Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Ý Nghĩa Vãng Sanh

19/02/201202:26(Xem: 2556)
Ý Nghĩa Vãng Sanh
Phat Di Da

Ý NGHĨA VÃNG SANH



Thế giới mà chúng ta đang sống luôn bất an, bất toàn và tạm bợ mà trong kinh A Di Đàgọi là trược thế. Kiếp nhân sinh đầy ô trược và tai nạn: mưa gió trái mùa, bão lụt, động đất, sóng thần, hạn hán, biến đổi khí hậu gọi là kiếptrược.

Conngười thì luôn bị bản năng dục vọng chi phối điều động, luôn bất an, bức xúc, từ chuyện làm ăn, tạo dựng địa vị xã hội cho đến tình nghĩa vợ chồng con cái đều nóng bức như cái lò lửa, gọi là phiền não trược. Nhận thức của con người thì đầy những sai lầm về những giá trị sống, coi trọng tiền tài hơn tình nghĩa, vật chất hơn tinh thần, lấy sự lừa đảo dối trá như là lẽ sống được nhiều người chấp nhận, coi đó là khôn ngoan,thông minh, biết sống…, gọi là kiến trược hay văn hóa trược. Mạng sống con người luôn bị đe dọa bởi tai ương hoạn nạn, bệnh tật nan y, môi trường sống trở thành tác nhân nguy cơ của sinh mệnh, tuổi thọ không cao, gọi là mạng trược. Con người xã hội cũng đầy phức tạp bất an, ích kỷ hại nhân đến nỗi người xưa đúc kết lại như là một thái độ sống đừng tin tưởng vào một ai:"Dò sông, dò biển dễ dò/Nào ai bẻ thước mà đo lòng người", đógọi là chúng sanh trược. Sự xấu ác hiện hữu trong mọi góc cạnh của cuộcsống nên kinh Phật gọi thế giới này là ngũ trược ác thế.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy các Phật tử cần có cái nhìn rõ về bản chất của đời sống. Ngài dạy: "Nhìn đời như bọt nước/Nhìn đời như ảo ảnh/Hãy nhìn đời như vậy/Thần chết không bắt gặp"(PC,170). Đây là một phương pháp quán chiếu về thực chất của cuộc đời để vượt qua thế giới trược uế này, cách nhìn thế giới là ô trược trong kinhA Di Đà cũng có tác dụng "Thần chết không bắt gặp" như vậy. Sự nhận thức đưa đến thấy rõ sự thật bao giờ cũng có tác dụng giải thoátkhỏi các ảo ảnh. Thông thường ta sợ hãi vì ta không thấy rõ, khi thấy rõ rồi thì không còn sợ nữa, giống như khi ở trong một căn phòng tối, tacảm thấy sợ hãi nhưng khi bật đèn sáng thì ta không còn sợ nữa, lý do đơn giản là vì ta thấy rõ sự vật nên nỗi sợ tan biến. Cũng vậy, khi quánchiếu về thế giới nếu thấy rõ thực chất của nó ta sẽ thoát khỏi sợ hãi,bất an. Không còn sợ cái chết nữa thì gọi là "Thần chết không bắt gặp".Ta không sợ chết do: Một là, biết rõ sự chết là quy luật tất yếu không ai tránh được, đây là một định luật, sợ cũng vô ích nên không sợ nữa mà có thể sống chung với chúng. Hai là, sự tham muốn bám víu vào đời sống không còn mạnh nên thoát ra mọi trói buộc của tham lam, chấp thủ; tâm đãkhông tham thì thoát khỏi vòng sống chết. Tiêu điểm của vấn đề là nhận thức đúng, còn gọi là tuệ quán. Khi thấy rõ thì không bị dao động, khi tâm không còn bị tác động bởi những thăng trầm của cuộc đời thì tâm đạt được bình an, tâm bình an thì thế giới bình an. Cách dùng tuệ quán để vượt qua sống chết có thể gọi đó là vãng sanh Tịnh độ theo đạo lý "Tâm tịnh độ tịnh" trong kinh Duy Ma.

Công thức giải thoát trong Kinh tạng Nguyên thủy, thường đề cập như sau: Biết rõ đưa đến nhàm chán, nhàm chán đưa đến ly tham, ly tham đưa đến đoạn diệt, đoạn diệt đưa đến Niết-bàn (Kinh Trung Bộ).Pháp môn Tịnh độ cũng có phương thức để đạt được vãng sanh Tịnh độ tương tự ở bước đầu: Trước hết, phải có cái nhìn về cõi Ta bà là uế trược và nhàm chán chúng, sau đó hướng tâm về thế giới trong lành mát mẻcủa cõi Tịnh độ, tiếp theo là phát nguyện tha thiết nương vào nguyện lực của Đức Phật A Di Đà để thoát khỏi Ta bà, vãng sanh Tịnh độ. Căn bảncủa vấn đề là giác ngộ về bản chất của đời sống, chính sự giác ngộ ấy làm cho lòng tin được tăng trưởng và tâm nguyện của hành giả tương ứng với nguyện lực của Phật, đây là một công trình lớn lao và khó nhọc; vì vậy, không thể nói hành giả Tịnh độ hoàn toàn nương vào tha lực. Sự khácbiệt về con đường tu tập trong đạo Phật không phải là sự khác biệt căn bản của lộ trình mà là sự khác biệt về xu hướng tâm thức hay còn gọi là sự khác biệt về căn tánh của chúng sanh.

Cõi Tây phương ở đâu? Trong một tác phẩm nghi lễ Phật giáo có hai bài kệ nói về Tịnh độ ở đâu, như sau:

1- "Mạc đạo Tây phương cận/Tây phương thập vạn trình/Di Đà thùy tiếp dẫn/Vô tử diệc vô sanh".Tạm dịch: Chớ bảo cõi Tây phương là gần, hành trình về Tây phương xa xôi đến mười vạn dặm đường. Đức Phật A Di Đà thương mà tiếp dẫn mới giảithoát khỏi tử sanh.

2- "Mạc đạo Tây phương viễn/Tây phương tại mục tiền/Thủy lưu quy đại hải/Nguyệt lạc bất ly thiên". Tạmdịch: Chớ bảo cõi Tây phương xa xôi, cõi Tây phương ở ngay trước mặt. Như nước chảy về biển cả, như trăng lặn không ra khỏi bầu trời.

Bài thứ nhất, nói lộ trình về Tịnh độ rất xa, con số tượng trưng là mười vạn dặm, cần được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn để đạt đến chốn không tử không sanh. Như vậy, yếu tố chính để về Tây phương là nhờ Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn. Bài kệ này nhấn mạnh về tha lực. Có sách lý giải rằng, đi về Tây phương phải trải qua 10 vạn dặm đường là tượng trưng cho 10 căn bản phiền não, mười vạn là nói đến những biểu hiện vi tế của 10 phiền não trên. Ý nghĩa là, khi chưa đi qua 10 căn bản phiền não thì Phật chưa tiếp dẫn được, phải vượt qua 10 vạn dặm phiền não thì cảm ứng được với Phật; hoặc có Phật tiếp dẫn thì mới đi qua được 10 căn bản phiền não, cả hai nghĩa đều đúng. Nhưng nghĩa thứ hai khiến người taquan tâm hơn, vì phiền não quá nhiều nên để vượt qua chúng đòi hỏi nhiều công phu và thời gian, chưa kể chuyện bị lầm đường lạc lối, được Đức Phật tiếp dẫn đi và được sống trong môi trường thanh tịnh thì mới mau chóng và không lầm lạc, dễ dàng và chắc chắn.

Bài thứ hai, nói lộ trình về Tịnh độ không xa, thậm chí là rất gần, ngay trước mắt. Bởi lẽ, cõi Tây phương chính là cõi tâm của mình, cõi tâm ở đây chỉ cho bản tâm thanh tịnh của mỗi chúng sanh. Trăm sông đều về biển cả, sông thì nhiều và hẹp nhưng nơi có thể dung nhiếp tất cả là biển rộng mênh mông, cũng như trăng mọc rồi trăng lặn, dù mọc hay lặn trăng cũng không thoát khỏi bầu trời bao la. Biển cả mênhmông hay bầu trời bao la chính là cõi tâm thanh tịnh, là bản thể an bình của vạn loại chúng sinh. Phật cũng ở tâm, chúng sanh cũng ở tâm, cósự khác biệt về thể tướng nhưng không có sự khác biệt về thể tánh. Vậy,Tây phương chính là tâm thanh tịnh của mỗi người.

Nói Phật tại tâm hay nói Tâm tịnh độ tịnh là nói về lý lẽ, nhưng làm cho Phật hiển lộ ở trong tâm hay tâm được thanh tịnh đểcó cảnh tịnh, cần phải có công phu tu tập lâu dài. Con đường tu tập ấy có hai yếu tố cần thiết là: đúng chân lý và thiện tri thức trợ duyên. Điều này, không chỉ đúng trên con đường đạo mà đúng cả trong cuộc sống đời thường, nếu ta hoạt động mà không phù hợp với quy luật vận động thì sẽ thất bại và nếu hoạt động mà không có môi trường cũng như con người trợ giúp thì cũng thất bại. Hai bài kệ đều đúng vì nói lên hai yếu tố "lý" và "cơ" ở trên. Tâm phải tịnh thì cảnh mới tịnh là đúng chân lý, tịnh hay không tịnh do tâm. Nhưng nếu không có môi trường tu tập thuận lợi thì sự tịnh tâm khó bền vững, con người luôn có tính xã hội nên yếu tố tha lực đóng vai trò rất lớn trong vấn đề hình thành nhân cách và định hướng cuộc đời. Trên con đường tu tập ngoài nỗ lực cá nhân, nếu được Đức Phật và cộng đồng Thánh chúng trợ duyên thì sự thành tựu là chắc chắn.

Tóm lại, vãng sanh về Tịnh độ cần nhất tâm và có sự tiếp dẫn; khi có nhất tâm thì có cảm ứng tiếp dẫn của Phật, như người xưa thường nói:"Ái bất trọng bất sanh Ta bà/Niệm bất nhất bất sanh Tịnh độ",cả hai yếu tố thực chất chỉ là một thôi. Mỗi người đều có khả năng làm hiển lộ Đức Phật trong tâm khi ta nhớ Phật, hướng tâm về Phật trong mọi hoạt động của mình. Và ý nghĩa của vãng sanh chính là đi qua cuộc sống ônhiễm, sống với cuộc sống thanh tịnh an vui, từ ác thế chuyển hóa thànhthiện thế bằng cách tịnh hóa cõi tâm.

Thích Viên Giác
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/201320:00(Xem: 5168)
Các nhà phân tích cho rằng trình duyệt Firefox do Ross tạo ra có tốc độ nhanh hơn, đa năng hơn và bảo vệ người dùng tốt hơn trước virus và phần mềm gián điệp so với Internet Explorer.
27/06/201721:31(Xem: 2336)
Khoảng 2.500 thành viên gia đình, bạn bè và người dân bang Ohio đã đến cầu nguyện trong đám tang Otto Warmbier, sinh viên Mỹ tử vong sau khi bị hôn mê trong nhà tù ở Triều Tiên. Hàng ngàn người tham dự đã xếp thành 2 hàng khi quan tài của Otto được đưa vào Trường Trung học Wyoming làm lễ tang. Đây là ngôi trường học cũ của Otto Warmbier hồi trung học.
08/04/201319:59(Xem: 5616)
Hôm Thứ Tư tuần qua, bệnh viện Alfred ở vùng South Melbourne đã rút ống tiếp tế thực phẩm và nước uống cho bà Maria Korp, 50 tuổi, theo lệnh của ông Julian Gardner, người được VCAT (Tòa án Hành chánh và Dân sự Victoria) cấp cho nhân quyền làm giám hộ (Public Advocate) bà Maria Korp từ hồi tháng 4 vừa qua.
12/02/201501:36(Xem: 6186)
Trong Kinh Bát Dương có nói rằng:”Sanh hữu hạn, tử bất kỳ”; nghĩa là: “sanh có thời gian, chết chẳng ai biết được”. Điều nầy có nghiã là: khi chúng ta được sanh ra trong cuộc đời nầy, cha mẹ, Bác sĩ có thể đóan chừng ngày tháng nào chúng ta ra đời. Vì họ là những chủ nhân của việc tạo dựng ra sanh mạng của chúng ta; nhưng sự chết, không ai có thể làm chủ được và không ai trong chúng ta, là những người thường, có thể biết trước được rằng: ngày giờ nào chúng ta phải ra đi khỏi trần thế nầy cả. Do vậy Đạo Phật gọi cuộc đời nầy là vô thường.
08/04/201319:58(Xem: 6834)
Sau khi Raymond Moody xuất bản quyển Life after life vào năm 1975, công chúng phương Tây ngày càng quan tâm đến kinh nghiệm cận tử (KNCT). Các tiến bộ không ngừng của kỹ thuật Y-sinh học đã làm hồi sinh nhiều người : trước đây đã được xem là đã chết lâm sàng. Hai phần ba số người này không nhớ gì cả.
04/08/201007:14(Xem: 3184)
Trong những lần trước, chúng ta đã tìm hiểu về đời sống bên kia cửa tử qua lời kể của những người đã chết rồi hồi sinh (Near death experience). Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu về những áp lực vật chất đối với những người vừa từ trần. Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cấi trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có l điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để thỏa mãn nên bị dục vọng hành hạ biến thành một loài quỷ đói. Theo các sách vở viết về thế giới bên kia thì đay là một cõi được cấu tạo bằng những chất liệu rất thanh và nhẹ so với nguyên tử cõi trần nên muốn sống một cách thảnh thơi, các vong linh khi qua đay phải biết loại bỏ đi những phần tử nặng trược tích tụ trong kiếp sống ở cõi trần như dục vọng, sự quyến luyến, lòng ham ăn uống hay đòi hỏi xác thịt.
12/11/201517:08(Xem: 7750)
Những năm trước, nhân đọc một bài pháp thoại, một vị Thiền sư hỏi những người đệ tử của mình, cuộc sống dài bao lâu? Có người bảo 100 năm, 75 năm, 50 năm, 25 năm, v.v... Nhưng câu trả lời của vị Thiền sư đó là: “Cuộc sống chỉ dài như một hơi thở”, vì nếu một hơi thở vào, mà không ra hoặc ngược lại, tức khắc chúng ta từ giã cuộc đời này. Tự nhiên, khi ngắm hoa Quỳnh nở rồi tàn trong một đêm trăng tròn Mười Sáu, chợt nhớ bài pháp thoại năm nao, tâm cảnh hữu tình mà sáng tác một bài thơ: Nếu cuộc sống dài như hơi thở, Ta làm gì giữa hơi thở trong ta?
28/06/201313:15(Xem: 5811)
HỎI: Bạn có tin tưởng tái sinh không? ĐÁP: Vâng, tôi tin. Nhưng, phải lâu lắm tôi mới đạt đến điểm này. Tin tưởng tái sinh không đến một cách ngay lập tức. Một số người có thể đến từ một truyền thống tin tưởng ở tái sinh như một phần trong nếp sống văn hóa. Đây là trường hợp trong nhiều quốc gia Á châu, và vì thế, vì người ta đã từng nghe về tái sinh từ khi họ còn là những thiếu niên, sự tin tưởng điều ấy trở thành một cách tự động. Tuy nhiên, những điều ấy đối với chúng ta từ những nền văn hóa Tây phương, nó dường như lạ lùng lúc ban đầu. Chúng ta thường không dễ bị thuyết phục trong vấn đề tái sinh ngay tức thì, với những cầu vồng và âm nhạc phía sau lưng và “Chúa nhân từ ơi! Bây giờ tôi tin!” Nó không thường hoạt động như thế.
01/07/201114:04(Xem: 3751)
Số đông quần chúng cần một thời gian dài mới quen thuộc với ý niệm về tái sinh. Tôi cũng đã trải qua nhiều giai đoạn trong tiến trình đưa đến sự xác tín vào tái sinh.
05/05/201113:44(Xem: 3113)
Cuối cùng thì một con đường vô thường này mỗi người chúng ta đều phải đối diện! Tuy nhiên, Phật A-di-đà đã từng phát đại nguyện muốn cứu độ tất cả chúng sanh niệm Phật.