (Iśvara), Đại Tự Tại (Maheśvara), Tứ Thiên Đại Vương (4 vị Thiên Vương).

Bên trên đều y theo Bản Hình, tạo làm như Pháp

 

_Bên phải, vẽ Đức Như Lai ngồi, làm hình Thuyết Pháp. Làm Kim Cang Tạng (Vajra-garbha), Di Lặc Bồ Tát (Maitreya), Vô Tận Ý Bồ Tát (Akṣaya-mati), Sa Kiệt La Long Vương (Sāgara-nāga-rāja), Nan Đà Bạt Nan Đà Long Vương (Nandopananda-nāga-rāja)

 

_Phương bên trên: Góc bên trái vẽ Đức Phật A Di Đà (Amitābha) ngồi trên tòa Liên Hoa Sư Tử, Dược Vương Bồ Tát (Bhaiṣaijya-rāja), Dược Thượng Bồ Tát (Bhaiṣaijya-samudgata), Đại Đạo Sư Bồ Tát (Mahā-nāyaka), Hải Ý Bồ Tát (Sāgara-mati), Tôn Thắng Bồ Tát (Jaya), Tư Duy Bồ Tát (Cintā) tay nắm Trời Đất, Tỳ Na Dạ Ca quyến thuộc

 

_Phương bên trên: Góc bên phải vẽ Liên Hoa Như Lai (Padma-tathāgata), Sư Tử Sân Nộ Kim Cang (Siṃha-krodha-vajra), Kim Cang Tướng (Vajra-sena), Tống Bà Kim Cang (Sumbha-vajra), Kim Cang Chiêm, Kim Cang Câu (Vajrāṃkuśa), Kim Cang Sân Nhãn, Xích Đầu Kim Cang

 

_Phương bên dưới: Góc bên trái vẽ Đàn Thần (Maṇḍala), Ma Ma Kê Thần (Māmakī), Tỳ Câu Chi Thần (Bhṛkuṭī), Đa La Thần (Tāra là ngôi sao), Ương Câu Thi Thần (Aṃkuśī là móc câu), Kim Cang Luyện Thỏa Thần (Vajra-sṛṇkhala), Nhật Thần (Āditya), Tôn Đà Lợi Thần (Sundarī là hoa sen), Phạ Tán Để Thần (Vṛhaspati là Tuế Tinh), Dạ Thần (Rātṛ)

_Phương bên dưới: Góc bên phải vẽ Địa Thần (Pṛthivi), Đại Địa Thần (Mahā-pṛthivi), Sứ Giả Thần (Ceṭa), Kim Cang Sứ Giả Thần (Vajra-ceṭa), Kim Cang Nha Thần (Vajra-daṃṣṭra), Sa La Tô Để Thần, Vô Tỷ Thần, Đại Khủng Bố Thần, Hải Thần, Thương Khí Ni Thần (là cái loa), Nhất Chiêm Thần, Diêm La Vương Thần (Yama-rāja), Phộc Lỗ Na Thần (Ngũ Thông), Nhất Thiết Dược Thần

 

_Phương bên trên: hai bên trái phải vẽ mặt trời, mặt trăng.

Ở hai bên Đức Phật vẽ làm bốn vị Thiên Vương với mặt sân nộ, áo giáp vàng

Trước mặt Đức Phật, làm cái ao chứa 5 loại nước (ngũ thủy trì), có cây cối như Pháp. Phía trước cái ao vẽ Chú Sư quỳ gối ngồi, một tay bưng lò hương, một tay cầm xâu chuỗi nhìn khuôn mặt của Đức Như Lai

Ở khoảng giữa của các Không Xứ vẽ Ấn Khế

Bên trên đều tùy theo Bản Hình Trạng mà làm như Pháp.

 

_Khi ấy, Đức Thế Tôn liền nói Kệ là:

“Nay Ta đã nói Pháp vẽ tượng

Nếu muốn thành tựu, tùy thiết yếu

Như trên đã nắm Tỳ Lô Già (Vairocana)

Tất cả Phật Đảnh với các Tượng

Các Ấn, Đàn, Pháp và nhóm Khế

Nếu muốn tụng trì, vẽ tượng trước

Làm được tượng này, quyết thành tựu”

 

Đại Phật Đảnh Vô Úy Bảo Quảng Tụ Như Lai Phật Đảnh

TỔNG NHIẾP NHẤT THIẾT CHƯ BỘ THỦ ẤN

_PHẨM THỨ HAI MƯƠI HAI_

 

Lại nói Đàn Chú thành tựu cát tường, tụng trì Đàn Thần Pháp cột buộc với tất cả chư Thiên Ấn… xua đuổi, sai khiến các hàng Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, a Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Bộ Đa…Khi sai khiến tất cả Tỳ Na Dạ Ca, nhóm Ma cũng kết Ấn thời đều tồi phá, hay nhiếp Bồ Tát, Kim Cang, chư Thiên…

_Tác Ấn này được vô lượng vô biên Công Đức. Chắp hai tay lại trống rỗng bên trong như hình hoa sen chưa nở, kèm dựng thẳng hai ngón cái, co hai ngón trỏ, đem ngón cái đè lên; bật hai ngón út đễ trên lưng hai ngón vô danh rồi để trên đảnh đầu như Phật Đảnh Kế (búi tóc trên đảnh đầu của của Phật) tức là Phật Đảnh Căn Bản Ấn

Kết Ấn này thì cảm được Trời Đất chuyển động, núi đá nghiêng đổ, chư Thiên ở mười phương đều chấn động lớn, hết thảy núi Tu Di, biển cả, hết thảy chư Phật đều đến tùy hỷ, chư Phật khen rằng: “Thật hiếm có! Người được Ấn này cùng thành một loại Chú Sư của Phật”

Nếu có người làm được Ấn này, hộ tịnh đội trên đầu thì được Quả Bất Thoái Chuyển, sẽ được thành Phật quyết định không nghi. Thường trì Ấn này sẽ sanh vào cõi Trời Ca Nị Sắt Tra (Sắc Cứu Cánh Thiên), Đại Lực Kim Cang (Mahā-bala-vajra) thường ủng hộ ngày đêm chẳng lìa

Vô Úy Bảo Liên Hoa Quảng Tụ Phật Đảnh Nhất Thiết Như Lai Tâm Căn Bản Chú: dùng Căn Bản Chú mà chú vào.

 

_Dựa theo Căn Bản Ấn lúc trước, dựng thẳng ngón trỏ của tay trái là Tâm Ấn, dùng Tâm Chú mà chú vào: dùng cho mọi loại đã làm, tất cả sự việc. Dùng ở mười Đại Đà La Ni thì thành mười Địa (Daśa-bhūmi), được nơi Bất Thoái Chuyển

 

_Tâm Trung Tâm cũng dùng Ấn Chú lúc trước, rất tiện dùng, có hiệu nghiệm lớn. Dùng Kết Giới, Kết Thập Phương Giới, hộ giúp người khác, hộ giúp thân của mình. Dùng Quán Đảnh, dùng xoay chuyển theo mặt trời. dùng Ấn lúc trước ấn trên trái tim tức là Thiền Định Ấn cũng gọi là Thọ Pháp Ấn. Dựa theo Ấn lúc trước để trên rốn, dùng đi vào Phật Đường, vào Đàn hành Đạo. Đây tức là Hộ Thân

 

_Lại dựa theo Tâm Ấn lúc trước cũng gọi là Kim Cang Sân Nộ Ấn, đọc tiếng Hồng (HŪṂ) khéo tác Ấn này, làm thế Kim Cang thì tất cả chỗ dùng, nơi làm các việc cầu nguyện thành tựu cát tường… cũng dùng Ấn này

 

_Lại dựa theo Ấn lúc trước cũng gọi là Nhất Thiết Bồ Tát Ấn, tên gọi của Ấn cũng khác biệt thì Chú cũng khác biệt. Điều cùng tương ứng với Ấn này đều dùng Ấn lúc trước

Dùng Ấn lúc trước ấn khắp thân thì gọi là Giáp Ấn. Tất cả các việc đã làm, triệu thỉnh chư Thần trong Đàn, cầu vàng bạc, châu báu, tất cả tài vật với tất cả việc Thiện đều dùng Ấn này

 

_Lại dựa theo Ấn lúc trước làm, như vậy người tác Ấn này (?dư câu này) thì đều làm xong trăm ngàn cu chi na dữu đa Ấn.  Tên gọi Thủ Ấn với Chú tuy có khác biệt nhưng đều đồng dùng Ấn này.

Các Ấn như trên có rất nhiều, nhưng khi dùng thì chẳng vượt qua được Ấn này, dùng cờ hiệu (phan) chuyển thì tất cả tùy ý. Như mặt trời hiện ra trong đêm tối chiếu khắp Thiên Hạ, khiến cho tất cả chúng sanh được nhìn thấy,  Ấn này cũng vậy hay vì tất cả các Ấn làm con mắt của các Ấn ấy. Khi chuyển dụng một Ấn này thời cùng với tất cả các Ấn cùng nhau dùng hết.

Trong tất cả chỗ dùng thì Chú Sư đều dùng Nhất Thiết Phật Đảnh Ấn này, tuy tên gọi khác biệt cũng dùng Ấn này, trăm ngàn cu chi na dữu đa Sứ Giả đều cùng dùng Ấn này

 

_Lại dựa theo Ấn lúc trước, duỗi hai ngón trỏ dựng thẳng đứng, làm sân nộ, liến hướng lên trên đầu đặt để thì gọi là Sân Nộ Ấn. Có các loại Sân Nộ: một là Phật Đảnh Sân Nộ Tộc, hai là Liên Hoa Sân Nộ Tộc, ba là Kim Cang Sân Nộ Tộc, bốn là Ma Ni Sân Nộ Tộc, còn có nhóm Sân Nộ khác đều dùng Ấn Chú này như bên trên

Nhóm Ấn như trên đều lật lại mà dùng

 

_Dựa theo Sân Nộ Ấn lúc trước, lại co hai ngón trỏ tức là Câu Ấn. Đây là Sân Nộ Câu Ấn, mọi việc đã làm: cầu nguyện thành tựu, ném Quỷ cột Ma đều dùng Ấn này nhiếp lấy

Lại dựa theo lúc trước, tụng Sân Nộ Chú, rồi sử dụng Chú truy đuổi trăm ngàn cu chi Sứ Giả đều dùng hai Ấn lúc trước này. Hô gọi, sai khiến đều dùng Sân Nộ Chú Ấn thi có hiệu nghiệm lớn

 

_Lại dựa theo lúc trước, cài chéo bốn ngón nay rồi nâng lên tức gọi là Quyển Ấn. Tất cả giặc làm việc mạnh ác, người ác, Quỷ ác, Ma ác, Tỳ Na Dạ Ca đều dùng Ấn Chú này. Tất cả Dạ Xoa, La Sát, Bộ Đa, nhóm Quỷ Tỳ Xá Già thảy đều mê quáng té ngã xuống đất. Rồng ác, nhóm giặc đều bị diệt tan chạy đến nơi khác. Giặc nghịch, oán địch, cọp, sói, sư tử, mãng xà, nhện, tất cả loài trùng độc thảy đếu tiêu tan. Hô gọi sai khiến thảy đều tự tại

Nếu dùng Ấn này truy gọi Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Trời, Rồng, Thần, Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Tỳ Xá, Thủ Đà, Tể Tướng, trăm quan, hàng Đại Thần, hoặc nam hoặc nữ, tất cả người dân… khi thu nhiếp, hô gọi, sai khiến thì ngàn dặm cũng được tùy ý tự tại

 

_Dựa theo Câu Ấn lúc trước, duỗi ngón vô danh thì gọi là Đại Sân Nộ Ấn. Nếu làm việc sân nộ hung ác đều dùng Ấn này. Đại Sân Nộ Ấn này chỉ vào thì núi Tu Di con nghiêng đổ hướng chi là núi nhỏ, các nhóm vật khác, Dạ Xoa, La Sát với chỉ vào các biển lớn thì biển ấy cạn khô. Chỉ lên Trời thì Trời cháy mạnh… tinh tú, mặt trời, mặt trăng thảy đều rơi rụng huống chi là nhóm Quỷ ác, giặc ác. Suy nghĩ đến Ấn này thì đều cùng phá nát nạn Dạ Xoa La Sát, khiến cho Quỷ ác, Rồng ác, mãng xà, sư tử, cọp, sói, tất cả trùng đồng, Hồ Mỵ, Yểm Đảo, Chú Sư có Tâm ác, Chú Thuật huyễn hoặc, tất cả các vật ác trong Thế Gian thảy đều chịu sự hàng phục.

 

_Tay trái nắm quyền, đem ngón cái vịn lóng giữa của ngón trỏ thì gọi là Liên Hoa Phật Đảnh Tâm, liền tụng Nhất Thiết Như Lai Căn Bản Chú. Dùng Ấn này kết Giới, Hộ Thân, tẩy rửa thân thể, mặc áo, Quán Đảnh, sai khiến, triệu thỉnh, cho Quỷ Thần ăn, lễ bái, cúng dường, đốt hương, rải hoa, phát khiển, sai khiến việc tạp, dùng tất cả tùy hỷ… mỗi mỗi dùng Ấn này

 

_Duỗi bàn tay thì gọi là Phát Khiển Ấn

Ta nói xong tên gọi tất cả Ấn bí mật là Liên Hoa Phật Đảnh Vô Úy Ấn với PhápChú

 

_Tiếp theo nói Nhất Thiết Thọ Trì Tác Pháp Chú. Liền nói Chú là:

 “Úm, bát đầu ma, giả lệ, hồng

*)OṂ_ PADMA  JALE  HŪṂ

Đây là Chú tắm gội, tụng 21 biến hay diệt tất cả tội, nơi làm việc cát tường đều thành tựu

 

Úm, mạt ni, thập phạ lê, hồng

*)OṂ_ MAṆI  JVALE  HŪṂ

Đây là Chú rửa tay, khiết tịnh

 

Úm, vĩ phạ ma la, bát đầu mê, hồng

*)OṂ_ VIŚVA-MĀLA  PADME  HŪṂ

Đây là Chú tịnh thân

 

Úm, bát đầu ma, tượng hà lê, hồng

*)OṂ_ PADMA  SAṂHĀRE  HŪṂ

Đây là Chú quần áo

 

Úm, bổ sắt bà, bát đầu mê, hồng

*)OṂ_ PUṢPA  PADMA  HŪṂ

Đây là Chú chú vào bông hoa

 

Úm, đổ lỗ, bát đầu mê, hồng

*)OṂ_ DHURU  PADME  HŪṂ

Đây là Chú chú vào hương

 

Úm, di lý di lý, bát đầu ma, tam ma, hạ ra, hồng

*)OṂ_ MILI  MILI  PADMA-SAMA  HĀRA  HŪṂ

Đây là Chú chú vào thức ăn

 

Úm, bát đầu ma, bổ xỉ , hồng

*)OṂ_ PADMA-PŪJE  HŪṂ 

Đây là Chú chú vào thức ăn, chú vào hương cúng dường trong Đàn

 

Úm, sa ra  sa ra, bát đầu mê, hồng

*)OṂ_ SARA  SARA  PADME  HŪṂ

Đây là chú xông ướp hương

 

Úm, độ tri độ tri, tăng hà ra, bát đầu ma, vĩ ma lê, hồng

*)OṂ_ DHUṬI  DHUṬI  SAṂHĀRA  PADMA  VIMALE  HŪṂ

Đây là Chú chú vào hạt cải trắng, hoa lúa đậu dùng để tán rải

 

Úm, ma ni, bát đầu mê, tố lỗ tố lỗ, hồng

*)OṂ_ MAṆI-PADME  SURU  SURU  SVĀHĀ

Đây là Chú chú vào lửa

 

Úm, ma ni, phạ tôn đà lợi, hồng

*)OṂ_ MAṆI  VASUDHĀRI  SVĀHĀ

Đây là Đại Địa Chú, khi cấm đất thì dùng

 

Úm, bát đầu ma, mạt ni, ma nõa lợi nễ, hồng

*)OṂ_ PADMA-MAṆI  MAṆḌALINI  HŪṂ

Đây là Tọa Chú

 

Úm, bát đầu ma, ca di nễ, hồng

*)OṂ_ PADMA  GAMINI  HŪṂ

Đây là Chú vào Đàn

 

 

Úm, bát đầu ma, giả ca ra, phạ lợi, hồng

*)OṂ_ PADMA  ŚAṄKARA  VARE  HŪṂ

Đây là Chú hành Đạo

 

Úm, bát đầu ma, thập phạ ra, mưu luật đà ni, hồng

*)OṂ_ PADMA-JVALA  MUDRAṆI  HŪṂ

Đây là Chú lễ bái

 

Úm, bát đầu ma, thập phạ ra, địa ba da, hồng

*)OṂ) PADMA  JVALA  ADHIPĀYA  HŪṂ

Đây là Chú thắp đèn

 

Úm, bát đầu ma, ma nễ, xã da, hồng

*)OṂ_ PADMA-MĀLINI  JAYA  HŪṂ

 Đây là Chú vòng hoa

 

Úm, bát đầu ma, mạt ni, sa ra thệ duệ, tắc phạ ha

*)OṂ_ PADMA-MAṆI  SĀRATHIYE  SVĀHĀ

Đây là Chú chú vào nước

 

Úm, tắc bố tra, bát đầu ma, mạt ni, kính lậm, thập-phạ lỗ sắt-sa, hồng

*)OṂ_  SPHOṬA  PADMA  KROṂ  JVALOṢṆĪṢA  HŪṂ

Đây là Chú dùng để kết Giới

 

Úm, bát đầu mưu điểu sắt-nị sa, ba-ra phạ ra, càn đà lợi-giả nê, hồng

*)OṂ_ PADMOṢṆĪṢA  PRAVĀRA  GANDHĀRI-JANE  HŪṂ

Đây là Chú cúng dường

 

Úm, vĩ ma la, thấp-la ma-lê, đốt lỗ đốt lỗ, tắc phạ ha

*)OṂ_ VIMALA  ŚRA-MĀLE  DHURU  DHURU  SVĀHĀ

Đây là Chú chú vào nước cốt có năm vị của con bò

 

Úm, bát đầu ma, sa một địa lợi, tam ma ha-ra, hồng

*)OṂ_ PADMA  SAMUDRI  SAMA  HĀRA  HŪṂ

Đây là Vân Chú (Chú vào mây)

 

Úm, tam mạn đa, bà lợi ca la, mạn để lý, hồng

*)OṂ_ SAMANTA  PARIKARA  MANTRE  HŪṂ

Sở Tác Nhất Thiết Sự Thời Chú (Chú của tất cả thời, việc đã làm)

 

Úm, bát đầu phạ lợi, giả la giả la, tán giả la, hồng

*)OṂ_ PADMA-VARE  CALA  CALA  SAṂCALA  HŪṂ

Hành Chú

 

Úm, bát đầu mưu sắt-nị sa, mạt ni, tam mạn đa tì-ra đà nê, hồng

*)OṂ_ PADMOṢṆĪṢA  MAṆI  SAMANTA-VIRA  BODHANE  HŪṂ

Đây là Quang Diễm Chú. Chú Sư tự dùng

 

Úm, tát ma, đát tha nga đa, ra thi-nhĩ, tán chú đà na, bát đầu mê, hồng, đốt lỗ đốt lỗ, hồng

*)OṂ_ SAMA  TATHĀGATA  RAŚMI  SAṂCODANA  PADME  HŪṂ_ DHURU  DHURU  HŪṂ

Đây là Cúng Dường Phật Hương Hoa Chú

 

Úm, a mưu già, mạt ni, bát đầu mưu sắt-nị sa, bộ lỗ bộ lỗ, tát ma đát tha nga đa, ngu hề-da, lô chỉ đế, thập-phạ ra, hồng

*)OṂ  AMOGHA-MAṆI-PADMOṢṆĪṢA  BHRŪ  BHRŪ SAMA-TATHĀGATA-GUHYA  LOKITE  JVALA  HŪṂ

Đây là Nhất Thiết Chú Vương Tộc Chú

 

Úm, bát đầu ma, chiến nãi, hồ lỗ hồ lỗ, hồng, phán tra

 *)OṂ_ PADMA-CAṆḌE  HURU  HURU  HŪṂ  PHAṬ

Sân Nộ Chú

 

Úm, lao đà-ra tra, hà sa, vĩ cật-lợi đa, đăng sắt tra-lợi, thập-phạ ra, kỳ nễ, ma ha sa ma, tắc bố ra, hồng, nương

*)OṂ_ RAUDRA  ṬAṬA  HĀSA  VIKṚTA  DAṂṢṬRI  JVALĀGNI  MAHĀ-SAMA  SPHOṬA  HŪṂ  JAḤ

Đây là Sân Nộ Chú dùng làm tất cả việc

 

Đại Phật Đảnh Vô Úy Bảo Quảng Tụ Nhất Thiết Như Lai Phật Đảnh

CÔNG NĂNG CỦA ĐẠI ĐÀN

_PHẨM THỨ HAI MƯƠI BA_

 

Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói Hỏa Đàn. Nếu người muốn cầu nguyện, đều tu Hỏa Đàn kèm theo dùng Căn Bản Chú, Tâm Chú, Tâm Trung Tâm Chú với Dũng Mãnh Sân Nộ kèm dùng Tâm Chú, Căn Bản Chú, Tâm Trung Tâm Chú kết Giới, hô gọi sai khiến, phát khiển. Hoặc muốn kéo mây tuôn mưa với ngưng dứt mưa, gió ác, mựa mạnh bạo, sương, mưa đá, mưa nhỏ chẳng đúng thời…

Khi ấy, Đức Thế Tôn liền nói Kệ là:

“Tất cả điên cuồng, nhiếp thọ thương yêu nhau

Hết thảy Ma ác, nhóm Oán Tượng Tỵ chiến đấu bốn phương

Dạ Xoa, Càn Thát Bà, Kim Sí

Khẩn Na La, Ma Hầu, Bộ Đa

Phước Đức thành tựu

Thông minh với sống lâu (diên thọ: kéo dài tuổi thọ)

Tất cả mọi tội: ba ác và bảy nghịch

Phước thành diệt tội, đều nên tu Hộ Ma

Thành tựu hăm mốt (21) loại Pháp Hộ Ma

Trong Ý dấy lên điều tốt, xấu, thiện, ác

Cũng làm Đại Pháp, tùy ý được thành tựu

 

_Tiếp theo làm Pháp Hỏa Đàn

Nếu muốn bắt đầu làm Pháp tụng trì Chú Hộ Ma thì tất cả Thiên Thần đều vui vẻ. Ở trung tâm của Hỏa Đàn ấy làm Thiên Thần, bốn phương khoảng một khuỷu tay, bên trên bên dưới cũng như vậy. Ở mặt trên lò lửa gia thêm 4 thốn (4/3 dm), bên trong của phương tròn trịa hướng ra ngoài, đầu miệng của phương hướng ra ngoài hơi lồng chéo nhau. Tức ở trong lò làm một bánh xe, bánh xe ấy dầy một thốn (1/3 dm), lớn nhỏ một xích (1/3 m), dùng bùn xoa tô bề mặt, trước hết dùng bùn mịn tạo làm.

Trước tiên dùng bùn mịn, sau đó dùng phân bò hòa với mọi loại hương, một ngày ba lần đắp bùn ở bốn mặt bốn phương của lò lửa ấy, làm cái Đàn vuông vức, dài rộng khoảng một khuỷu tay, hai khuỷu tay cho đến 8 khuỷu tay. Ở bên trên vẽ làm mọi loại hình, Ấn Khế của Thần. Đàn ấy đều làm 4 cửa, dùng dây giăng làm giới hạn, mở một cửa ở chỗ ngồi của Chú Sư

Khi làm việc thiện lành thời lấy cây có nhựa trắng như sữa, vật có vị ngọt, bơ, mật, sữa, Thạch Mật… ngắt cành cây: lê, đào, cây liễu, cây dâu… rồi chọn lấy một thứ để dùng, cành cây ấy đều dài một Phách (1 ngón tay cái? 1 cánh tay) dùng làm củi nhóm lửa, kèm theo dùng loại cây này dài một xích hai thốn (4 dm), củi thiêu đốt cần phải khô không có loài trùng thì mới được dùng đốt lửa, khiến cho lửa tự cháy chứ không được dùng miệng thổi. Lúc muốn làm Pháp này thời Chú Sư tắm gội sạch sẽ như Bà La Môn (Brāhmaṇa) có Hạnh thanh tịnh. Pháp như vậy đều dùng Phật Đảnh Căn Bản Chú, Tâm Chú, Tâm Trung Tâm Chú tác làm

 

_Lại có Pháp, làm một cái lò đồng với lúc trước. Ở trong lò để một hoa sen lớn nhỏ như lúc trước, cách mặt đất bốn thốn (4/3 dm), nhóm cây dùng làm củi đồng với lúc trước. Một ngày ba Thời làm Hỏa Pháp: sáng sớm, giờ ngọ, hoàng hôn. Nếu chẳng được ba Thời thì làm hai Thời không được gián đoạn, cứ đến hoàng hôn thì bắt đầu làm. Chỗ Chú Sư ấy ngồi đều nên ngồi đối mặt, khiến người đem vật đến đều hướng về bên trái đặt để, hết thảy tất cả thứ cúng dường đều làm như lúc trước.

Lại thứ hai, trên lò lửa vẽ nhóm Kim Cang Bộ Dục Khế Ấn, tụng Sân Nộ Căn Bản Chú, Tâm Trung Tâm Chú. Tất cả hàng phục sự sân nộ của nhóm Oán Địch đều dùng nhóm tác Chú của Hỏa Pháp này

 

_Lại có Pháp, làm lò lửa hình tam giác, sâu 20 thốn (20/3 dm), mặt bên trên cách lửa 3 ngón tay, làm 3 lớp. Bên trong hình tam giác rộng rãi, miệng bên ngoài hơi nhỏ. Ở bên trong làm một Bạt Chiết La cao một ngón tay, dài 8 ngón tay. Bên ngoài Đàn ấy, dựa theo Sân Nộ lúc trước vẽ làm. Cây củi ấy đều dùng thứ tốt, thứ tự là: cây Khước Địa La, cây táo, cây Tạo Giáp, tất cả cây có gai nhọn… đều dài 10 ngón tay. Đàn Đẳng (nhóm Đàn)  đều dùng cây này, chẳng dùng cây đã khô hoàn toàn (tức hơi ẩm ướt), còn lại đều như Pháp thường nói, kèm dùng Sân Nộ Chú. Thức ăn uống đã được đem cho, đều bỏ thêm thuốc độc, vật có vị cay đắng, Ô Đầu, Phụ Tử… Đàn này giết phá, diệt hoại Thiên Thần, người dân, các Ma… đều dùng Pháp này

 

_Lại có Pháp. Lấy hoa sen, bơ, hoa lúa gạo, hạt cải trắng, các cây có quả ngọt… lấy 108 đoạn, dài ngắn như lúc trước thì điều đã cầu nguyện đều được thành tựu. Dùng Hương của nhóm hương đã thiêu đốt, cầu nguyện việc thiện lành

 

_Lại có Pháp. Lấy bột Đàn Hương, hạt cải trắng hòa với bơ, mật… một lần Chú thì một lần ném vào trong lửa, dùng gỗ cây dâu thiêu đốt. Lửa thiêu dựa theo Pháp lúc trước thì kéo dài mạng sống đến trăm năm.

 

_Lại có Pháp. Lấy hương Nhũ Đầu, hương của tất cả Hoa, bơ, mật , Lạc hòa chung với nhau. Một lần Chú thì một lần ném vào trong lửa, đủ 108 lần. Dùng cây Dâu làm củi. Dùng 5 loại trái cây có hạt lớn, thuần một màu thì sự mong cầu hòa hợp, thương yêu nhau đều được thành tựu.

 

_Lại có Pháp. Lấy Ô Ma (mè), Cánh Mễ (gạo tẻ), bơ, mật, lạc hòa chung với nhau. Một lần Chú thì một lần ném vào trong lửa, như vậy tám ngàn lần. Lấy Cấu Mộc làm củi thiêu đốt thì diệt dược tất cả tội chướng, chẳng kể nặng nhẹ

 

_Lại có Pháp. Lấy Long Hoa, bơ, mật… Chú 1008 lần. Lấy gỗ cây Thị làm củi thiêu đốt, đủ biến số thì mưa liền tuôn xuống.

 

_Lại có Pháp. Lấy Mạn Tinh Tử, bơ, mật hòa chung với nhau rồi thiêu đốt tám ngàn biến thì mưa ấy liền ngưng.

 

_Lại có Pháp. Lấy cánh mễ (gạo tẻ), Ô Ma (mè), lạc, bơ, mật hòa chung với nhau. Lấy củi trong rường Thi Đà đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném, như vậy tám ngàn lần thì chận đứng các nạn: gió ác, mưa mạnh bạo, sự giá buốt.

 

_Lại có Pháp. Lấy An Tất Hương, Lang Đãng Tử, hạt cây Kỳ Nham, hạt mè, Mạn Đà La, Mạn Tinh Du (dầu củ cải), cây Khước La Vĩ La… đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném, như vậy đủ tám ngàn lần, liền được diệt được 84 trăm ngàn loại bệnh: điên cuồng, Ma, Quỷ, Cọp… các Quỷ thảy đều kêu khóc bỏ chạy. Nếu không có cây lúc trước thì dùng cây Phanh Lư (một loại giống như cây dừa) thay thế cũng được

 

_Lại có Pháp. Lấy bơ, mật xoa bôi trên cây gai, lại dùng củi nầy đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném, như vậy đủ tám ngàn lần thì tất cả Oán Địch đều tự tiêu diệt.

 

_Lại có Pháp. Lấy Lang Đãng Tử, hạt cải trắng, Cánh Mễ (gạo tẻ), đường cát, bơ ,mật, lạc hòa chung với nhau, dùng cây Khư Đà La đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném, như vậy đủ tám trăm lần. Tức tất cả Tỳ Na Dạ Ca chạy thẳng đến đánh nhau, điều phục được tất cả Tỳ Na dạ Ca.

 

_Lại có Pháp. Bên cạnh ao hoa sen, nhón lấy hoa, lá, cọng, hoa sen hòa chung với bơ, mật, lạc.. Lây 5 loại cây có quả đốt lửa, một lần thiêu đốt thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ 108 lần xong. Liền được Công Đức Thiên (Śrī-deva) hiện thân đến hỏi Chú Sư rằng: “Có việc gì? Cần vật nào?”. Chú Sư đáp rằng: “Nguyện cho tôi tiền tài khiến cho đừng tiếu, hết”, Liền được nguyện ấy. Vị Trời liền chẳng hiện. Chú Sư hoặc đi hoặc ngồi, đều thấy Phục Tàng (kho tàng bị che dấu), lấy dùng không hết.

 

_Lại có Pháp. Lấy sữa của con bò màu vàng đỏ (xích ngưu), hạt cải trắng, hoa lúa gạo, bơ, mật hòa chung với nhau. Lấy Thiên Mộc đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ tám trăm lần. Tức ở tất cả nơi chiến đấu đều thắng người khác.

 

_Lại có Pháp. Lấy A Ca Chỉ Sử La, hạt cải trắng, lạc, đường cát, bơ, An Tất Hương hòa chung với nhau. Dùng năm loại cây đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ tám ngàn lần. Tức tất cả hàng Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Bộ Đa đều bị đánh, chịu hàng phục quy y.

 

_Lại có Pháp. Lấy Lang Đãng Tử, hạt cải trắng, Thố (Thố Tương Thảo: cây chua me) một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy tám trăm lần. Hết thảy Quỷ, người khó giáng phục đều làm Pháp này

 

_Lại có Pháp. Lấy hạt cải trắng, An Tất Hương, thuốc A Ngùy, dầu Ô Ma (dầu mè) hòa chung với nhau. Lấy cây Tạo Giáp đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy tám trăm lần. Tất cả việc hung mãnh thì nên làm Pháp này.

Lại lấy hạt cải trắng, hoa Ca La Vĩ La, lá Thiên Mộc, bơ, mật, lạc hòa chung với nhau. Lấy cây Phanh Lư (một loại giống như cây dừa) đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ tám ngàn lần. Tất cả việc ác sân nộ ác thì làm Pháp này.

 

_Lại có Pháp. Lấy hoa Tô Ma Na, lá hoa sen, Thiên Đông Môn, bơ, mật, sữa, lạc hòa chung với nhau. Lấy cây dâu đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ ba ngày ba đêm, liền được Vương Phi, trăm quan, tất cả người dân đều đến chịu hàng phục, cung kính cúng dường.

  

_Lại có Pháp. Lấy Lang Đãng Tử, Thiên Mộc hòa chung với nước cốt Nhạ Xam (?nhân sâm). Lấy cây có gai làm củi đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ tám ngàn lần. Tất cả Oan Gia đều dùng Pháp này.

 

_Lại có Pháp. Lấy thuốc độc hòa với máu, dùng cây Giáp Tạo đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ tám ngàn lần. Tức trong kỳ hạn ba ngày thì hết thảy Oán Địch đều chết hết. Nếu hàng phục Oán Địch thì nên làm Pháp này.

 

_Lại có Pháp. Lấy muồi hòa chung với hạt cải trắng, củi đốt lửa dựa theo lúc trước, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ tám ngàn lần. Nội trong ba ngày thí tất cả Oan Gia, Đại Tướng đều chết hết.

 

_Lại có Pháp. Lấy muối, đường, lông con mèo, đầu lâu con gà, dầu Mạn Tinh (dầu củ cải). Lấy cây Tạo Giáp đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném, như vậy đủ tám ngàn lần thì hết thảy Oan Gia đều chạy trốn hết.

 

_Lại có Pháp. Lấy hoa sen xanh, hoa Tô Mạt Na, lá hoa sen, hạt cải trắng, An Tất Hương, lạc, bơ, mật hòa chung với nhau. Lấy Xứng Mộc đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ tám trăm lần thì tất cả Quỷ Thần trong  hết thảy bệnh, ách nạn của tất cả chúng sanh thảy đều chạy xa, chẳng dám đến gần con người.

 

_Lại có Pháp. Lấy Mạn Tinh Tử, Tục Tuy Tử, mật, bơ, lạc hòa chung với nhau. Lấy Xứng Mộc đốt lửa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ tám ngàn lần thì tất cả sự tranh tụng, tranh cạnh, hết thảy Oan Gia đều tự tiêu diệt.

 

_Lại có Pháp. Lất hạt Đàn Hương, hạt cải trắng, An Tất Hương, Tiên Hương, dầu, Lạc, Mật, bơ hòa chung với nhau. Lấy cây Khước Địa La, cây dâu đốt lữa, một lần Chú thì một lần ném trong lửa, như vậy đủ tám ngàn lần. Liền Chú tắm gội sạch sẽ, mặc áo sạch mới, kết Giới, sau đó làm Pháp này, đốt mọi loại hương thì tất cả Như Lai, tất cả Bồ Tát, tất cả Kim Cang Tộc, Tất cả Đàn Thiên Thần đều tự hiện hình, việc mong cầu được như ý, kéo dài tuổi thọ thêm trăm năm, sau khi mạng chung thì sanh về Thế Giới Cực Lạc, hoa sen hóa sanh, sanh ra chẳng quên, thường nhớ Túc Mạng.

Đây là nơi đã dùng Pháp Kim Cang Hộ Ma đều thông đạt, không có loại nào chẳng thành, tất cả tội đều được tiêu diệt.

 

Khi ấy, Đức Thế Tôn liền nói Kệ là:

“Nếu hay y theo trên trì Pháp

Hay trừ tất cả các nghiệp ác

Ba ác, tám nạn với bốn trọng

Hết thảy Oán Địch với tranh cạnh

Tám mươi bốn gió với các bệnh

Bệnh tội như trên đều tiêu trừ

Diên niên ích thọ, vượt mười Địa

Tất cả chư Phật với Bồ Tát

Thường đến ủng hộ, sanh Phật Quốc

Hiệu danh là con của chư Phật”

 

_Đức Phật bảo Kim Cang: “Hiếm có Đà La NI này. Nay ông thu nhận lấy, nay Ta giao phó cho ông hộ giữ các Phật Quốc”

Bấy giờ, Kim Cang Dạ Xoa Đại Tướng với Ca Nị Sắt Tra Thiên, chư thần trong 33 cung Trời, Đế Thịch, Phạm Vương, bốn Đại Thiên Vương, Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại Thiên… ở trước mặt Đức Phật bạch rằng: “Thế Tôn! Nay con nhận được tất cả Đại Phật Đảnh Tộc Vương, hộ trì Phật Quốc với bốn Chúng. Nếu có người đọc tụng, thọ trì, lắng nghe Pháp này, viết chép, hoặc tự mình chép hoặc dạy người chép, hoặc tự tùy vui, dạy người khác tùy vui, cho đến Đạo Bồ Đề chẳng hối hận, chẳng quên, chẳng che bai Đà La Ni này thì con hay ủng hộ, ngày đêm chẳng lìa khỏi các người đấy”

Đức Phật nói: “Lành thay! Lành thay! Như vật chẳng thể nghĩ bàn!”

 

Bấy giờ, bốn Chúng nghe Đức Phật nói xong, đều rất vui vẻ, tin nhận phụng hành

 

ĐẠI PHẬT ĐẢNH VÔ ÚY BẢO QUANG TỤ KINH

_QUYỂN THỨ NĂM (Hết)_

 

Hiệu chỉnh xong một Bộ gồm 4 quyển vào ngày 12/08/2014

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn