Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thiết lập bản đồ tâm thức

11/06/201408:05(Xem: 4619)
Thiết lập bản đồ tâm thức
image


01



02




Một cuộc đối thoại hai ngày giữa các nhà khoa học, học giả và các hành giả tâm linh về chủ đề "Thiết lập bản đồ tâm thức" tại Kyoto, một cố đô của Nhật Bản. Arthur Zajonc, Chủ tịch Viện Tâm thức và Đời sống và Sakiko Yoshikawa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kokoro, Đại học Kyoto, đã phát biểu giới thiệu ngắn gọn chương trình.

Ngày Hội đàm thứ nhất, 11 tháng 4 năm 2014 Kyoto , Nhật Bản
- Một cuộc đối thoại hai ngày giữa các nhà khoa học, học giả và các hành giả tâm linh về chủ đề "Thiết lập bản đồ tâm thức" tại Kyoto, một cố đô của Nhật Bản. Arthur Zajonc, Chủ tịch Viện Tâm thức và Đời sống và Sakiko Yoshikawa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kokoro, Đại học Kyoto, đã phát biểu giới thiệu ngắn gọn chương trình.

"Xin chào mừng các nhà lãnh đạo tâm linh, các nhà khoa học và các đạo hữu, tôi luôn luôn nhấn mạnh sự cần thiết có một ý thức rằng, chúng ta đều là thành viên của một gia đình nhân loại. Từ quan điểm đó, chúng ta đều là huynh đệ. Tôi vô cùng hoan hỷ khi chứng kiến buổi hội đàm diễn ra ở Nhật Bản. Các phiên hội đàm của Viện Tâm thức và Đời sống đã diễn ra được hơn 25 năm, tôi luôn mong nguyện được tổ chức tại một quốc gia châu Á, nơi mà tư tưởng Phật giáo là một phần của lịch sử văn hóa. Trong các cuộc thảo luận của chúng tôi với các nhà khoa học về tâm thức, trí tuệ về tâm bắt nguồn từ những tư tưởng Ấn Độ cổ đại. Sự hiểu biết của tôi dựa trên khoa học Phật giáo về tâm.
Nơi đây không bàn về đời sống trong quá khứ và tương lai, vấn đề giải thoát hay tính không, bởi đó là những chủ đề trong phạm vi của các Phật tử. Chúng tôi đã giới hạn phạm vi thảo luận về tâm thức, bộ não v.v.. , đó là lý do tại sao tôi nghĩ rằng chúng ta có thể tham gia các cuộc đối thoại giữa khoa học Phật giáo và khoa học hiện đại."
blank
Đức Đạt Lai Lạt Ma chào mừng các thành viên tham dự phiên hội đàm “Thiết lập bản đồ tâm thức" ở Kyoto, Nhật Bản vào ngày 11 tháng 4 năm 2014 . Ảnh/ Jeremy Russell.
Ngài luận giải tất cả các truyền thống tôn giáo đều nói về tình yêu thương, lòng bi mẫn, sự hài lòng, khoan dung, và quan điểm triết học khác nhau của các tôn giáo đều nhằm thúc đẩy việc thực hành các giá trị tinh thần này. Ngài cho rằng người dân của một quốc gia Phật giáo có thể tiếp nhận những tư tưởng xuất phát từ tâm lý học Ấn Độ cổ đại bàn về thực hành thiền định và thiền quán. Để đạt tiến bộ trong thực hành, chúng ta cần có hiểu biết về tâm thức và cách thức vận hành của tâm. Theo quan điểm của Phật giáo, không có một đấng sáng tạo ra thế giới, cũng không có bất kỳ một cái tôi độc lập, tồn tại vĩnh cửu. Tất cả mọi thứ phát sinh do nhân duyên, nói cách khác, tất cả mọi thứ tồn tại trong sự phụ thuộc, tương tác với các yếu tố khác.

Thiết lập bản đồ tâm là hình thành một tầm nhìn rộng lớn hơn và đi đến thấu hiểu về toàn bộ hệ thống tâm thức và cảm xúc. Điều này sẽ giúp chúng ta hóa giải được nhiều rắc rối mà ta đang phải đối mặt. Ngôn ngữ Phật giáo có nghĩa là “tuệ nhãn nhìn thấu thế gian”. Ngày này sứ mệnh này được thực hiện bởi các nhà khoa học có tinh thần cởi mở, khách quan và không bị các định kiến chi phối.

Yoshio Imaeda, một học giả Phật giáo người Nhật, mở đầu loạt bài thuyết trình. Ông nhớ lại mình thật ngạc nhiên khi phát hiện ra cha mình không hiểu biết gì về những lời kinh khi tụng đọc trước ban thờ Phật của mình. Chư Tăng đến nhà ông giúp thực hành nghi thức hàng tháng cũng không luận giải được ý nghĩa lời kinh. Rõ ràng Phật giáo đã được thực hành chỉ bởi niềm tin chứ không dựa trên sự hiểu biết. Đây là lý do ông quyết định thực hiện các nghiên cứu của mình. Ông phát hiện ra rằng các dòng Tạng truyền có sự kết tập đầy đủ nhất các kinh điển Đại Thừa và là một truyền thống sống động. Ông cho rằng một phần không nhỏ chư Tăng Nhật Bản chủ yếu đi thực hành các nghi thức cho người đã mất, Phật tử Nhật Bản cũng chủ yếu dựa vào cảm xúc, thiếu sự hiểu biết. Ông kể lại lần đi đến ngôi chùa vào đầu năm mới, con trai ông thì mong cầu học giỏi, cô con gái thì mong cầu sức khỏe cho gia đình, trong khi đó những người bạn Tây Tạng của chúng lại cầu nguyện hết thảy chúng sinh chứng đạt Phật quả.

Đức Đạt lai Lạt ma cười vui và cho rằng:
"Có vẻ như đây là một bài thuyết trình tự phê bình. Ngài cũng nên biết rằng trong 6 triệu người Tạng, 99% không có nhiều hiểu biết Phật giáo thực sự là gì. Là Phật tử của thế kỷ XXI, chúng ta phải tu học. Không chỉ chư tăng mà cả chư ni nữa. Trong 40 năm qua, chư ni đã được nghiên cứu và hiện nay nhiều vị đã đạt tới học vị cao nhất. Có thể trở lại cách tiếp cận tu học rất nghiêm ngặt này từ đạo sư Shantarakshita, một học giả và nhà logic vĩ đại từ Nalanda, ngài thiết lập nên Phật giáo ở Tây Tạng."

Trong bài trình bày của mình, Thupten Jinpa trích dẫn đoạn kinh trong Kinh Pháp Cú, "Tâm tạo ra thế giới” và kinh Udanavarga,"Một tâm thức kỷ luật là một tâm thức an lạc." Tâm đóng một vai trò quan trọng. Không chỉ trong Vi Diệu pháp mà còn ở Nhận thức luận Phật giáo trong các tác phẩm của Trần Na, Pháp Xứng và Shantarakshita đã làm rõ bản chất và phạm vi của tri thức. Đức Đạt lai Lạt ma nhận xét rằng, trong khi chỉ có một bản kinh văn ngắn của Trần Na hiện ở Trung Quốc và Nhật Bản thì ở Tây Tạng sở hữu một hệ thống phong phú kinh văn về nhận thức luận. Ngài nhớ lại, khi còn ở tuổi thiếu niên, ngài bắt đầu nghiên cứu các tư tưởng của ngài Pháp Xứng, lúc đó mỗi ngày ngài đặt ra nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ trong đó.

Arthur Zajonc đặt câu hỏi giữa việc thực hành và tu học, việc nào đến trước. Đức Đạt lai Lạt ma đề cập đến ba dạng thức của sự hiểu biết. Trước hết là lắng nghe, đọc và nghiên cứu, rồi dẫn đến niềm tin và các quan niệm. Các suy tư sâu sắc dẫn đến niềm tin và dần đi tới sự hiểu biết chân thực.
blank
Richard Davidson thuyết trình.
Ảnh/ Văn phòng của Tibet, Nhật Bản
Với chủ đề "Thay đổi bộ não bằng thay đổi tâm thức”, Richard Davidson chia sẻ những phát hiện về hệ thần kinh, có thể hiển thị sự thay đổi tâm thức làm ảnh hưởng đến bộ não; trong hệ biểu sinh, cũng có thể hiển thị những thay đổi tâm thức làm bật hoặc tắt các gen nhất định; thông qua kênh thông tin hai chiều giữa tâm thức/ bộ não, cơ thể và các phẩm chất tốt đẹp bẩm sinh, đã phát hiện ra rằng, trẻ sơ sinh thích thân thiện hơn thái độ gây hấn. Khi ông muốn kiểm chứng kết quả nghiên cứu trong máy quét MRI, Ngài đã kêu gọi chư Tăng có kinh nghiệm của Nhật Bản và các thiền sư cùng tham gia vào nghiên cứu này. Khi Davidson cũng trình bày một dự án đang được thực hiện với những trẻ em quá hiếu động và thiếu khả năng tập trung (ADHD), Đức Đạt Lai Lạt ma cho biết ngài muốn những kết luận chính xác, đó có phải là kết quả của những ảnh hưởng môi trường bên ngoài hay do di truyền, và liệu có những liên quan nào tới tâm lý lo lắng và cảm giác bất an ở đây không.

Tiến sĩ Davidson báo cáo rằng, rèn luyện tâm từ bi thậm chí trong những khóa ngắn hạn, dành 30 phút mỗi ngày trong hai tuần cũng có thể cho thấy có tác động tích cực đối với bộ não. Cuối cùng, có một thực trạng là trẻ em giành quá nhiều thời gian chơi trò chơi máy tính, ông đã đưa ra một dự án thí điểm để phát triển các trò chơi giúp nuôi dưỡng các phẩm chất thiện ích và sự đồng cảm chứ không phải kích động thái độ gây hấn và xâm lược.

Vào buổi chiều, Jay Garfield, người đã tiến hành các nghiên cứu sâu rộng và tham gia dịch thuật nhiều kinh văn triết học Phật giáo, đã bàn về sự cần thiết phải quán xét nội tâm để thấu hiểu tâm thức, nhưng đồng thời ông cũng cảnh báo về những ảo tưởng của nhận thức. Ông chứng minh một cách sinh động năng lực của ảo giác quang học và những khó khăn mà ngay cả khi chúng ta biết những gì mình đang nhìn thấy chỉ là hư ảo nhưng dường như chúng vẫn tồn tại. Ông đi tới luận điểm là, rất khó đo lường hoặc hiệu chỉnh kinh nghiệm nội tâm của bản thân. Việc sử dụng tâm thức để kiểm tra tâm thức, trở thành một công cụ như kính thiên văn hoặc kính hiển vi, nhưng trong trường hợp này bản thân cả đối tượng và công cụ sử dụng vẫn rất khó luận giải. Ông gợi ý cần có một lý thuyết về tâm thức, nếu không chúng ta không thể xử lý các dữ liệu có được ở phạm vi giá trị bề mặt.

Đức Đạt lai Lạt ma bình luận là rất hữu ích khi để tâm thức an trú trong vô niệm một khoảng thời gian, trước khi bắt đầu nhận thức bản chất của tâm và phát triển năng lực quán sát tâm, ví dụ như khi chúng ta muốn quan sát cơn giận giữ.

Trong bài trình bày về vai trò của tâm trong vật lý lượng tử , Arthur Zajonc đã mô tả về một loại hạt không có kích cỡ. So sánh về toán học với nghệ thuật của Shigefumi Mori dường như khó hiểu khi ông liên hệ mối tương quan giữa vẻ đẹp của một định đề hình học đại số với sự mô tả ánh sáng của Monet. Ông đặt câu hỏi điều gì đang diễn ra khi, không thể tìm thấy giải pháp cho vấn đề, thì bỗng một tư tưởng tự nhiên xuất hiện trong tâm. Đức Đạt Lai lạt ma gợi ý, điều này có thể liên quan tới các công việc đã diễn ra trước thời điểm đó và cho rằng có những vấn đề không thể giải quyết vào ban ngày nhưng có thể giải quyết trong thời gian giấc mơ. Ngài cho rằng, đó là vì trong thời gian giấc mơ, ý thức giác quan không hoạt động.

Arthur Zajonc đặt tầm quan trọng sức mạnh của tư tưởng, những đặc tính rõ ràng và chính xác của tư tưởng. Ông chỉ ra rằng lý thuyết tương đối của Einstein đã không hình thành như là kết quả của công việc hoặc các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Ông đi tới kết luận đó là do sức mạnh của tư tưởng.

Ngày hội đàm thứ hai, ngày 12 Tháng 4 năm 2014 Kyoto , Nhật Bản
Ngày thứ hai của buổi hội thảo về bản đồ Tâm thức bắt đầu theo một cách thật yên tĩnh. Bài thuyết trình bắt đầu ngay sau khi Đức Đạt lai Lạt ma vừa an tọa trên sân khấu.

Giáo sư Tâm lý học Shinobu Kitayama, người gốc Nhật Bản, đại học Michigan, đã thuyết trình về vấn đề Khoa học Thần kinh-Văn hóa, với việc đặt tầm quan trọng của bối cảnh văn hóa cho sự hiểu biết về tâm thức con người.

blank
Giáo sư tâm lý Shinobu Kitayama nói về Khoa học Thần kinh Văn hóa. Ảnh/ Jeremy Russell.
Làm rõ nội hàm của Khoa học Thần kinh - Văn hóa, ông cho rằng mặc dù nhân loại là nhất thể, nhưng các biểu hiện rất đa dạng.
Biến đổi trong các dạng thức văn hóa kết hợp với hệ thần kinh cho kết luận, bộ não có thể được hình thành bởi bối cảnh văn hóa. Bộ não không phải là một thực thể tĩnh tại, mà có thể thay đổi như một chức năng của kinh nghiệm. Nó có thể được hình thành bởi các yếu tố sinh thái, môi trường và văn hóa. Là một cơ quan sinh học, bộ não cũng phụ thuộc vào những ảnh hưởng di truyền và nhiều bằng chứng cho thấy nó có thể thay đổi theo văn hóa và xã hội.

Giáo sư Kitayama cho rằng có những khác biệt trong quan điểm về bản ngã. Ở phương Tây, trong phạm vi nghiên cứu của ông là châu Âu và Bắc Mỹ, cho bản ngã là thực thể độc lập. Nhưng ở những nơi khác trên thế giới, như châu Á, lại cho bản ngã chủ yếu có mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau với các yếu tố khác. Ông trích dẫn số liệu thử nghiệm cho thấy có sự khác biệt trong phản ứng về lợi ích giữa người phương Tây và người châu Á. Người phương Tây có phản ứng tiêu cực khi đặt vấn đề lợi ích của người khác lên trên lợi ích bản thân, trong khi điều này không thấy ở người châu Á.

Đức Đạt lai Lạt ma không đồng tình với kết luận này và cho rằng không thể khái quát như vậy được bởi vì trên thực tế rõ ràng là có nhều người Mỹ rất vị tha trong khi có nhiều người châu Á vẫn nghĩ mình là trung tâm. Ngài gợi ý nên có những nghiên cứu thêm về châu Phi, và sự phân biệt giữa những người sống ở các thành thị và nông thôn. Cũng sẽ rất thú vị nếu chỉ ra được sự khác biệt giữa nam và nữ trong vấn đề này.

Tiếp đến, Thiền sư Joan Halifax dòng Roshi, người đã giành trên 40 năm làm việc với những người hấp hối, đã thuyết trình về rèn luyện tâm từ bi. Bà cho rằng lòng từ bi nên được coi là khả năng tham dự vào những kinh nghiệm của những người khác, chia sẻ, quan tâm và mong muốn trợ giúp họ. Từ bi cũng có thể được mô tả là việc chăm sóc cho những người đang khổ đau với một động cơ làm vơi nỗi đau của họ. Bà đưa ra một hệ sơ đồ rèn luyện tâm từ bi giúp đào tạo những nhân viên và các chuyên gia y tế. Bà cho rằng tâm từ bi là một quá trình. Các khóa rèn luyện cho thấy trên thực tế, những người chăm sóc và các bác sĩ cũng có thể kiệt sức và chính họ cũng có nhu cầu chăm sóc bản thân.

Người thuyết trình thứ ba trong buổi sáng, Shinsuke Shimojo, giáo sư Tâm lý học thực nghiệm tại Viện Công nghệ California, ông đã nhận được một số giải thưởng của Nhật Bản đưa ra minh họa tâm thức giống như một tảng băng trôi. Ông cho rằng, rõ ràng ý thức chỉ là phần nổi của tảng băng. Phần tâm thức rộng lớn hơn tiềm ẩn bên dưới bề mặt. Nhiều khía cạnh của tâm thức con người, khoa tâm lý và thần kinh truyền thống đã gặp khó khăn khi giải quyết. Tính cách của một cá nhân và nhiều quyết định đưa ra phải được hiểu trong bối cảnh xã hội năng động, đặc biệt là sự tương tác hai chiều giữa bộ não và môi trường xã hội. Đây là những lĩnh vực mà các tiến trình tinh thần tiềm ẩn bên trong đóng một vai trò quan trọng.

Giáo sư Shimojo cũng nói về một hiện trạng trong đời sống tinh thần Nhật Bản hiện nay đó là căn bệnh trầm cảm gây rất nhiều khổ đau trong xã hội. Một căn bệnh theo tính toán làm thiệt hại chi phí nền kinh tế hàng chục tỷ USD. Ông cho rằng thảm họa hạt nhân Fukushima ngày 11 tháng ba là một trong những cuộc khủng hoảng đòi hỏi phải có sự hiểu biết sâu sắc hơn về các khía cạnh tiềm ẩn của tâm.

Đức Đạt Lai Lạt ma đặt một câu hỏi. Ngài có những đạo hữu đã đạt tới mức độ có thể định tâm vào một đối tượng trong 3 đến 4 giờ. Điều này là có thể? Các yếu tố môi trường khác nhau không ảnh hưởng tới định lực của những thiền sư, các ngài vẫn có thể tiếp tục thực hành ngay cả tại một thành phố lớn. Thông qua rèn luyện, ta có thể luôn tĩnh tại trong suốt 24 giờ mỗi ngày. Đức Đạt lại Lạt ma cũng nhấn mạnh rằng, tâm từ bi cần phải đi song hành với trí tuệ. Từ bi mà không có trí tuệ là sự yếu đuối.

"Chúng ta là động vật xã hội và chúng ta không tồn tại trong sự tách biệt. Chúng ta là một phần của một tổng thể lớn hơn. Điều này đúng với cả Nhật Bản và Tây Tạng. Khi mọi người đến thỉnh cầu tôi về những vấn đề khó khăn của họ, đôi khi tôi chia sẻ với họ về những rắc rồi mà tôi cũng đang phải đối mặt, để giúp họ một cái nhìn rộng lớn hơn và ý thức rằng họ không đơn độc."
blank
Đức Đạt Lai Lạt Ma cảm ơn Lạt ma Tiến sĩ Barry Kerzin về bài thuyết trình của ngài. Ảnh / Văn phòng Tibet - Nhật Bản.
Sau khi nghỉ trưa, Tiến sĩ Barry Kerzin đưa ra một chuỗi tràng biểu thị cho tâm thức, sợi dây biểu thị cho tính liên tục và các hạt là các khoảnh khắc lần lượt kế tiếp nhau của tâm. Vòng tròn biểu thị tâm không có điểm đầu cũng không có điểm kết thúc. Ông tiếp tục luận giải quan điểm Phật giáo cổ điển về 6 tâm vương và 51 tâm sở. Trong các tâm vương, 5 tâm liên quan tới giác quan, tâm thứ sáu liên quan tới thức. Có thể phân chia tâm ở mức độ thô lậu, vi tế và vô cùng vi tế. Tâm thô lậu là tâm thông thường ở bình diện bề mặt mà chúng ta dễ nhận thấy trong trải nghiệm hàng ngày; tâm vi tế, ví dụ như, tâm hiện khởi trong thời gian giấc mơ khi các giác quan không hoạt động. Tâm vô cùng vi tế diễn ra trong giấc ngủ sâu. Thông qua rèn luyện, những tâm thức tiềm ẩn này có thể được hiển thị. Tâm thức vi tế nhất ở trạng thái bất nhị, không khái niệm, tại thời điểm chết cũng sẽ hiển thị.

Tiến sĩ Kerzin không chỉ mô tả 8 linh kiến phân rã ở thời điểm chết mà còn cung cấp hình ảnh minh họa chi tiết. Những linh kiến này bao gồm một hình ảnh giống như ảo ảnh, một cuộn khói bốc lên, tia lửa giống như đom đóm, một ánh đèn trong một căn phòng tối, ánh sáng của mặt trăng, màu đỏ tăng dần giống như hoàng hôn, màu đen nhạt và cuối cùng là một ánh sáng rực rỡ. Ông nói rằng những hành giả thành tựu có thể nhập định, an trú trong ánh sáng rực rỡ này một thời gian dài sau khi chết lâm sàng diễn ra.

Đức Đạt lai Lạt ma cho rằng, "sự bất nhị mà ngài vừa thuyết trình cần được hiểu là không còn phân biệt giữa chủ và khách thể nữa.”

Sau 20 năm giảng dạy tâm lý học lâm sàng ở New York, Junko Tanaka - Matsumi hiện là Trưởng khoa Nhân văn, Đại học Kwansei Gakuin. Bà trình bày về vấn đề kiến lập bản đồ tâm thức của trẻ con, bắt đầu với quan điểm cho rằng tâm của trẻ thay đổi từng thời khắc. Bà chỉ ra rằng, Nhật Bản đứng thứ hai trên thế giới về cung cấp giáo dục - khoa học thì có vẻ như hệ thống giáo dục Nhật Bản đều hoàn hảo. Tuy nhiên, trong lớp học, có nhiều trẻ em không thể theo được những gì giáo viên dạy. Chúng có hành vi gây rối như không ngồi im một chỗ. Do cách tiếp cận đồng mọi trẻ nên đã không có sự trợ giúp hay quy định riêng đối với chúng. Bà đưa ra gợi ý, cần thực hiện các bước đơn giản như để trợ giúp hiệu quả cho các trẻ em đặc biệt. Củng cố các hành vi tích cực ở trẻ em cũng làm tăng lòng tự trọng của chúng.

Đức Đạt lai Lạt ma muốn biết độ tuổi của trẻ em trong nghiên cứu của bà. Bà cho biết, chúng trong phạm vi từ 7 đến 9 tuổi.

blank
Tiến sĩ Makoto Nagao thuyết trình. Ảnh/ Văn phòng của Tibet-Nhật Bản
Bài thuyết trình bày cuối cùng được thực hiện bởi Tiến sĩ Makoto Nagao, ông tốt nghiệp Đại học Kyoto, tiếp tục việc nghiên cứu xử lý ngôn ngữ tự nhiên và phiên dịch máy. Ông cho rằng các chức năng của tâm được sơ đồ hóa và hiển thị tốt nhất thông qua hình thức hội thoại, và có thể áp dụng quan điểm này vào các khu vực đặc biệt để phát triển các rô-bốt chăm sóc cho người bệnh. Loại rô-bốt như vậy sẽ có thể trò chuyện với những người mà chúng đang chăm sóc. Quan trọng hơn chúng có thể tạo ra phản ứng, tự suy luận và đưa ra phương án trả lời thích hợp để đáp ứng nhu cầu của con người.
Tiến sĩ Nagao cho rằng việc phát triển hệ thống đối thoại rô-bốt sẽ không chỉ giúp những người đang cần được chăm sóc mà còn có thể giúp làm rõ tâm thức phản ứng với các kích thích bên ngoài như thế nào, qua đó giúp hiểu biết hơn về các chức năng tinh thần. Đây sẽ là một con đường khá độc đáo để thiết lập bản đồ tâm.

Tiến sĩ Nagao khẳng định rô-bốt có thể được thiết kế theo nhiều mục đích sử dụng, như chăm sóc người bệnh, chữa cháy hoặc đối phó với hệ thống cài đặt hạt nhân bị hư hỏng. Đức Đạt lai Lạt ma cười hài hước rằng, tất nhiên là một rô-bốt sẽ không thể hiển thị tình cảm như con người được, nhưng ít nhất nó sẽ không tức giận như chúng ta.

Đức Đạt lai Lạt ma đã kết luận lại hai ngày hội đàm: "Tôi luôn luôn nghĩ đến 7 tỷ con người đang sinh sống ngày nay, về mặt thể chất, cảm xúc và tinh thần đều giống nhau. Bên ngoài có thể có những thứ khác biệt, nhưng thậm chí từ vài ngàn năm trước cảm xúc của chúng ta vẫn như vậy. Đức Phật từng một là con người thường như chúng ta, nhưng thông qua tinh tiến vượt bực và hóa giải các chướng ngại, ngài đã chuyển hóa thân tâm mình.
Trong 30 năm nay, thông qua quan hệ đối tác với các nhà khoa học, chúng tôi đã học hỏi được nhiều điều hữu ích và tôi tin quý vị, các nhà khoa học cũng học hỏi được nhiều điều về tâm thức. Chúng ta đang nỗ lực để đưa một chương trình về đạo đức thế tục vào hệ thống giáo dục. Các nhà khoa học tham gia dự án này không phải vì mong muốn được phần thưởng vật chất, mà bởi vì lợi ích dài hạn mà nó sẽ mang lại. Mục đích của chúng ta là mang lại sự an lạc hơn cho con người và điều này sẽ không thể đạt được chỉ qua lời cầu nguyện hoặc mong muốn thuần túy mà phải bằng cách học hỏi để chuyển hóa những phiền não nơi mỗi người."

Một đề xuất được đưa lên cho các thành viên tham gia hội đàm, giúp góp phần đưa ra một số giải pháp cho các vấn đề phát sinh từ tai nạn hạt nhân Fukushima. Đức Đạt lai Lạt ma nói rằng, ngài vừa viếng thăm Sendai. Ngài chưa có giải pháp tức thời cho tình hình này bởi vì toàn bộ vấn đề hạt nhân và sản xuất năng lượng rất phức tạp. Ngài mong chờ trong tương lai có thể dựa nhiều hơn vào nguồn năng lượng mặt trời.

blank

Đức Đạt Lai Lạt Ma và những thành viên tham gia đồng tổ chức các phiên hội đàm “Thiết lập bản đồ tâm thức” ở Kyoto , Nhật Bản vào ngày 11 tháng tư năm 2014 . Ảnh / Văn phòng của Tibet-Nhật Bản

Chủ tịch Viện Tâm thức và Đời sống, Giáo sư Arthur Zajonc, trong phát biểu bế mạc đã trở lại với ý tưởng về chăm sóc con người. Ông đề cập đến các chương trình giáo dục phát triển “Kêu gọi sự Chăm sóc” và ba giai đoạn của việc chăm sóc - nhận sự chăm sóc, chăm sóc bản thân và chăm sóc cho mọi người. Ông đã cảm ơn hiện diện của đức Đạt lai Lạt ma, các diễn giả, các nhà tổ chức và những người có quan tâm giúp cho sự kiện diễn ra được thành công.

Nguồn: www.Dalailama.com/news
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/11/202107:50(Xem: 831)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
01/01/202109:18(Xem: 96761)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
14/11/202120:16(Xem: 401)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/202120:37(Xem: 224)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/202104:25(Xem: 434)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/202118:59(Xem: 396)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/202110:22(Xem: 1739)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
01/09/202118:55(Xem: 1168)
Với sự xuất hiện của virus SARS-CoV2 ở Vũ Hán - Trung quốc cuối năm 2019, và tiếp theo sau là sự lây lan rộng khắp thành một đại dịch toàn cầu, các tổ chức Phật giáo đã ra tay hành động khắp nơi trên thế giới. Đáp ứng của Phật giáo rất đa dạng, phản ảnh sự khác biệt giữa các tông phái và các nền văn hóa, tuy nhiên họ đã hội tụ quanh những chủ đề chung theo những tiền lệ đã được ghi sâu trong lịch sử. Một ví dụ về sáng kiến gần đây là dự án “ Làm Phẳng Đường Cong” do Hội Từ Tế ( Tzu Chi Foundation ) Chi Nhánh Hoa Kỳ công bố - đây là một Tổ chức nhân đạo Phật giáo khổng lồ đặt trụ sở trung ương tại Đài-loan, có trên 10 triệu hội viên và 45 chi nhánh khắp thế giới. Trong một thông cáo báo chí vào đầu tháng 4 , Hội Từ Tế Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ sẽ phân phối hằng triệu khẩu trang và dụng cụ y tế cho các nhân viên y tế làm việc ở tuyến đầu, và khởi động một chương trình hỗ trợ cho những người chịu tác động của đại dịch về mặt kinh tế xã hội. Những sáng kiến ấy ở Hoa kỳ bổ sung cho
23/07/202117:47(Xem: 1311)
Giữa tương quan sinh diệt và biển đổi của muôn trùng đối lưu sự sống, những giá trị tinh anh của chân lý bất diệt từ sự tỉnh thức tuyệt đối vẫn cứ thế, trơ gan cùng tuế nguyệt và vững chãi trước bao nổi trôi của thế sự. Bản thể tồn tại của chân lý tuyệt đối vẫn thế, sừng sững bất động dẫu cho người đời có tiếp nhận một cách nồng nhiệt, trung thành hay bị rũ bỏ, vùi dập một cách ngu muội và thô thiển bởi các luận điểm sai lệch chối bỏ sự tồn tại của tâm thức con người. Sự vĩnh cửu ấy phát xuất từ trí tuệ vô lậu và tồn tại chính bởi mục đích tối hậu là mang lại hạnh phúc chân thật cho nhân loại, giúp con người vượt thoát xiềng xích trói buộc của khổ đau. Tuỳ từng giai đoạn của nhân loại, có những giai đoạn, những tinh hoa ấy được tiếp cận một cách mộc mạc, dung dị và thuần khiết nhất; có thời kỳ những nét đẹp ấy được nâng lên ở những khía cạnh khác nhau; nhưng tựu trung cũng chỉ nhằm giải quyết những khó khăn hiện hữu trong đời sống con người và xã hội.
07/05/202118:35(Xem: 2135)
Phật Điển Thông Dụng - Lối Vào Tuệ Giác Phật, BAN BIÊN TẬP BẢN TIẾNG ANH Tổng biên tập: Hòa thượng BRAHMAPUNDIT Biên tập viên: PETER HARVEY BAN PHIÊN DỊCH BẢN TIẾNG VIỆT Chủ biên và hiệu đính: THÍCH NHẬT TỪ Dịch giả tiếng Việt: Thích Viên Minh (chương 11, 12) Thích Đồng Đắc (chương 1, 2) Thích Thanh Lương (chương 8) Thích Ngộ Trí Đức (chương 7) Thích Nữ Diệu Nga (chương 3, 4) Thích Nữ Diệu Như (chương 9) Đặng Thị Hường (giới thiệu tổng quan, chương 6, 10) Lại Viết Thắng (phụ lục) Võ Thị Thúy Vy (chương 5) MỤC LỤC Bảng viết tắt Bối cảnh quyển sách và những người đóng góp Lời giới thiệu của HT Tổng biên tập Lời nói đầu của Chủ biên bản dịch tiếng Việt GIỚI THIỆU TỔNG QUAN Giới thiệu dẫn nhập Giới thiệu về cuộc đời đức Phật lịch sử Giới thiệu về Tăng đoàn: Cộng đồng tâm linh Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Thượng tọa bộ Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Đại thừa Giới thiệu về các đoạn kinhcủa Phật giáo Kim cương thừa PHẦN I: CUỘC ĐỜI ĐỨC