Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

2. Quyển Thứ Hai

08/11/201416:46(Xem: 1182)
2. Quyển Thứ Hai

Mật Tạng Bộ 2_ No.952 (Tr.269_Tr.274)

 

KINH NĂM PHẬT ĐẢNH TAM MUỘI ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ HAI_

 

Hán dịch: Đại Đường_Thiên Trúc Tam Tạng BỒ ĐỀ LƯU CHÍ phụng chiếu dịch
Việt dịch: Sa Môn THÍCH QUẢNG TRÍ
Phục hồi Phạn Chú: HUYỀN THANH

 

HÀNH TƯỚNG TAM MUỘI GIA CỦA NĂM ĐẢNH VƯƠNG

_PHẨM THỨ NĂM_

 

Bấy giờ Kim Cang Mật Tích Thủ chắp tay, cung kính bạch rằng: “Thế Tôn Như Lai Vô Thượng Ứng Chánh Đẳng Giác! Nguyện xin rũ thương vì người tu hành, lược nói Hành Pháp thành tựu, Lý Thú thâm sâu, oai đức rộng lớn của Đảnh Vương

Lại bạch rằng: “Thế Tốn Hết thảy Chú khác đều y theo điều đã tụng trì trong Chú này, làm sao được thành?”

Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Kim Cang Mật Tích Thủ rằng: “Lành thay! Lành thay Mật Tích Thủ! Ông hay khéo nêu lên câu hỏi này để thưa hỏi Ta. Ông nên nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ rồi tịnh Tâm trì niệm. Nay Ta vì ông nói Hành Pháp, Lý Thú, nghĩa của câu Kim Cang của hết thảy chư Phật… được sanh ra từ Lý Pháp trong câu Kệ tối thắng của vô lượng Phật, để được lợi ích thành tựu Chú”

Lúc đó, Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn quán sát khắp Đại Chúng, dùng tiếng Đại Phạm khen ngợi Già Tha (Gāthā: Kệ Tụng) rằng:

Thích Ca Đại Sư Tử

Vô lượng Môn Bồ Đề

Lý Thú, Hạnh tự tại

Sẽ làm Tối Thượng Sứ

Thấy khổ ép hữu tình

Ưa trì hành Pháp này

Trời, Người cùng kính ngưỡng

Sẽ thành Vô Thượng Tôn

_Tu tập Tối Pháp (Pháp cùng tột) này

Đại Diệu Đà La Ni

Tin tưởng, ưa cúng dường

Tâm tương ứng Bồ Đề

Trụ Tháp, nhà thất sạch

Bên sông với bên suối

Độc Thụ (cây đứng một mình), trong hang núi

Nơi rừng núi nhiều hoa

Một mình, Tâm bền chắc

Sửa thân, miệng thanh tịnh

Nơi này: ăn, đi, ở

Y Pháp thường Cấm Giới

Một lòng nhớ trì Chú

Biết Bí Tam Ma Địa (Tam Ma Địa bí mật)

Xuất Sanh với Thành Tựu

Chứng Pháp thành tựu xong

Viên mãn điều ưa thích

Chẳng lâu được Bồ Đề

Nên dùng hai loại Ý

Trì Giới kèm bạn lành

Thành tựu đây chẳng khó

Tâm chẳng động, cực chắc

Pháp Phật Đảnh, Bồ Đề

Đây tức thân được chứng

_Nếu không có Đồng Bạn

Siêng tu vì hữu tình

Tướng đông nhiều khó nghĩ

Tức thân này được chứng

_Pháp thành Tâm ấn tháp

Tụng Chú, tu Đại Pháp

Mỗi mỗi hiểu rõ ràng

Tức thân này được chứng

_Cứng chắc rất tinh tấn

Tâm rộng lớn vô lượng

Làm Pháp là tối thượng

Tức thân này được chứng

_Tướng thân chi đầy đủ

Ngay thẳng, đủ Thiện Phước

Hay nhẫn khổ, đói, khát

Người này được thành tựu

_Người căn lành như vậy

Nếu đang được Kinh này

Với được Pháp Môn này

Kẻ ấy cũng chẳng lâu

Tối thắng chứng thành tựu”

 

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Kim Cang Mật Tích Chủ rằng: “Sau khi Ta diệt độ, có hữu tình ngu si, tội ác với có kẻ trụ lâu dài nơi Tràng Tướng (tên gọi khác của Cà Sa) của Ta như Bí Sô, Bí Sô Ni, Ổ Ba Tắc Ca, Ô Ba Tư Ca thường ưa thích chạy theo ngu si, Tà Kiến các đàm luận ác. Tham đắm mùi vị ngon đẹp, lười biếng thiếu Đức. Chẳng tin nhận oai Đức, tĩnh lự (thiền định), mười sức Vô Úy của Như Lai, Thuyết của Đại Thừa. Không có sức thuận tu  Luật của Bồ Tát, thực hành Pháp Giáo phương tiện. Tâm chê bai, chế diễu chỉ trích, chẳng kính chẳng tin Môn Tam Ma Địa, Thần Thông, oai đức của chư Phật Bồ Tát. Khi nhóm ấy trì làm chẳng được thành tựu, tức tăng thêm chê bai Ta với chê bai Bồ Tát, rồi xướng lên rằng: “Pháp này chẳng phải là Đức Phật nói, mà là Ma nói, vọng nói Bồ Tát với thực hành Đại Ngã, nhóm thiện nam tử, thiện nữ nhân siêng năng trì Chú này…”. Do chê bai, chế diễu, não loạn làm các chướng ngại cho nên nhân vào tội lỗi gây hại này sẽ bị vô lượng tội nặng Vô Gián.

Thế nên Mật Tích! Có nhóm thiện nam tử, thiện nữ nhân nguyện muốn phát thực hành Bồ Tát Hạnh, tín hướng bền chắc, một lòng Chánh Nguyện, thường ưa thích viết chép Kinh Điển Đại Thừa, đọc tụng, cúng dường, vì người khác giải thích, y theo Kinh Bảo Vũ thực hành, học tập mỗi một Pháp Môn của Bồ Tát, lại gia thêm thực hành Pháp Hành tức được thành tựu”.

 

Lại bảo Mật Tích: “Đâu là chỗ thành tựu của Chú? Từ thân siêng năng chân thành bố thí, trì Giới, nhẫn nhục, tinh tiến, Định, Huệ thanh tịnh. Một lòng tu tập tức mau thành tựu”

Lúc đó, Kim Cang Mật Tích Thủ lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Làm sao thực hành Môn bí mật, quán tưởng, hộ tịnh của Đảnh Luân Vương này? Xin Đức Thế Tôn rũ lòng thương. Nguyện vì con giải thích Do đầy đủ Pháp của Pháp này, cho nên mau được Pháp Thành Tựu Chứng của Đảnh Vương”

Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Kim Cang Mật Tích Thủ rằng: “Ông hãy nghe cho kỹ! Ta vì lợi ích cho kẻ Đức mỏng, Phước kém, ít tinh tấn… nói hết thảy Môn bí mật. Khi tu trì Pháp thì mỗi ngày ba thời theo Pháp tẩy tịnh, tắm rửa sạch sẽ, chẳng tham các Dục, niệm Tâm không có loạn, duy nhất tưởng Phật, Tâm Từ duyên khắp mười phương hữu tình. Đem đất sạch hòa chung với bột phân bò khô rồi Chú vào, rửa tay, tẩy tịnh, tắm rửa sạch sẽ, thân mặc áo tắm, kết Ấn hộ thân.

Hộ Thân Chú là:

“Úm, ma ma, hổ-hồng, nễ”

OṂ_ MAMA  HŪṂ  NĪḤ

Lại nên tụng Chú này bảy biến hộ thân.

Nếu sám Tội Chướng, cầu hướng đến Thần Thông thì nên dùng đất màu trắng không có loài trùng, không đỏ không đen không hôi thối không dơ bẩn.

Nếu cầu giàu có. Dùng đất màu trắng vàng. Đất ấy không có loài trùng, cũng không hôi thối dơ bẩn.

Nếu làm Pháp Hàng Phục thì dùng đất màu đỏ đen

Nếu muốn người khác tôn trọng thì dùng đất chẳng trắng chẳng đen.

Nếu muốn người khác yêu kính, khen ngợi thì dùng đất màu đỏ xanh.

Nhóm Pháp như đây, người Trí khéo biết.

 

_Chú lấy đất (Thủ Độ Chú) là:

“Úm, na la, hổ-hồng”

OṂ_ DHARA  HŪṂ

Chú vào đất bảy biến, đào lấy đất, làm hết thảy Pháp

 

_Nếu gặp nước sông suối Linh Thánh thanh khiết, có mọi loài chim, ở trên bốn bờ có cây nhiều hoa quả, phước thắng cát tường thì bước vào trong tắm gội.

Gia Trì Tẩy Dục Chú là:

“Úm, nhập phạ la, hổ-hồng”

OṂ_ JVALA  HŪṂ

Lại tụng Chú này bảy biến, hộ thân, rưới rót trên đảnh đầu, tắm gội.

Nước này tuy là nước Thánh, nếu có nạn sợ hãi với nhiều đàn bà, con nít, súc vật, thú… dẫm đạp dơ bẩn. Tức chẳng thể dùng để tắm.

 

_Gia Trì Chú là:

“Úm, bả-la nhập-la la, hổ-hồng”

OṂ_ PRAJVALA  HŪṂ

Nếu khi tắm thời Chú vào đất bảy biến, để dất nơi chỗ sạch, không có dơ uế không có khạc nhổ.

 

_Tiếp đến, Bị Giáp Chú (Chú mặc áo giáp) là:

“Úm, nhập-phạ la đế xà, hổ-hồng”

OṂ_ JVALA-TEJA  HŪṂ

Nếu đang tắm thời dùng tay phải:  ngón trỏ, ngón giữa, ngón vô danh, ngón út mau nắm lại thành quyền để bên dưới trái tim, dựng thẳng ngón cái đè ở trên trái tim, tụng  Chú chú vào ngón tay của Quyền, tưởng thành Bị Giáp (mặc áo giáp).

 

_Bị Thúc Giáp Trụ Chú (Chú khoác cột áo giáo) là:

“Úm, nhập-phạ la, bá la cật la ma ma, hổ-hồng”

OṂ_ JVALA  PARĀKRAMA  HŪṂ

Chú này lại chú ngón tay quyền ở trên trái tim, chỉ thân thể bảy lần, rồi từ từ đi vào nước khiến cho nước đến eo lưng.

 

_Nhất Thiết Đảnh Vương Tâm Chú là:

“Úm, trác lỗ lỗ, bạn đà, sa ha”

OṂ_ ṬRŪṂ  BANDHA  SVĀHĀ

Chú này vào trong nước lửa tụng bảy biến, tức sẽ cấm chỉ Tỳ Na Dạ Ca. Loài Rồng, Ba Ba trong nước chẳng dám gây tai hại với hay thành hộ hết thảy sự nghiệp.

Lại một lần nữa Chú vào đất bảy lần, chia làm ba phần, ba loại để lau chùi tẩy rửa. Trước tiên lấy một phần chà xát lau chùi tẩy rửa từ bàn chân cho đến đầu gối. Tiếp theo, lấy một phần chà xát lau chùi tẩy rửa từ đầu gối cho đến rốn. Tiếp theo, lấy một phần chà xát tẩy rửa từ rốn cho đến vai, cánh tay, mặt, bàn tay, lưng…

Tắm xong mặc áo, lại dùng Chú này chú vào nước bảy biến,  ba lần  rưới vảy trên đầu, yên lặng không nói năng. Lại tụng Chú này làm Pháp hộ thân

Tiếp theo, tụng Nan Thắng Phấn Nộ Vương Chú, tiếp theo tụng Phật Hào Tướng Bồ Tát Chú, tiếp theo tụng Phật Nhãn Bồ Tát Chú, tiếp theo tụng Tồi Toái Đảnh Vương Chú. Nhóm Chú như vậy trì hộ hết thảy rất ư thắng thượng.

Nếu làm Pháp trong Phật Chủng Tộc Chú thì Phật Nhãn Chú là hơn hết. Làm Pháp trong năm Đảnh Luân Chú này thì Phật Nhãn Chú cũng là cao hơn hết

Nếu kết Đàn, Địa Giới với mười phương Giới, tự hộ, hộ bạn thì nên dùng Tồi Toái Đảnh Vương Chú với Nhất Thiết Đảnh Vương Tâm Chú

 

_Tịnh Thân Khẩu Chú là:

“Na mạc tát phạ bột đà, bồ địa tát đả nam. Úm, tuất điện nại la, du đà na dã, sa ha”

NAMAḤ  SARVA  BUDDHA  BODHISATVĀNĀṂ_ OṂ_ ŚUDDHAM-DHĀRA,  ŚUDDHA-NĀYA  SVĀHĀ

Phật Tộc Chú này, khi vào Đàn thời mặc áo sạch xong, Chú vào nước ba biến, xúc miệng, rưới rót trên đầu, tai, vai, trái tim… chỉnh sửa dáng vẻ, nhìn thẳng, phát Tâm Đại Bi, chỉnh sửa bước đi, từ từ đi thẳng vào bên trong Đàn.

Như vậy, người Trí luôn mặc áo bông vải sạch mới, tu Chú Pháp này, thường dùng Nhất Thiết Đảnh Vương Tâm Chú chú vào hết thảy vật. Ở trước tượng Luân Vương trì cúng hiến xong, ngồi trên cỏ tranh, một lòng tưởng tượng chư Phật Bồ Tát, tụng Chú, kết Ấn, khải triệu, phát nguyện, quán sát kỹ lưỡng nơi Tượng, thân chẳng lay động, mắt chẳng liếc nhìn, kết Liên Hoa Ấn, Khải Phật Tọa Ấn… như vậy tác trì. Tại sao thế? Vì được tòa của Phật, tòa của Bồ Tát.

 

_Tiếp theo, Chú cầm tràng hạt (Bả Sổ Châu Ấn) là:

“Úm, át bộ đê, nhĩ nhạ duệ, tất địa, tất đà hát lật-đệ, sa ha”

OṂ_ ADBHUTE  VIJAYE  SIDDHI  SIDDHĀRTHE  SVĀHĀ

Phật Tộc Chú này dùng tràng hạt bằng hạt Bồ Đề, mỗi khi lần một hạt đều Chú ba biến, mau được thành hướng Chánh Đẳng Bồ Đề Tam Đẳng Chứng Pháp (Pháp Chứng của ba nhóm thuộc Chánh Đẳng Bồ Đề).

Hết thảy Pháp Đà La Ni ấy cũng như nhóm Pháp của ba thành tựu này.

Cầu phú quý giàu có, dùng hạt châu bằng vàng, bạc

Cầu sẽ thành tựu hết thảy việc thù thắng thì dùng hạt châu bằng Pha Lê.

 

_Dây xỏ hạt châu thì nhờ Đồng Nữ se bện, đều tụng Bổn Chú chú vào hạt châu mà xỏ cột thành chuỗi.

Chú chú vào tràng hạt (Chú Sổ Châu Chú) là:

“Na mô bà già phạ để, tất thê sa, sa đà dã, sa đà dã, tất đà thê, sa ha”

NAMO  BHAGAVATE  SIDDHE  SĀDHAYA, SĀDHAYA  SIDDHĀRTHE  SVĀHĀ

Tụng, dùng Chú này chú vào hạt châu, xỏ xâu xong, bụm lấy tràng hạt, chắp tay, Chú bày biến. Đây gọi là Pháp Thọ Trì Châu

 

_Thường ngồi trên cỏ tranh, một lòng yên lặng, mặc áo Sô Ma (vải gai), trì tụng Khóa xong, làm Pháp an ổn. Nếu Thời Số xong, lại chú vào cây Đặc Thất Lợi, hoặc cây mật La, hoặc cây Bạch Chiên Đàn, hoặc cây Phong Hương… làm Pháp phú nhiêu (giàu có) đều được Thượng Thành Tựu

Nếu nhóm cây cỏ gai, cây Khư Đà La, cây Ca La Nhĩ La dài 12 ngón tay, cắt vót nhọn đầu, làm Pháp Điều Phục cũng được Thượng Thành Tựu

Không có nhóm cây trên, chỉ được lá thì lấy lá không có loài trùng, cũng được thành tựu.

Nên đem phân bò hòa với các nước thơm, mỗi ngày xoa bôi, rưới vảy chỗ ngồi, nằm với chỗ Quán Đảnh. Nước cần dùng thời đều lọc cho trong sạch, quần áo trong ngoài thường luôn giặt sạch.

Như đây, làm Pháp. Nếu chẳng thành tựu, liền gia thêm Nhất Thiết Đảnh Luân Vương Tâm Chú mỗi mỗi biến đồng tụng. Lại chẳng thành tựu thì lại gia thêm Phật Nhãn Chú , cả ba đồng tụng, Tâm đừng buông lung bối rối. Phật NHãn Chú này là điều mà chư Phật quá khứ đã từng cùng chung nói.

 

_Nay Ta lại nói, vì người sẽ thành tựu Sám ngũ nghịch (sám hối 5 tội nghịch), trì Nhất Tự Đảnh Luân Vương Chú này được đại chứng thành, huống chi là người có Tánh trong sạch, đầy đủ Tín Căn trì chẳng thành tựu. Nếu người trì Chú này không có tượng năm Đảnh Luân Vương này để ngồi đối diện trì niệm, thì như Đức Phật nói Tượng, hãy tưởng tượng ở ngay trước mắt, một lòng chiêm ngưỡng, chắp tay lễ xong, ngồi Kiết Già ngay ngắn.

Định Tưởng Tâm Chú là:

“Na mô la đát na đát la dạ gia. A giả la, nhĩ lộc, sa ha”

NAMO  RATNA-TRAYĀYA_ ACALA  VĪRE  SVĀHĀ

Tụng bảy biến, kết tưởng trên Đại Ấn, có vô lượng các báu. Dưới ngọn núi lớn tưởng có nước trong của biển lớn. Trên núi tưởng có hoa sen bảy báu có vô lượng trăm ngàn cánh to lớn, đài hoa tròn rộng lớn, cọng rất to lớn, Trên lá, đài hoa sen... tưởng có trướng báu, hình trăng đầy, hình bán nguyệt, ngọc báu, chuông, khánh, trân châu, màn lưới, giáp vòng để nghiêm sức. Bên trong có Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai, thân đủ ba mươi hai tướng Đại Nhân, tám mươi vẻ đẹp, ngồi Kiết Già trên tòa sư tử, mắt quán nhìn tượng Đảnh Vương, như trên nói Tượng, tưởng đều có.

Trên Điện tưởng có dù lọng bảy báu, dùng mọi lưới báu vây quanh trang nghiêm. Như vậy tưởng quán dài rộng trăm xích (100/3 m) tưởng thành trăm Xích, dài rộng một dặm tưởng thành một dặm, dài một do tuần tưởng một do tuần, triển chuyển cho đến Trời Sắc Cứu Cánh

Quán hành Tướng này, Tâm đừng do dự  đuổi theo các cảnh, hoặc quán Tâm loạn

_Quán Tưởng Đại Hải Chú là:

“Úm, nhĩ ma lộ na địa, hổ hồng” 

OṂ_ VIMALA- UDHADI  HŪṂ

Tụng bảy biến, quán tưởng biển lớn sáng sạch trong suốt, không có sóng động, hiển hiện rõ ràng

 

_Ngay trong tâm biển, quán tưởng ngọn núi báu.

Chú là:

“Úm, a già la, hổ hồng”

OṂ_ ACALA  HŪṂ

Tụng bảy biến xong, quán tưởng núi báu tròn rộng đẹp đẽ, đầy đủ mọi báu hiển hiện chiếu sáng

 

_Tiếp đến, Bảo Sơn Liên Hoa Chú là:

“Úm, hổ, ca ma la, sa ha”

OṂ_ HUT (phụng hiến)  KAMALA (hoa sen đỏ)  SVĀHĀ

Tụng bảy biến, quán tưởng hoa sen bảy báu có vô lượng trăm ngàn lá to lớn: tua, nhụy, đài, cọng... đều hiển hiện ánh sáng.

 

_Quán Tưởng Bảo Điện Chú là:

“Na mạc tát phạ đát tha nga đá nam. Úm, tát phạ thổ nghiệt đê, tát phả la, y ma-hồng, già nga na kiếm, sa ha”

NAMAḤ  SARVA  TATHĀGATĀNĀṂ_ OṂ_ SARVA UDGATE  SPHARA  HĪMAṂ  GAGANAKAṂ  SVĀHĀ

Tụng bảy biến, quán tưởng cái điện báu với mọi loại trang nghiêm, hiển hiện ánh sáng.

 

_Tiếp theo, tụng Bổn Sở Trì Chú (Chú vốn đã trì) khải thỉnh Phật Hội. Trong điện mọi báu, cầm mây hương, hoa thơm, thức ăn thơm, nước thơm cúng hiến Phật Hội. Liền phát Nguyện rằng: “Nguyện xin chúng Thánh đều dùng Thần Lực trụ nhận cúng dường”.

Đợi giáp vòng xong, tiếp đến tụng Nhất Thiết Đảnh Vương Tâm Chú 108 biến, kết trì Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn góc, phương trên, phương dưới.

Xong, tiếp đến quán trong Đại Giới của Đàn, tưởng biển nước thơm tắm Thích Ca Mâu Ni Chân Báo Thân Phật. Lại nên một lúc tưởng tắm tất cả thân Phật với Chủng Tộc của Phật, Chú Thần của Bồ Tát kèm với Chú Thần.

Tưởng tắm xong hết. Lại tưởng mọi loại Chiên Đàn, hương xoa bôi… một lúc xoa bôi trang sức hết thảy thân Phật với Chủng Tộc của Phật, Bồ Tát, Chú Thần…

Lại tưởng mọi loại lụa là kỳ diệu, dây vàng, Ca Sa, mão đội đầu, Anh Lạc với các quần áo…một lúc khoác đeo trên thân của hết thảy Phật với chủng tộc của Phật, Bồ Tát, Chú Thần…. Tưởng thưa thỉnh ngồi trong Hội.

Tiếp theo, tưởng cầm hiến các thức ăn uống, một lúc cúng dường hết thảy chư Phật với chủng tộc của Phật, Bồ Tát, Thần xong. Hành Giả dùng căn lành này, tâm miệng tỏ bảy chân thành sám hối mọi tội, hồi hướng Bồ Đề, thỉnh Phật chuyển bánh xe Đại Pháp.

Nhân Giả (người có đức hạnh) liền quán sát kỹ lưỡng đầu lỗ mũi, tưởng tâm không có nghi ngờ, tay phải bấm lần hạt châu, tay phải để ngang ngực, kết Sổ Châu Ấn mỗi mỗi thuận theo tụng Chú

Đầy đủ số khóa xong, để tràng hạt (sổ châu) ở nơi phù hợp tinh khiết, Ấn Chú hộ trì, lại đốt hương lần nữa, tưởng các hoa hương như Pháp cúng hiến. Liền tụng Bổn Chú giải Đàn Phương Giới, chắp tay đảnh lễ, y theo phương phát khiển.

Như Vậy tưởng Pháp 30 Tuần Nhật (300 ngày, một tuần nhật là 10 ngày), yên lặng chặt đứt các Luận, mỗi ngày ba thời, sẽ được thấy Chứng Địa, Tam Ma Địa Môn

 

NGHI PHÁP BÍ MẬT CỦA NĂM ĐẢNH VƯƠNG

_PHẨM THỨ SÁU_

 

Bấy giờ Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn lại bảo Kim Cang Mật Tích Chủ rằng: “Thành Tựu Pháp Hạnh của Đảnh Vương Chú này là điều mà chư Phật cùng nhau nói, để được lợi ích thành tựu Đảnh Vương.

Này Mật Tích! Hết thảy Như Lai quá khứ hiện tại nói câu kệ, giáo hạnh không có sai biệt, thảy đều ở nơi thù thắng trống vắng yên lặng mát mẻ. Nay Ta lược bày nói.

Nơi có bậc Thánh cư ngụ ở  Đại Danh Sơn, hoặc hang của Tiên Thần, hoặc nhà trống mới, nơi rừng suối… các chỗ như đây, một lòng Thiện Tịnh tu hành Pháp này. Hết sức trong sạch cắt trừ các Pháp bất thiện; đối với Pháp Thiện Tịnh phải sanh Ý thâm nhập. Pháp của hai câu này lan truyền, hay sanh nghiệp Thiện, Bất Thiện. Thế nên nếu ăn uống, các vị cay, ngọt, chua, lạt…. đừng ham muốn: tham ăn thích uống quá độ. Nếu vì tham, liền chẳng thể trì tụng, cúng dường, đốt lửa, chẳng sanh Tâm định. Chính vì thế cho nên người trì Chú cắt lìa Tham Ái, luôn ở đầu đêm tùy theo sức chuyển đọc Kinh Đại Thừa Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, Kinh Bảo Vân với Kinh Đại Thừa khác. Đến khoảng giữa đêm, trải cỏ tranh sạch, giáp vòng bốn phương kết Giới, kết Ấn Chú, ấn hộ trì thân như vua Sư Tử, đầu hướng về phương Nam, mặt hướng về phương Đông, nghiêng hông phải, tay lót làm gối, chồng chân lên nhau mà nằm. Đây là Pháp nằm khi thiêu đốt Hỏa Thực trong lúc niệm tụng Bố Sắt Trí Ca (Puṣṭika: Tăng Ích).

Nếu khi thiêu đốt Hỏa Thực trong lúc niệm tụng Phiến Để Ca (Śāntika: Tức Tai) thì đầu hướng về phương Đông Nam, mặt hướng về phương Đông Bắc, nghiêng hông phải, tay lót làm gối, chồng chân lên nhau mà nằm.

Nếu khi thiêu đốt Hỏa Thực trong lúc niệm tụng A Tỳ Chá Lỗ Ca (Abhicāruka: Hàng Phục) thì đầu hướng về phương Tây, mặt hướng về phương Nam, nghiêng hông phải, tay lót làm gối, chồng chân lên nhau mà nằm.

Nếu khi ngủ, mộng thấy leo lên cây Bồ Đề, cây Chiên Đàn Hương, cây Nhĩ La, cây Uất Đầu Mạt La… thì gọi là tướng chứng Trung Phẩm mau thành tựu.

Nếu mộng thấy cỡi Bạch Hạc, chim công, Kim Sí Điểu… thì gọi là tướng chứng Thượng Phẩm mau thành tựu.

Nếu mộng thấy leo lên lầu gác, cây phướng; dẫm đạp trên vòng hoa. Hoặc thấy tay cầm cây đàn Không Hầu đi vào chỗ của chúng Tăng, leo lên cái tháp, ngồi trên con thuyền… thì gọi là tướng chứng Hạ Phẩm mau thành tựu.

Nếu có mộng thấy người Chiên Trà La, heo, chó, lạc đà, người chết… nếu tiếp chạm hoặc đứng gần. Đây là Chướng, nên chẳng thể thành

Nhóm tướng như vậy, người Trí nên biết.

 

_Nếu Tỳ Na Dạ Ca gây các chướng não. Lấy gạo tẻ hòa với dầu mè đen, ngày ngày ba thời, một lần Chú một lần thiêu đốt, đều 1008 biến, đủ 21 ngày liền được mộng thấy Bổn Thần hiện thân dạy bảo, nói rằng: “Ngươi nên đến chỗ …., lấy bơ, mật hòa với nhau, ngày đêm ba thời, mỗi thời một lần Chú một lần thiêu đốt, đều 1008 biến, trong ba ngày đêm tức được  mộng thấy hết thảy Chân Pháp của Tỳ Na Dạ Ca. Người nên ăn hết thảy Chân Đạo thì ngươi sẽ làm xong công việc (thành biện)”

Nếu dạy bảo, hiểu biết xong thì gia thêm niệm Thần Chú. Nguyện nên vì ta hiện tướng Đại Trượng Phu, đừng vì Ta hiện tướng trạng Thiên Nữ làm loạn tâm cảnh của Ta, vọng sanh nhóm Tâm tham dính, ngu si. Lại trì Hộ Thân che giúp cho ngủ yên.

Nếu khi trì tụng, đừng nhớ mọi loại Pháp đùa giỡn, ham muốn tạp nhạp, chảy rỉ… cũng đừng muốn tính mọi việc ở vị lai với các Pháp khác làm tán động, loạn tâm của ta… chỉ một lòng cột buộc tưởng vào của mỗi một câu trong Chú văn.

Nếu Tâm ham muốn sanh ra thì quán thân bị hư nát

Nếu Tâm giận dữ sanh ra thì quán trụ Tâm Từ

Nếu Tâm ngu si sanh ra thì quán mười hai Duyên

Nếu Tâm luôn luôn duyên theo điên đảo sanh trụ, tức Tâm quán tưởng Chú Thần ngay trên đảnh đầu, dùng hoa hương như lúc trước cúng dường, ngồi Kiết Già như Pháp niệm tụng

Nếu chỉ một chút chẳng y theo Pháp này, hoặc liền bị chướng ngại, Tỳ Na Dạ Ca phá hoại, ăn nuốt.

Nếu có người chưa từng vào Luân Vương Đại Chủng Tộc Đàn Tràng này, chưa được A Xà Lê trao truyền Pháp mà tự trì Pháp này, tức liền thường bị Tỳ Na Dạ Ca như bóng theo thân gây chướng ngại. Hiến thức ăn, hiến hương, hiến hoa, cơm, nước thơm, đốt lửa, tiếng của Chú… chẳng thể đến hiến cho Bổn Chú Thần được.

Đảnh Luân Vương này, nếu người thành tựu tức thường chẳng bị Mỗ Lại Đà Trá Ca, Tỳ Na Dạ Ca Vương gây sanh chướng nạn, huống chi là hết thảy Tỳ Na Dạ Ca khác có thể gây chướng nạn sao!?...

Thế nên người Trí thành tựu Chú Pháp, nên dùng Nan Thắng Đoạt Nộ Vương Chú hoặc dùng Luân Vương Bộc Tùng Chú, vào lúc trì tụng thời thiêu đốt Hỏa Thực cùng hộ giúp cho thân ấy.

Nếu chẳng y theo Pháp, mỗi mỗi hộ thân tức khó thành tựu, thường bị các Trời, Rồng, Dược Xoa, La Sát ác,loài Ác Cấu Tiên, Trà Chỉ Ni Quỷ, Tất Xá Già Quỷ, Ngạ Quỷ… đi theo nơi nơi, rình tìm gây chướng não, phá hoại cho hao sút.

Trong Chú Pháp này, đừng dùng hoa Mạn Đà La, hoa Nhĩ La, hoa Át Ca… hiến cúng dường, với trong Chư Phật Đảnh Cúng Dường Pháp cũng đừng cúng dường.

Nên dùng hoa Nhạ Để, hoa Đầu Bát La, hoa Câu Vật Đầu, hoa Dụ Để với mọi loại Uất Bột Danh Hoa. Cầm nhóm hoa này thường dùng cúng dường năm Đảnh Luân Vương.

 

_Nếu có người trì Chú: một lần, hai lần, ba lần kèm tu Pháp này mà chẳng chứng Tất Địa thì nên siêng năng thành khẩn gấp đôi tinh chuyên tu tập, cho đến bảy lần. Trên bãi cát ở sông, biển… ngày ngày ba thời, ấn cát làm tháp Phật, tùy theo sức ấn tu kèm chuyển các Kinh Điển khác của Đại Thừa. Ấn tháp này đủ 30 vạn cái, liền diệt được mười nghiệp chướng nặng của đời trước. Tùy theo sức cúng dường mỗi một cái tháp này. Dùng hương bột xoa bôi, các hao hương màu nhiệm ở trước mặt Đức Phật hiến cúng, cúng dường. Ngồi ở trước mỗi một cái tháp, tụng Chú 108 biến.

Người Trí như vậy tu trì Pháp tinh túy. Nếu chẳng thành tựu tức bị chướng nặng nề của đời trước. Lại gia thêm ngày ngày ấn cái tháp cao một khuỷu tay từ một ngàn cái tháp trở lên. Như tội nặng năm Nghịch cũng được tiêu diệt, huống chi là Túc Chướng (chướng của đời trước) khác.

Như đây, y theo Pháp siêng săng tu trì, chỉ tụng trì Chú cũng được tiêu diệt tội huống chi là ấn tháp.

 

_Lại có Pháp. Đi đến trụ bên cạnh sông lớn, sông nhỏ. Cầm hoa sen, một lần Chú một lần ném vào trong nước sông sớn, sông nhỏ… đủ 10 vạn cái liền được thành hướng, huống chi la gia thêm gấp đôi mà chẳng thành tựu sao?!... Nếu chẳng ở nơi như vậy mà làm Pháp tức chẳng thành biện được.

Như Chú Pháp này. Người ít Phước, bạc Phước khiến gia thêm ấn tháp liền được thành tựu. Người gieo trồng Phước Đức chỉ y theo Pháp tụng trì, cúng dường liền được thành tựu.

Như vậy người thành, siêng năng tụng trì Chú làm căn bản. Thế nên người bền chắc, tinh tấn, thanh tịnh cầu Bồ Đề đều quyết định thành tựu.

_Chưa từng thấy Chú nơi Kinh mà tự thành. Thiết yếu phải tinh tấn, vì Bồ Đề, Sư Tăng, cha mẹ với chúng sanh khổ…cố công tu tập, chắp tay đảnh lễ, y theo Pháp tụng Chú trừ hết chướng cấu mới được thành tựu, làm Công Đức lớn. Hữu tình ở kiếp sơ: chân chất ngay thẳng, thuần thiện, Phước Đức cao thắng nên tùy làm tùy thành, chẳng như ngày nay Ta, Thích Ca Mâu Ni Như Lai ra đời trong thời ác trược…khi được giải thoát với khi hàng Đệ Tử chứng giải thoát thời liên tục siêng năng chặt đứt lưới Tâm sai biệt nghi ngờ, đầy đủ tinh tấn, trong sạch tu việc Phước, liền được thành chứng.

Nếu Phước Đức lớn lao, y theo Pháp tu trì mau được thành tựu. Nếu Phước Đức ít ỏi, y theo Pháp tu trì thì lâu lắm mới thành tựu.

Chú tối thượng này, nếu chứng thành tựu liền được cao thắng không có hàng nào ngang bằng được. Ví như báu Lưu Ly, báu ánh sáng của hoa sen trong sạch, Công Lực, giá thật đắt gấp bội lên cũng chẳng theo kịp, không có nói rõ được, huống chi là nói đủ. Cho nên sức của Đảnh Luân Vương Chú này chẳng thể nghĩ bàn, dõng mãnh thù đặc.

 

_Hành Giả nên thường ôm bình bát đi xin thức ăn. Nếu được bánh, cơm lại trong sạch đào xới lựa chọn, chia ra làm ba phần. Một phần phụng hiến Đức Phật, Thần, chư Thiên. Nếu thức ăn hiến xong, cầm lấy đem cho hết thảy hữu tình trên bờ dưới nước. Một phần bố thí cho người từ bên ngoài đi đến xin ăn, nếu không có người xin thì đem cho cầm thú. Một phần giữ lấy, y theo Pháp tự ăn.

Nếu có làm Pháp cầu an ổn thì hướng mặt về phương Bắc, ngồi ăn.

Nếu có làm Pháp cầu giàu có thì hướng mặt về phương Đông, ngồi ăn.

Nếu có làm Pháp cầu điều phục thì hướng mặt về phương Nam, ngồi ăn.

Hành Giả thường khởi Tâm Từ, nghĩ đến các hữu tình đang chịu mọi sự đau khổ, thề sẽ độ thoát.

 

_Nếu Đại Bí Sô, hoặc Ô Ba Tác Ca (Nam cư sĩ), người trì Phạm Hạnh… Nếu Tâm Từ Bi, một mình hành trì Pháp, tức không có chướng ngại. Thế nên người Trí ưa muốn an ổn, giàu có…sẽ mau thành chứng.

Nên thường dùng Tâm Định cung kính, chắp tay lễ Phật, Tháp kèm trì, rưới vảy mặt đất. Lấy phân bò hòa với đất màu vàng rồi xoa tô đất của Đàn. Tụng dùng Nhất Thiết Đảnh Vương Tâm Chú, hoặc tụng Tồi Toái Đảnh Vương Chú chú vào hạt cải trắng kèm với tro bảy biến, rồi rải bày bảy phương, kết làm Phương Giới. Lấy bốn cây cọc, dùng dây chỉ cột buộc rồi Chú vào 7 biến, đóng ở bốn góc, kết Phương Địa Giới, an bày vị trí ngồi, mọi loại cúng hiến, hộ thân, kết Ấn, thỉnh triệu, cúng dường, tụng Chú, đốt lửa… tự thân nghiệm thành.

Trước tiên, bắt đầu cúng dường Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai, tiếp theo nên cúng dường Minh Đảnh Vương, tiếp theo nên theo thứ tự cúng dường mỗi một Đảnh Vương, tiếp theo nên cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát với Chủng Tộc của Ngài, tiếp theo nên cúng dường Kim Cang Mật Tích Chủ Bồ Tát với Chủng Tộc của Ngài, tiếp theo nên cúng dường Dữ Nguyện Đảnh Vương với Chủng Tộc của Ngài. Như vậy cúng dường, mỗi mỗi theo thứ tự đều cầm hương hoa, trước tiên tưởng cúng dường sau, tiếp theo nên cúng hiến Thiên Thần của Thế Gian.

Như cúng hiến này gọi là Pháp tắc cúng dường của ba Chủng Tộc. Người ngu si đần độn không thể hiểu biết, dùng mọi thứ chê bai nói: “Hết thảy người trì Chú nói các Chú Pháp, tận cùng là Mạn Ngữ (lời nói phù phiếm trống rỗng)”. Nếu người Trí gặp người ngu si như vậy thì nên tự mính quán sát chư Phật nói lời chân thật cũng chẳng đặt bày sự hư dối. Chỉ tinh ròng chuyên chí tu Pháp cúng dường, Pháp Phiến Để Ca, Pháp Bố Sắt Trí ca, Pháp A Tỳ Chá Lỗ Ca.

Nếu Pháp Bố Sắt Trí Ca (Tăng Ích): Khi niệm tụng, lúc thiêu đốt Hỏa Thực thời hướng mặt về phương Đông, một lòng, ngồi Kiết Già. Sau mỗi Chú gia thêm câu Sa Ha (SVĀHĀ)

Nếu Pháp Phiến Để Ca (Tức Tai): Khi làm niệm tụng, lúc thiêu đốt Hỏa Thực thời hướng mặt về phương Bắc, định Tâm, ngồi Kiết Già, cũng sau mỗi Chú gia thêm câu Sa Ha (SVĀHĀ)

Nếu Pháp A Tỳ Chá Lỗ Ca (Hàng Phục): Khi niệm tụng, làm Pháp, thiêu đốt Hỏa Thực thời hướng mặt về phương Nam, sân nộ, bàn chân trái đạp trên cạnh bàn chân phải, ngồi xổm cũng sau mỗi Chú gia thêm câu Hổ Hồng (HŪṂ).

Nếu muốn thường làm Pháp Phiến Để Ca, lấy mè đen hòa với hạt cải trắng, làm Pháp Hỏa Thực

Nếu muốn thường làm Pháp Bố Sắt Trí Ca, cũng lấy mè đen hòa với hạt cải trắng, gạo tẻ làm Pháp Hỏa Thực

Nếu muốn nhổ bỏ gai góc trong Phật Pháp, làm Pháp A Tỳ Chá Lỗ Ca, lấy thuốc độc hòa với rễ Tân Lang Già Lý, làm Pháp Hỏa Thực

Làm Pháp Bố Sắt Trí Ca: dùng cây Nhĩ La, cây A Thâu Ca, cây A Sai Na, cây Bồ Đề, cây Tát Nhạ Ca thường làm củi đốt lửa

Pháp Phiến Để Ca: dùng cây Ni Cù Đà, cây Tân Đầu Mạt La, cây A Thuyết Tha, cỏ Thiên Môn Đông… thường làm củi đốt lửa

Pháp A Tỳ Chá Lỗ Ca: dùng cây Khư Tha La, cây Vô Lâu, cây Khổ Luyện, cây Ca La Nhĩ La… thường làm củi đốt lửa

Điều phục tâm ác của kẻ khác khiến cho hiền thiện thì gọi là A Tỳ Chá Lỗ Ca

Trừ hết tai chướng, tất cả an định thì gọi là Phiến Để Ca

Nguyện được viên mãn sự mong cầu như Ý thì gọi là Bố Sắt Trí ca

Nhóm Pháp như vậy ở hết thảy nơi chốn, người trì Chú khéo suy nghĩ, y theo Pháp tu tập sẽ được tối thượng trong Giáo này. Nếu muốn tịch trừ hết thảy tai chướng trong Giáo Pháp này thì nên làm như vậy. Trừ Pháp này ra đều chẳng nên làm.

Người đã thực hành này, nên có tâm Từ, hết thảy Phạm Hạnh thanh tịnh, đừng như Ngoại Đạo để tóc dài móng nhọn, tức được thanh khiết. Nếu tóc dài thì sanh chấy rận, tùy đó sanh tội chướng, phải gội rửa mất nhiều công mà niệm tụng số ít. Nếu móng tay chân dài nhọn thì lưu giữ sự cáu bẩn dơ uế, cầm hương đốt hương liền bị dính dơ, tùy theo đây sanh tội chướng.  

Khi Nhật Nguyệt Thực thời làm Thượng Thành Tựu. Ở tất cả Thời Xứ cũng giữ gìn đừng Quán Luận, đừng chê bai Hòa Thượng A Xà Lê: lỗi với chẳng phải là lỗi

Nếu khi cúng dường Chú Sư, đột nhiên thấy Chú Thần thọ nhận sự khoái lạc của cõi Trời thì cũng đừng yêu nguyện đồng với điều này.

Khi thấy có cõi nước không có chủ, loạn lạc thời đừng trụ trong nước đó tu Pháp niệm tụng

Lại đừng trụ ở đất có Long Thần hộ giữ, đất có Dược Xoa La Sát thường tụ tập, đất ở rừng Thi Đà, đất không có Phật Pháp, đất có cọp sói ở, đất có nhiều muỗi mòng, địa phương không có mưa, đất có nhiều gió lộng, đất có nhiều giặc cướp, đất có người giết mỗ, đất buôn bán rượu, đất buôn bán Kinh Tượng, đất mua bán vật dụng hung ác, đất có Dâm Nữ ở với đất có mọi nạn… đều đừng trụ trong đó làm Pháp niệm tụng, tác cầu các Pháp đều chẳng thành tựu.

Trong Pháp niệm tụng thì Pháp đốt lửa là hơn hết, Thiên Thần hoan hỉ ví như người ăn uống no đủ thì vui vẻ thích thú, cho nên Đức Phật nói “Trong hết thảy Pháp Niệm Tụng Phẩm thì Pháp này là hơn hết. Cũng chẳng luận là quốc vương, hèn kém như Dược Xoa Tướng Nữ”. Như Đức Phật đã nói niệm tụng, đốt lửa, hết thảy việc Pháp… thì công nhiều thành nhiều, công ít thành ít.

Cũng đừng cho kẻ khác: rượu, thịt, thuốc độc, vật dụng: đao, kiếm, cung tên, búa, giáo… cũng đừng khen ngợi giết hại, thích giết hại, phương tiện giết hại, mưu tính giết hại…cũng chẳng xem nói việc xấu tốt của người khác, cũng chẳng dạy cho kẻ khác Pháp mê đảo si, với Pháp làm hết thảy hữu tình hoảng sợ không yên ổn… đều chẳng  nên làm.

Gặp nơi có Bộ Đa Quỷ bất tịnh, nơi có Thi Quỷ, nơi có Dược Xoa La Sát… thường một lần ra vào thì tưởng làm thanh tịnh.

 

_Ở nơi niệm tụng, ngồi Kiết Già, tưởng các Diệu Pháp thành sông nước thơm, thân lặn chìm trong đó, tắm rửa. Kết Dục Chú Ấn ấn vào thân, tưởng là thân của Phật, Bồ Tát… Liền dùng hương xoa bôi, xoa bôi trang sức khắp thân, nhất chí niệm tụng chẳng nên lay động.

Nhìn khắp, nghe kỹ: ho hắng, khạc nhổ. Nếu có lìa khỏi chỗ ngồi (phá tọa), lay động, ho hắng… liền xoay vần kết Dục Ấn ấn vào thân một lần nữa. Trì xong, lấy nước sạch rửa tay súc miệng rồi lại tụng niệm, cũng được quyết định thành tựu Thượng Pháp, Trung Pháp, Hạ Pháp.

 

PHÁP THÀNH TỰU CỦA NĂM ĐẢNH VƯƠNG

_PHẨM THỨ BẢY_

 

Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại vì dạy bảo lợi ích cho các hữu tình, cho nên nói Đại Thành Tựu Đảnh Vương Pháp, hữu tình trí nhỏ tham Pháp của Thế Gian, tâm chẳng tinh chuyên. Người Trí y theo Pháp tu tập quyết định sẽ thành hướng.

Mỗi ngày, khi Triệu Thỉnh chư Thần, Không Thần, Tinh Thần, Thần tùy theo chỗ trụ của Thế Gian… một lòng niệm tụng, tùy hô gọi đến trụ. Thường nên kết Ấn hộ thân, tụng Chú, làm Pháp. Nếu chẳng hộ thân, kết Giới tức bị Quỷ đoạt tinh khí con người cướp đoạt sức của Chú, sáu phần thâu mất năm phần, hoặc thâu đoạt hết cả. Hoặc bị Quỷ Trà Chỉ Ni cướp đoại sức của Chú. Nếu sợ bị thâu đoạt liền tụng Nhất Thiết Đảnh Vương Chú, Nan Thắng Vương Chú quyết định khiến giữ toàn vẹn Chú vốn đã trì”.

Lúc đó, Đức Thế Tôn lại quán hết thảy người trì Chú ở đời vị lai: kẻ Đức mỏng, Phước kém ưa thích ham vui đùa, Đồng Bạn chẳng tốt lành, đam mê nữ sắc, nơi Giới bị thiếu sót chảy rỉ…nên vì kẻ ấy nói Giáo Pháp, tức Tâm suy nghĩ, Tánh giữ bền chặt sáu niệm, cột buộc tu Chú Pháp, phát Tâm Bồ Đề tức được thành tựu.

Này Mật Tích! Lìa Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta), bên ngoài liền không có thành biện được. Tại sao thế? Do Tâm Bồ Đề có oai lực lớn hay giữ cho người trì Chú toàn vẹn, mau được thành tựu.

Người trì Chú chẳng ăn nhóm vật có màu đen, xanh. Cũng chẳng ngồi nằm ở giường của Đức Phật, giường của Pháp, giường của Tăng, giường của Hòa Thượng A Xà Lê, cha mẹ…

Khi ăn, cũng chẳng ăn nhồm nhoàm như Nghi Pháp của Tỳ Nại Gia (Vinaya: Luật) cho đến chẳng được vừa ăn vừa nói, trao thức ăn cho nhau. Chẳng được lấy ngón tay xỉa răng. Người Trí nên biết, ngồi Kiết Già ngay ngắn, như Pháp yên lặng ăn

Nếu khi niệm tụng, hoặc lúc làm Pháp, hoặc lúc thỉnh triệu tu pháp thời, nên dứt hết thảy lời nói tốt không tốt, như Pháp tụng niệm. Cũng đừng cùng kẻ khác nằm ngồi chung một cái giường, trao đổi quần áo giầy dép cho nhau. Vật khí đựng thức ăn, thuần dùng cái bát nhỏ bằng đồng trắng, đỏ để ăn.

Nếu đã ăn xong, liền lấy nước rửa sạch. Lại dùng tro đất lau khô bên trong bên ngoài. Thường chẳng được làm các thứ đùa bỡn giễu cợt, hý luận. Nêu vui thích vi phạm thì tùy theo tội cùng sanh

Luôn chọn: năm, tháng, ngày, giờ của Tinh Tú… y theo Pháp dựng làm ba loại Pháp

Tháng Thần Thông của Phật, tu là bậc nhất, thành tựu Tất Địa rộng lớn của Đảnh Vương. Hai kỳ Bạch Nguyệt, Hắc Nguyệt, vào ngày 8, ngày 14 ăn ba loại thức ăn màu trắng, như dùng hương hoa, thức ăn sạch mới cầm hiến cúng dường, như Pháp niệm tụng gấp đôi thì mau thành chứng.

 

_Lại có Biến Tượng. Khiến dạy Đồng Nữ dùng nước nóng thơm tắm gội, thọ nhận tám Trai Giới, cầm tơ se dệt vải đúng theo độ lượng, đừng dùng dao chặt cắt. Vào giờ tốt thời bắt đầu ra công mô phỏng vẽ, hoặc dùng tấm ván. Người vẽ tượng, thời thời tắm gội sạch sẽ, mặc áo sạch mới, thọ nhận tám Trai Giới.

Ngay chính giữa, vẽ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi Kiết Già trên tòa Sư Tử, đủ mọi tướng tốt, đảnh phóng ánh sáng, bày tướng Thuyết Pháp, thân có hào quang tròn.

Tiếp theo, bên phải Đức Phật vẽ Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi Kiết Già, thân màu trắng vàng, đầu đội mão báu, trong mão có vị Hóa Phật, mặt mắt giận dữ, một tay cầm cây phất trắng, một tay cầm tràng hạt (sổ châu). Lại ở my gian (tam tinh) vẽ một con mắt dựng đứng, dùng quần áo của cõi Trời, mọi loại trang nghiêm, ngồi trên tòa hoa sen.

Tiếp theo bên trái Đức Phật vẽ Kim Cang Mật Tích Chủ Bồ Tát, ngồi Kiết Già, thân tướng màu xang, đầu đội mão báu, mặt mắt giận dữ, một tay cầm chày Kim Cang, một tay cầm cây phất trắng, ngồi trên hoa sen báu.

Tiếp theo, phía sau Tòa vẽ Tối Thắng Minh Vương Kim Cang, vẽ Đại Độ Để Sứ Giả, vẽ Khả Úy Kim Cang, vẽ Hoàng Nhãn Kim Cang, vẽ Đại Tiếu Kim Cang, vẽ Đại Quyền Kim Cang đều có đại lực, tối thắng điều phục, đều cầm khí trượng, ngồi trên tòa hoa sen, nên dùng mọi loại quần áo, Anh Lạc, đều trang sức màu nhiệm trang nghiêm

Tiếp theo, phía sau Quán Thế Âm Bồ Tát vẽ Mã Đầu Quán Thế Âm Vương, vẽ Ý Lạc Viên Mãn Vương, vẽ Bạch Y Quán Thế Âm Bồ Tát Mẫu, vẽ Đa La Bồ Tát, vẽ Tỳ Cu Ni Bồ Tát, vẽ Phệ Lộ Giả Na Bồ Tát… Nhóm Bồ Tát này đều cầm khí trượng của bổn sở, ngồi trên tòa hoa sen. Nên dùng mọi quần áo màu nhiệm, Anh Lạc đều trang nghiêm màu nhiệm.

Tiếp theo, bên dưới tòa của Đức Phật, phía bên trái vẽ Nan Thắng Đại Phấn Nộ Thần, vẽ Đại Tự Thần

Tiếp theo, bên dưới tòa của Đức Phật, phía bên phải vẽ Phật Nhãn Thần, vẽ Tướng Hảo Thần.

Bốn vị Thần này đều có thân màu vàng ròng, ngồi trên tòa hoa sen.

Biến Tượng này gọi là Như Lai Thân Tối Thắng Luân Vương Đại Thành Tựu Tượng, hết thảy thông dụng đều vẽ thành chứng”.

 

_Lúc đó, Đức Thế Tôn bảo Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử: “Xưa kia, khi ông chưa chứng Địa thời tụng dùng Chú này cúng dường tượng này. Tượng phóng ánh sáng lớn chiếu ba cõi này, chúng sanh Thượng Trung ý sanh ưa thích vui vẻ.

Mạn Thù Thất Lợi! Ông được ánh sáng chiếu soi, vượt lên chứng Tam Địa được năm Thần Thông. Thế nên nói Tượng Bất Khả Tư Nghị Đại Tam Ma Địa là thân của Như Lai. Ta dùng dức Tam Ma Địa này rộng khắp ba cõi, vì các hữu tình, lợi ích thành tựu Thần Thông biến hóa. Thân của Đảnh Luân Vương này như báu Như Ý”.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử: “Ông khéo hay dùng Đại Bi Giáp Trụ, phương tiện khéo léo an trụ hữu tình, hiển bày cứu giúp hữu tình vô lượng biến hóa. Hiện ra thân Phật, thân Bồ Tát, thân Duyên Giác, thân Thanh Văn… nhiếp lấy chúng sanh, nói các Thắng Pháp giác ngộ hữu tình”

Khi ấy, Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử chắp tay, cung kính bạch rằng: “Thế Tôn! Đức Phật có bao nhiêu tên gọi, hiện Đảnh Luân Đại Tam Ma Địa lưu tuyền ở Thế Giới này?”

Lúc đó, Đức Thế Tôn bảo Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử: “Tên gọi của Đảnh Luân Vương. Ấy là: Ấn Nại La (Indra) gọi là hàng Đế Thích, cho đến trong loài hữu tình tại sáu nẻo của ba cõi, dựng lập tên gọi sai biệt tùy theo loại làm chủ, đều vì điều phục cho nên tùy theo loại dựng lập Pháp Danh sai biệt vô lượng, đều vì thành thục chúng sanh cho nên Thế Gian không có một Pháp, một tên gọi, một Tướng chẳng phải là nơi Biến Lập của Như Lai.

Này Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử! Có một loại người, biết Ta chẳng sanh chẳng diệt, Chân Như, thật tế, thật Pháp, Pháp Giới Niết Bàn, Thật Trí, không có hai, không có tướng, ý sanh, Nhu Đồng, người làm, người thọ nhận, người biết, người thấy… làm sự hiểu biết như vậy.

Này Đồng Tử! Chúng sanh trong Thế Giới Sa Ha này xưng gọi Ta là Đại Ly Dục Như Lai Phật Thiên Nhân Sư

Này Đồng Tử! Ta thường ở Thế Gian này, thành thục chúng sanh, bày tên gọi như vậy, mới có năm a tăng kỳ trăm ngàn số tên gọi. Hết thảy Thanh Văn, chúng sanh ngu si tuy xưng tên gọi của Ta cũng chẳng biết tên gọi khác như vậy của Ta.

Này Đồng Tử! Ta làm như vậy thành thục hết thảy hữu tình, cũng ở trong các Kinh nói tên gọi khác này.

Này Đồng Tử! Như vậy lại có một loại hữu tình biết Ta ở trong căng già sa đẳng Thế Giới có vô lượng tên gọi, xưng khác nhau. Như Lai nói Pháp Như Như, chúng sanh nói là đi, đến (khứ lai). Như Lai cũng chẳng có đi, đến (khứ lai), phân biệt hiện ra sắc tướng

Này Đồng Tử! Do chẳng đi, lại, không có tạo làm phân biệt, tức hay hiện ra vô lượng Phật Sự, Đà La Ni Môn”.

 

_Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử: ‘Nếu có người tu trì Đảnh Vương Pháp này, nên đợi đến giờ tốt. Vào ngày 5, ngày 8, ngày 13, ngày 14, ngày 15 của kỳ Bạch Nguyệt… lúc có Tinh Tú tốt thì tắm rửa sạch sẽ, mặc áo sạch mới.

Nếu là người thế tục (tục nhân) thọ nhận tám Trai Giới, y theo Pháp Quỹ trụ, tu tạo thanh tịnh, xoa bôi, kết Đàn Tràng, bảy hiến hương hoa, thiết đốt Hỏa Thực. Nên cúng dường Đức Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, Kim Cang Mật Tích Thủ Bồ Tát, Ma Ha Bà La Thần với các Bồ Tát, hết thảy Thanh Văn, Bích Chi Phật, chư Thiên… Như cúng dường này liền được hết thảy Đại Oai Đức Thiên, Đại Oai Chú Thần, Đại Minh Chú Thần vui vẻ quán nhìn.

Nhóm chư Thiên tuy lại ngày ngày như Pháp cúng dường, nhưng đối với Phật Bộ chẳng nên lễ bái. Tại sao thế? Vì sức của năm Đảnh Vương Chú chẳng thể nghĩ bàn. Thế nên người trì Chú cũng chẳng được đến nhà có tang lễ, nhà có người mới sanh, nhà của người bất tịnh, nhà của Chiên Đà La… đi đến thăm viếng, ở qua đêm, nhận cúng dường của kẻ khác… cũng chẳng đem thức ăn dư thừa hôi hám, thức ăn để qua đêm… cúng dường với tự mình ăn.

Người trì Chú, mỗi ngày ba thời tự thề quy y Phật, Pháp, Đại Bồ Tát Tăng. Phát Tâm Bồ Đề, tịnh trị ba nghiệp. Niệm Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, Thiên… thường vào lúc sáng sớm thọ nhận tám Trai Giới, chẳng giết chóc, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, dùng son phấn xoa bôi thân, ngồi nằm trên giường to lớn, chẳng ăn quá giờ Ngọ. Dùng Trí Chân Như, Tâm không có tạo làm cái Ta (vô tác ngã), thành kính tu tập, liền được thành biện”.

 

_Khi ấy, Đức Thích Ca mâu Ni Thế Tôn lại bảo Kim Cang Mật Tích Chủ: “Lại có Chuyển Luân Vương Tượng đối với tượng của hết thảy Chú thuộc Thế Gian Xuất Thế Gian là tối thượng, không có gì ngang bằng. Dựa theo ngày, tháng lúc trước, người vẽ đoan chánh nghiêm túc, giữ đủ thập thiện (mười điều tốt lành), dùng vải trắng mịn vuông khoảng ba khuỷu tay, hoặc hai khuỷu tay.

Ngay chính giữa, vẽ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đầy đủ mọi tướng, thân màu vàng ròng, bày tướng Thuyết Pháp, hào quang bao quanh thân, ngồi tại hoa sen trắng trên tòa Sư Tử, trên đảnh phóng ánh sáng

Ở sau lưng Đức Phật, vẽ ngọn núi bảy báu

Ở bên dưới tòa của Đức Phật, vẽ cái ao hoa sen

Ở bê phải Đức Phật, vẽ dáng mạo của người trì Chú, quỳ thẳng lưng, chiêm ngưỡng Đức Phật, tay bưng lư hương.

Này Mật Tích! Đảnh Luân Vương Tượng này, hết thảy Phật nói, bảo cho người đang trì Chú được lợi ích lớn

Lược nói Tượng này. Nếu có người nhìn thấy, tùy vui cúng dường thời tùy diệt mọi tội, được Công Đức lớn, được các Trời Rồng vui vẻ nhìn ngắm, sẽ quyết định thành tựu sức của hết thảy Dõng Mãnh Đảnh Vương; được mọi loại ca tán, cúng dường Công Đức của vô số Phật.

Vô lượng vô số hết thảy chư Phật thường đều khen ngợi Diệu Biến Tượng này.

 

Nếu có người tin mến, ngày đêm tinh tấn cung kính, cúng dường liền được một lúc tiêu diệt được tội chướng, nghiệp của thân thanh tịnh, thành tựu biển TRí công đức của Đảnh Vương, vượt qua hết thảy tối thắng thù đặc, dược các người Trời cúng dường, cúng kính, khen ngợi vô lượng, sẽ chứng phật Địa, liền không có chuyển lùi.

Người thành Chú này, trợn mắt, giận quát thì hết thảy tám Bộ Trời Rồng, Quỷ Thần đều hoảng sợ, bỏ chảy tứ tán. Thiên Đế Thích ấy thấy người này đi đến thì chia Tòa ngồi chung. Các Đại Thiên ấy cũng đều chia tòa ngồi. Chư Thiên trong ba cõi thấy người này đi đến mà kiêu ngạo chẳng đứng dậy nghênh đón, đưa tiễn thành kính.. liền đều bị vỡ nát cái đầu như cành Lan Hương

Nếu Ta ở một ức cu chi Đại KIếp khen nói Chú này cũng chẳng thể hết được.

Người thành Chú này thì người đó gọi là chứng Tất Địa tối thượng, sẽ được sống lâu làm vua trong cõi Tam Thập Tam Thiên, mạng thường an ổn, chẳng bị chết vì tai vạ,  sống thọ như thân Trời. Hết thân Trời xong, biến thân như Phật, chứng năm Thần Thông, nương theo cõi Trời này, dùng vô lượng Thiên trước sau vây quanh, đi đến các cõi Phật, biến hóa các thứ dạy đạo cho chúng sanh. Tùy theo cõi Phật: hiện thân Đế Thích hoặc hiện thân Kim Cang, hoặc hiện thân Đại Phạm Thiên, hoặc hiện thân Y Thủ La Thiên, hoặc thân Đồng Nam, Đồng Nữ… vào trong nẻo địa ngục, Quỷ, súc sanh… tùy hiện các thân cứu thoát chúng sanh.  Hoặc ở nơi núi rừng, thành ấp, thôn xóm làm các phòng, nhà, mọi loại quần áo, thức ăn cấp cho… thường làm chỗ nương dựa, độ thoát chúng sanh, đủ năm Thần Thông, thực hành Bồ Tát Hạnh, làm bậc tôn quý trong loài người.

 

KINH NĂM PHẬT ĐẢNH TAM MUỘI ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ HAI (Hết)_

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn