Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Xuất Gia Công Đức Kinh

01/09/201315:04(Xem: 1581)
Xuất Gia Công Đức Kinh

qd-phatngoc-2009


PHẬT THUYẾT KINH CÔNG ĐỨC XUẤT GIA


Hán dịch: Vô danh, phụ lục thời Tam Tần.


Việt dịch: Thích Tâm Nhãn

 

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời đức Phật ở trong nước Tỳ-xá-ly, đến giờ thọ trai đức Phật vào thành khất thực.

Bấy giờ, trong thành Tỳ-xá-ly có một Lê-xa tên Tỳ-la-tiễn-na (ý dịch Dũng quân); ví dụ như trời và các tiên nữ đồng nô đùa, thì vương tử này và các thể nữ ở trên lầu vui chơi, đắm đuối trong sắc dục cũng như vậy. Khi ấy, đức Thế Tôn dùng Nhất thiết trí nghe âm thanh ấy rồi bảo A-nan:

- Ta biết người này tham đắm ngũ dục lạc, sau bảy ngày nữa thì mạng chung. Như vậy, anh ta sẽ xa lìa hạnh phúc bên người thân, nhất định phải chết. A-nan! Nếu người này không bỏ dục lạc, không xuất gia thì khi mạng chung có thể bị đọa địa ngục.

Bấy giờ, vâng lời chỉ dạy của Phật, muốn lợi ích cho vương tử này, nên A-nan đi đến nhà anh ta. Vương tử nghe A-nan ở bên ngoài liền đi ra nghinh đoán, với lòng tôn kính thỉnh A-nan vào nhà an tọa. A-nan vừa an tọa thì vương tử khởi tâm cung kính thưa với A-nan:

- Quí thay, người bạn tốt đã đến đây! Hôm nay, thật đúng lúc, tôi gặp được tôn giả hết sức vui mừng. Nếu tôn giả hoan hỷ có thể dạy bảo cho tôi về giáo pháp của Phật, giúp cho tôi được an lạc.

Vương tử thưa thỉnh như vậy ba lần. A-nan muốn vương tử được nhiều lợi ích nên im lặng không nói. Vương tử lại thưa:

Tỳ-na-a-mâu-ni-đại-tiên, lợi ích cho tất cả chúng sanh, có hiềm hận gì mà mặc nhiên không nói? Không thấy nói gì đến lần thứ ba. Thầy là người giữ Phật Pháp lợi ích cho thế gian.

A-nan đau buồn nói:

- Hãy lắng nghe đây, sau bảy ngày nữa bạn sẽ chết. Nếu bạn ở trong ngũ dục không giác ngộ, không xuất gia, thì mạng chung bạn sẽ đọa địa ngục. Phật là bậc Nhất thiết trí, chánh ngữ chánh thuyết đã nói về bạn như thế. Ví như ngọn lửa thiêu đốt mọi vật, thảy đều không sai. Bạn nên suy nghĩ cho kỹ.

Vương tử nghe nói vậy quá lo sợ, buồn rầu, sầu muộn không vui nói: “Theo lời chỉ dạy của A-nan tôi phải xuất gia nhưng tôi muốn thọ hưởng khoái lạc thêm 6 ngày nữa, đến ngày thứ 7 tôi sẽ giã từ người thân quyết định xuất gia”. A-nan hài lòng. Đến ngày thứ 7 Tỳ-la-tiễn-na sợ sinh tử cầu Phật xuất gia, đức Phật liền đồng ý. Qua một ngày một đêm Tiển-na tu trì tịnh giới rồi mạng chung. Sau khi hỏa thiêu hương khói xong, A-nan cùng họ hàng của Tiển-na đến hỏi Phật:

- Kính thưa Thế Tôn! Tỳ-kheo Tỳ-la-tiễn-na ấy nay đã mạng chung thần thức sinh về đâu?

Đức Phật Thế Tôn thầy của chư thiên, nhân loại, bậc Nhất-thiết-trí dùng đại phạm-âm vang dội hơn tiếng trống sấm, hơn âm thanh vi-diệu chúng chim Ca-lăng-tần-già. Ngài đem tám loại âm thanh bảo A-nan:

- Này A-nan! Tỳ-kheo Tỳ-la-tiễn-na ấy sợ chết sinh vào địa ngục khổ nên đã xả dục xuất gia, trong một ngày một đêm trì tịnh giới xả bỏ cõi đời này sinh về trời Tứ thiên vương, làm con Tỳ-sa môn Thiên-vương ở phương Bắc. Tâm phóng túng thọ ngũ dục khoái lạc, tham thọ ngũ dục với các thể nữ, cùng chung vui chơi thọ 500 tuổi; khi Tiển-na hết 500 tuổi mạng chung sinh về cõi trời 33 làm con Đế-thích hưởng thụ đầy đủ ngũ dục, sung sướng nhất cõi trời. Tiển-na cùng thể nữ đẹp trên trời tuổi thọ kéo dài 1000 tuổi, tận số sinh về Diệm-thiên làm vương tử Diệm-thiên, tự phóng túng thọ hưởng sắc, thanh, hương, vị, xúc trên trời, tâm khoái dục lạc, thọ 2 ngàn tuổi trên trời, mạng chung sinh về cung trời Đâu-suất làm vương tử. Tâm thoải mái thọ ngũ dục khi mắt thấy tướng dục, tâm tự nhàm chán, thường nói pháp ngữ, trí tuệ giải thoát. Ở trong cõi trời tuổi thọ hơn hết, mãn 4 ngàn tuổi mạng chung sinh lên Tự-tại-thiên làm con Thiên-vương, thọ hưởng đủ loại ngũ dục khoái lạc ở trong các thể nữ, ứng hóa kéo dài 8 ngàn tuổi thọ. Hết 8 ngàn tuổi mạng chung sinh về trời Tha-hóa-tự tại, làm con Thiên-vương. Cõi trời thứ 6 này, dục lạc trong đó năm tầng trời phía dưới không thể so sánh. Sinh vào trong đó rồi, trong những cái vui thọ cái vui tối diệu. Khi thọ dục lạc ở đó tâm quá say mê, hưởng đầy đủ dục lạc thắng diệu thọ một vạn sáu ngàn tuổi. Thọ lạc như vậy qua lại 7 lần trong 6 cõi trời dục. Tỳ-la-tiễn-na này do một ngày một đêm xuất gia nên mãn 20 kiếp, không đọa địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh; thường sinh thiên, nhơn, thọ phước tự nhiên. Trong loài người kiếp cuối cùng sinh vào nhà giàu có sung sướng, tài sản phong phú, chân bảo đầy đủ. Khi tuổi tráng niên đã qua, các căn đau yếu lo sợ họa hoạn sinh lão bệnh tử nên Tiển-na nhàm chán ở đời, xuất gia cạo bỏ râu tóc, thân khoác pháp phục, siêng tu tinh tấn, giữ 4 oai nghi, thường hành chánh niệm, quán ngũ-âm, Khổ, Không, Vô ngã, hiểu pháp nhân duyên, thành Bích-chi Phật hiệu là Tỳ-lưu-đế, lúc ấy Ngài phóng hào quang lớn có nhiều chư thiên, nhân loại sinh thiện căn và giúp các loài chúng sanh trong ba thừa được giải thoát.

Bấy giờ, A-nan chắp tay bạch Phật:

Kính thưa Thế Tôn! Nếu có người độ người xuất gia, người ấy xuất gia gánh vác mọi việc thì được bao nhiêu phước đức? Nếu lại có người hủy phá chuyện người khác xuất gia thì thọ tội báo gì? Xin thỉnh Thế Tôn chỉ bảo cho con được tường tận.

Phật bảo:

Này A-nan! Nếu ông có sống đủ 100 tuổi để hỏi Ta việc này, thì Ta cũng lấy trí tuệ vô tận vì ông nói rộng theo đúng 100 năm, trừ giờ ăn uống. Người này công đức không thể nói hết, họ hằng sinh thiên, hay trong loài người thường làm quốc vương, thọ hưởng hạnh phúc nhơn, thiên. Nếu họ giúp người xuất gia vào trong pháp Sa-môn này, vì chuyện giúp đỡ cuộc sống xuất gia đó, thì họ dù ở trong sinh tử cũng hưởng khoái lạc. Dù Ta có đủ 100 tuổi để nói công đức người đó cũng không hết được. Như vậy, A-nan! Ông có mãn trăm tuổi kéo dài tuổi thọ để hỏi Ta, còn ta sống đến khi Niết-bàn, nói công đức này không bao giờ hết.

Phật lại bảo A-nan:

- Nếu lại có người phá hoại chuyện người khác xuất gia thì người đó bị cướp mất kho tàn vô tận thiện tài phước báu, và hủy hoại nhân 37 trợ Bồ-đề Niết-bàn. Nếu có ý muốn phá hoại nhân duyên xuất gia phải khéo quán sát chuyện như vậy. Vì sao, vì tội báo đó sẽ đọa địa ngục, thường bị mù mắt, thọ khổ cùng cực. Nếu làm súc sinh, khi sinh ra cũng bị mù mắt bẫm sinh. Nếu sinh trong ngạ quỉ, sinh ra cũng mù bẩm sinh, đọa trong 3 đường ác khổ không biết bao giờ giải thoát. Nếu sanh làm người, ở trong bụng mẹ thọ thai lại bị mù. Ông có sống một trăm tuổi thường hỏi nghĩa đó, còn Ta có đủ một trăm tuổi lấy trí tuệ vô tận giải thích tội báo cũng không thể hết. Người ấy ở trong tứ đạo sinh ra thường mù mắt. Ta cũng không biết được người này bao giờ mới giải thoát được. Vì sao, vì do phá hủy người xuất gia đã thành tựu vô lượng vô biên công đức. Do phá thiện duyên ngăn cản người xuất gia như vậy, nên thọ vô lượng tội. Nếu họ ở trong “kính trí tuệ” thanh tịnh này thì giúp họ được thiện pháp giải thoát vậy. Nếu thấy người xuất gia tu trì tịnh giới hướng đến chỗ giải thoát, phá công việc xuất gia của người ấy, làm việc ngăn cản, có nhân duyên đó sinh ra bị mù, không thấy Niết-bàn là do hủy hoại người xuất gia. Như quán vô-minh…12 nhân duyên sẽ được giải thoát. Do phá người xuất gia, hủy hoại con mắt trí tuệ của họ nên mắt tuệ của mình bị che mờ, từ đời này qua đời khác sinh ra bị mù mắt, không thấy tam-giới là do ngăn cản người xuất gia vậy. Người xuất gia đã thấy ngũ-ấm, 20 ngã-kiến, nhân gian, chánh-đạo, mà cái nhân phá xuất gia như là hủy hoại chánh-kiến, do đó sinh ra thường mù mắt, không thấy chánh-đạo. Người xuất gia đã thấy tất cả pháp tu thiện, pháp trú xứ, đã thấy pháp thân thanh tịnh chư Phật, mà phá chuyện người khác xuất gia nên sinh ra bị mù mắt, không thể trông thấy pháp thân Phật. Do người xuất gia đã đầy đủ tướng mạo Sa-môn, hạt giống Phước điền Phật đạo, và giữ gìn giới thanh tịnh, nên nguyên nhân phá người xuất gia thì ở trong thiện pháp bị đoạn tất cả hy vọng. Do tội duyên phá hủy người xuất gia, đời đời thường mù mắt. Người xuất gia đã khéo quán sát tất cả thân tâm đều khổ, vô-thường, vô-ngã, bất-tịnh, mà phá người xuất gia ấy, làm việc ngăn cản, thì như phá con mắt của người đó, phá con mắt ấy thì mình không thấy Tứ-đạo, Tứ-niệm-xứ, Tứ-chánh-cần, Tứ-như-ý-túc, Ngũ-căn, Ngũ-lực, Thất-giác-phần, Bát-chánh-đạo, và đường đến cung thành Niết-bàn, do tội duyên như vậy sinh ra thường bị mù, cho đến không thất Không, Vô-tướng, Vô-tác thanh tịnh, thiện pháp hướng đến cung thành Niết-bàn. Người có trí tuệ là biết người xuất gia sẽ thành tựu thiện pháp như thế, không nên phá hoại nhân duyên thiện pháp đó, như vậy sẽ không bị tội. Ai hủy phá chuyện người khác xuất gia là vị Sa-môn chánh kiến, thì mãi mãi không thấy cung thành Niết-bàn, sinh ra thường bị mù. Nếu có người nào trong một cõi khác xuất gia tu trì tịnh giới hơn 100 kiếp; lại có người khác ở trong cõi Diêm-phù-đề xuất gia trì giới một ngày một đêm, dù khoảnh khắc, thì được 16 phần. Còn người xuất gia trì giới kia chỉ bằng 1 phần 16 người xuất gia ở Diêm-phù-đề. Người nào điên đảo hành dâm chị em nữ, không phải chỗ hành dâm, bị chống cự rồi sinh ra căm ghét, thì tội báo đó không thể tính hết. Nếu lại có người tư duy đúng, có tâm xuất gia, có người khác phá hoại chuyện xuất gia người này không để họ mãn nguyện, thì nhân duyên tội báo đó bắt đầu tăng trưởng cho đến trăm kiếp.

A-nan bạch Phật:

Kính thưa Thế Tôn! Tỳ-la-tiễn-na này nhờ hạt giống thiện căn sinh chỗ tôn quí, thọ hưởng phước lạc vì quá khứ cũng có hành thiện. Hôm nay chỉ nhờ công đức xuất gia một ngày một đêm mà thọ hưởng nhiều phước như thế.

Phật bảo A-nan:

- Ông không cần quan sát nhân duyên quá khứ, đối với một ngày một đêm ấy thanh tịnh xuất gia được thiện căn, trong 6 cõi trời dục bảy lần qua lại thọ phước. Trong 20 kiếp thường chịu cảnh sanh tử. Trong loài người sau cùng ở thế gian hưởng cảnh hạnh phúc nhất, sinh trong nhà giàu có. Khi tuổi tráng niên qua, các căn yếu dần, thì sợ cái khổ sinh lão bệnh tử nên Tỳ-la-tiễn-na xuất gia trì giới thành Bích-chi Phật.

Phật lại bảo A-nan:

Ta sẽ nói ví dụ ông khéo lắng nghe. Thí như thiên hạ: Đông-phất-bà-đề, Nam-diêm-phù-đề, Tây-cù-da-ni, Bắc-uất-đan-việt, các bậc A-la-hán trong 4 cõi ấy nhiều như lúa cỏ rừng rậm. Nếu có người nào ở trong đó đủ 100 tuổi tận tâm cúng dường những vị A-la-hán này những thứ như: y phục, thức ăn, nước uống, thuốc thang trị bệnh, phòng xá, ngọa cụ; cho đến sau khi các vị ấy Niết-bàn, lại xây dựng tháp miếu, đủ loại chân bảo, hoa hương anh lạc, tràng phan, bảo cái, treo các loại chuông báu, quét rưới nước hương, dùng những câu kệ tụng tán thán, cúng dường thì đắc được công đức. Còn người nào vì Niết-bàn mà xuất gia thọ giới, chỉ một ngày một đêm tạo công đức, thì công đức này được 16 phần, công đức trước chỉ một phần. Theo nhân duyên như vậy, thiện nam tử nên xuất gia tu trì tịnh giới.

- Này các thiện nam tử! Những người cần công đức, cầu thiện pháp, tự thọ pháp thì không được ngăn cản chuyện người xuất gia ấy phải cầu phương tiện khuyến khích giúp họ thành tựu.

Khi ấy, cả đại chúng nghe Phật thuyết pháp không ai mà không nhàm chán cảnh đời. Họ xuất gia trì giới, có người đắc Tu-đà-hoàn, thậm chí có người đắc quả vị A-la-hán, có người gieo hạt giống Bích-chi Phật, có người phát tâm Vô-thượng Bồ-đề. Mọi người rất vui mừng đảnh lễ phụng hành.

 

Kinh Công Đức Xuất Gia

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/11/201919:19(Xem: 571)
Ấn độ là một trong những quốc gia nổi tiếng trên thế giới vì đất rộng, người đông, có dãi Hy mã lạp sơn cao nhất thế giới, có một nền văn minh khá cao và lâu đời, con số 0, số Pi (3,1416...) do người Ấn sử dụng đầu tiên trong toán học, Kinh Vệ Đà đã được người Ấn sáng tạo từ 1800 đến 500 năm trước công nguyên, Ấn Độ là quê hương của đức Phật, hay nói khác hơn đó là nơi đạo Phật phát sinh, ngày nay đã lan tràn khắp thế giới vì sự hành trì và triết thuyết của đạo Phật thích ứng với thời đại. Do đó việcTime New Roman tìm hiểu về Ấn Độ là một điều cần thiết.
29/08/201920:49(Xem: 1150)
Trong thời Đức Bổn Sư Thích Ca còn tại thế, nhất là thời giới luật chưa được chế định, 12 năm đầu tiên sau khi Ngài thành đạo, có nhiều tỷ kheo hay cư sĩ đã liễu ngộ, giải thoát, niết bàn chỉ ngay sau một thời thuyết pháp hay một bài kệ của Tôn Sư. Tại sao họ đặt gánh nặng xuống một cách dễ dàng như vậy? Bởi vì họ đã thấu hiếu tận gốc rễ (liễu ngộ) chân đế, tự tại giải thoát, tịch lặng thường trụ, chẳng động, chẳng khởi, chẳng sanh, chẳng diệt, không đến cũng không đi mà thường sáng soi. Khi họ thấu hiểu được vậy. Kể từ lúc đó, họ tín thọ và sống theo sự hiểu biết chơn chánh này. Họ luôn tuệ tri tất cả các pháp đều huyễn hoặc, vô tự tánh cho nên, họ không chấp thủ một pháp nào và thong dong tự tại trong tất cả các pháp.
26/08/201909:57(Xem: 799)
Trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật từng dạy rằng: Tín là nguồn của Đạo, là mẹ của công đức. Và nuôi dưỡng tất cả mọi căn lành. (Tín vi Đạo nguyên công đức mẫu,. Trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn.).Đạo Phật là đạo Giác Ngộ, muốn đạt được giác ngộ hành giả phải có niềm tin chân chính, mà niềm tin chân chánh ấy phải có cơ sở thực tế và trí tuệ đúng như thật. Trên tinh thần đó, đối với hệ thống Kinh Điển do Đức Phật truyền dạy trong 45 năm, người học Phật phải có cơ sở để chứng tín rằng đó là lời Phật dạy, cơ sở đó chư Tổ Đức gọi là Tam Pháp Ấn: 1/Chư Hành Vô Thường 2/Chư Pháp Vô Ngã 3/Niết Bàn Tịch Tĩnh Bất cứ giáo lý nào không dựng lập trên quan điểm này, thì Phật giáo xem là tà thuyết, và Tam Pháp Ấn này được xem là những nguyên lý căn bản của Phật Giáo.
07/07/201917:11(Xem: 742)
Phật giáo không phải là tôn giáo để các tín đồ đến tham gia hay phát động như một phong trào, mà tự thân con người sau quá trình học hỏi, tư duy, nhận thức cốt lõi lời dạy của đấng Từ phụ, từ đó phát tâm tìm đến, thân cận và quy y Tam Bảo: ‘Hôm nay mong giác ngộ hồi đầu - Tịnh tâm ý quy y Tam Bảo’. Với lòng tịnh tín bất động, con người đầu thành vâng giữ mạng mạch giáo pháp, dốc lòng phụng hành đạo lý mình chọn, con người nhờ vậy được chân lý, chánh pháp che chở, thành tựu ‘Phép Phật nhiệm màu – Để mau ra khỏi luân hồi’.
07/07/201915:41(Xem: 547)
Triết lý hay mục đích sống là lý tưởng, giá trị cốt lõi của mỗi người, chính vì thế mà ngày nay,hầu hết trong chúng ta, ai cũng có khuynh hướngtìm về sự thật, mộtgiải pháp cứu cánh, rốt ráo, an toànvì ‘hòa bình bền vững’, xã hội trật tự vàngày ngày an lành ... Hòa chungtrách nhiệm, bản hoài, thông điệp : ‘Chân lý chỉ có một’,[1]đồng nghĩa với ‘Sự lãnh đạo bằng chánh niệm’ qua cách tiếp cận của Phật giáo, mang vạn niềm vui đến với muôn loài. Thật vậy, Phật giáo với trọng trách mang ‘an vui lâu dài’, là nội dung cốt lõi của xã hội nhân loại, cũng là tiền đề cho một xã hội bền vững;trong đó mỗi cá thể cần củng cố,xây dựngnội tâmkiên cố dựa trên phương cách lãnh đạo bằng‘chánh niệm’, đểcùng nhìn lại, quán chiếu và cùng dẫn đến trách nhiệm sẻ chia …
29/06/201915:32(Xem: 1319)
"Nhân sinh": đời người, cuộc sống con người "Quan": cái nhìn, quan niệm "Nhân sinh Quan" nghĩa là "cái nhìn" hay "quan niệm" về đời sống của con người. A) Con người từ đâu mà có? Phật giáo giải đáp câu hỏi ngàn đời nầy bằng giáo thuyếtThập nhị Nhân duyên, tức là chuỗi 12 nhân duyên dây chuyền sau đây: 1) Vô minh: Do một niệm bất giác mà phát sinh mê lầm, chấp ngã chấp pháp, do đó mà khởi ra Phiền não - nên cũng gọi là Hoặc. Chúng ta không thể tìm ra điểm khởi đầu của sự Vô minhđã khởi đầu cho sự hiện hữu của chúng sinh và vạn vật, hữu tình cũng như vô tình.
12/04/201908:01(Xem: 1006)
Thế mới biết trăm sông rồi cũng đổ về biển, dung hòa một vị mặn của đại dương; muôn pháp cùng đổ vào biển tuệ, thuần một vị giải thoát.Những lời dạy của đức Phật được ghi chép thành Tam tạng kinh điển, trở thành một trong những kho tàng trí tuệ vĩ đại nhất của nhân loại. Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật được truyền bá rộng rãi khắp năm châu và bị ảnh hưởng cũng không nhỏ bởi nhiều nền văn hóa khác. Từ đó, đạo Phật phát triển với các biểu tượng về tôn giáo, về các hình thức nghi lễ, và kể cả những pháp môn tu hành của những khóa tu ở mỗi nơi.Chính vì thế, đạo Phật bị đa dạng hoá về hình thức lẫn nội dung tu tập, thể hiện qua nhiều pháp môn. Như vậy trong thời đại bây giờ, đặt ra cho chúng ta sự lựa chọn; pháp môn nào là đúng, phápmôn nào là sai? Không có pháp môn nào là đúng và không có pháp môn nào là sai cả. Tại sao? Vì pháp môn tu không có lỗi, mà lỗi ở tại con người làm đúng hay sai mà thôi.
14/02/201918:04(Xem: 1624)
Thuở xưa có một ông vua hiền đức, cai trị công bằng, dân chúng trong nước sống thanh bình. Một hôm, dưới sự đề nghị của cận thần tả hữu, vua triệu tập tất cả trưởng lão tôn túc của các tôn giáo trong nước. Khi tất cả có mặt đầy đủ, vua nói:
13/12/201815:03(Xem: 1225)
Suy nghĩ về Mười Hai Nhân Duyên - GS Trần Tuấn Mẫn , Nguyên văn đoạn kinh trong phẩm Phật-đà, Tương ưng bộ, như sau: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là lý duyên khởi? Này các Tỳ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi”.
02/12/201807:48(Xem: 2921)
Thời gian gần đây nhiều Phật tử đã yêu cầu tôi giải thích những lời dạy vô giá của Phật theo phương cách hiện đại, xử dụng thuật ngữ và diễn giải thực tế, có hiệu quả, thực tiễn và không quá cao siêu. Theo phương cách dễ hiểu và thực tế để áp dụng trong đời sống hằng ngày. Đây là tập sách đầu của một chuỗi những tập sách nhằm mục đích đáp ứng những thỉnh cầu này. Đây là tập sách sưu tập gồm 50 lời dạy ngắn kèm theo chú giải chi tiết dài ngắn khác nhau, mục đích để khuyến khích tất cả những vị đã dành thời gian để đọc và thực hành những lời dạy này để phát triển sự hiếu biết chân thật và lòng từ bi.