Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Kinh Quán Niệm Hơi Thở

12/12/201017:25(Xem: 4033)
Kinh Quán Niệm Hơi Thở


KINH QUÁNNIỆM HƠI THỞ

NhấtHạnh dịch và chú giải
kinh-quan-niem-hoi-tho
I KINH QUÁN NIỆM HƠI THỞ

A.Tôi nghe như sau:

“Hồiđó, Bụt còn ở tại thành Xá Vệ (1), cư trú trong vườnKỳ Thọ với nhiều vị đại đệ tử nổi tiếng như XáLợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu ThiLa, A Nậu Lâu Ðà Liu Bà Ða, A Nan Ðà v.v... Trong cọng đồngcác vị khất sĩ, những vị trưởng thượng thì lo chăm sócdạy dỗ các vị khất sĩ tân học, có vị chăm dạy mườingười, có vị hai mươi người, có vị ba mươi người, cóvị bốn mươi người. Các vị khất sĩ tân học đượcchăm sóc và dạy dỗ như thế dần dần thực hiện đượcnhiều tiến bộ.

Ðêmấy là một đêm trăng tròn ngày lễTự Tứ kết thúc mùaAn Cư (2). Ðức Giác Ngộ ngồi ở ngoài trời và xung quanhngười, chúng đệ tử khất sĩ quy tụ. Sau khi đưa mắt lặnglẽ nhìn đại chúng, Bụt lên tiếng:
“Quývị khất sĩ, tôi rất hài lòng về những thành quả mà quývị đã đạt được trong sự tu học. Quý vị hãy tinh tiếnlên nữa. Những gì chưa đạt được, hãy đạt cho được,và những gì chưa thực hiện, hãy thực hiện cho xong. Tôisẽ ở đây, và đợi tại thành Xá Vệ này cho đến ngàytrăng tròn chấm dứt tháng an cư thứ tư (3).”

Nghetin đức Thế Tôn bảo người sẽ lưu lại Xá Vệ cho tơíngày trăng tròn của tháng thứ tư các vị khất sĩ lúc bấygiờ hành đạo rải rác ở những miền quê liền lên đườnglục tục tìm đến Xá Vệ thăm người. Vào dịp này, cácvị trưởng thượng lại càng chăm chú chỉ dạy các vị tânhọc, vị thì chỉ dạy mười người, vị thì hai mươi ngươi,vị thì ba mươi người, vị thì bốn mươi người. . . Cácvị khất sĩ tân học nhờ đó lần lượt đạt được nhiềutiến bộ đáng kể.

Bâygiờ đây, đã đến ngày trăng tròn tháng thứ tư và Bụtcũng đang ngồi ngoài trời với các khất sĩ. Người đưamắt lặng lẽ quán sát đại chúng một hồi rồi lên tiếng:

“Quývị khất sĩ! Cọng đồng chúng ta đây, quả là thanh tịnhvà có thực chất tu học, không mang tính chất phù phiếm vàba hoa, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được gọilà phước điền, xứng đáng được kính nể. Cúng dườngcho một đại chúng như thế chắc chắn sẽ có công đức.Một cọng đồng như thế này thật là hiếm có và dù xa xôimấy ai cũng phát tâm tìm tới để quy kính.”

“Nàyquý vị, trong đại chúng đây có những vị khất sĩ đã chứngquả La Hán (4), đã trừ hết mọi phiền não (5), đã trútbỏ được mọi gánh nặng, đã thành tựu được trí tuệvà giải thoát. Lại có những vị đã cắt được năm sợidây ràng buộc đầu (6), chứng được quả Bất Hoàn (7), sẽkhông còn trở lại luân hồi; có những vị đã cắt bỏ đượcba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Nhất Hoàn (8), hàngphục được phần thô của các phiền não tham, sân và si,và chỉ cần trở lại một lần; có những vị đã cắt bỏđược ba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Dự Lưu (9),đang vững chãi đi về quả vị giác ngộ; có vị đang thựctập tứ niệm xứ, có vị đang thực tập tứ chánh cần,có vị đang thực tập tứ như ý túc, có vị đang thực tậpngũ căn, có vị đang thực tập ngũ lực, có vị đang thựctập thất bồ đề, có vị đang thực tập bát thánh đạo(10), có vị đang thực tập Từ, có vị đang thực tập Bi,có vị đang thực tập Hỉ, có vị đang thực tập Xả (ll),có vị đang thực tập cửu tưởng quán (12), có vị đang thựctập vô thường quán. Lại có những vị khác đang thực tậpquán niệm hơi thở.”

B.
“Quývị khất sĩ! Phép quán niệm hơi thở, nếu được phát triểnvà thực hiện liên tục, sẽ đem lại những thành quả vàlợi lạc lớn, có thể làm thành tựu bốn lĩnh vực quánniệm (Tứ Niệm Xứ); bốn lĩnh vực quán niệm nếu đượcphát triển và thực tập liên tục, sẽ làm thành tựu bảyyếu tố giác ngộ (Thất Giác Chi); bảy yếu tố giác ngộnếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa tớitrí tuệ và giải thoát.
“Làmthế nào để phát triển và thực tập liên tục phép QuánNiệm Hơi Thở, để phép này mang lại những thành quả vàlợi lạc lớn?
“Nàyđây, quý vị khất sĩ, người hành giả đi vào rừng hoặctới một gốc cây, nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thểhoa sen, giữ thân cho thẳng, và đặt vững chánh niệm trướcmặt mình. Thở vào, người ấy biết rằng mình thởvào; thở ra, người ấy biết là mình thở ra.

1 .Thở vào một hơi dài người ấy biết: Ta đang thở vào mộthơi dài. Thở ra một hơi dài người ấy biết: ta đang thởra một hơi dài.
2.Thở vào một hơi ngắn người ấy biết: ta đang thở vàomột hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn, người ấy biết: tađang thở ra một hơi ngắn.
3.Ta đang thở vào và có ý thức về toàn thân thể ta; ta đangthở ra và có ý thức về toàn thân thể ta, người ấy thựctập như thế.
4.Ta đang thở vào và làm cho toàn thân an tịnh; ta đang thởra và làm cho toàn thân an tịnh, người ấy thực tập nhưthế.
5.Ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui (13), ta đang thở ravà cảm thấy mừng vui, người ấy thực tập như thế.
6.Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc (13) ; ta đang thở ravà cảm thấy an lạc, người ấy thực tập như thế.
7.Ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt động tâmý trong ta; ta đang thở ra và có ý thức về những hoạt độngtâm ý trong ta, người ấy thực tập như thế.
8.Ta đang thở vào và làm cho những hoạt động tâm ý trong taan tịnh; ta đang thở ra và làm cho những hoạt động tâm ýtrong ta an tịnh, người ấy thực tập như thế.
9.Ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta; ta đang thở ravà có ý thức về tâm ý ra, người ấy thực tập như thế,
10.Ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc; ta đang thởra và làm cho tâm ý ta hoan lạc, người ấy thực tập nhưthế.
11Ta đang thở vào và thu nhiếp tâm ý ta vào định; ta đang thởra và thu nhập tâm ý ta vào định, người ấy thực tập nhưthế.
12.Ta đang thở vào và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoáttự do; ta đang thở ra và cởi mở cho tâm ý ta được giảithoát tự do, người ấy thực tập như thế.
13. Ta đang thở vào và quán chiếu tính vô thường của vạnpháp; ta đang thở ra và quán chiếu tính vô thường của vạnpháp, người ấy thực tập như thế.
14.Ta đang thở vào và quán chiếu về tính tàn hoại của vạnpháp (14); ta đang thở ra và quán chiếu về tính tàn hoạicủa vạn pháp, người ấy thực tập như thế.
15.Ta đang thở vào và quán chiếu về giải thoát (l5); ta đangthở ra và quán chiếu về giải thoát, người ấy thực tậpnhư thế.
16.Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ (l6); ta đangthở ra và quán chiếu về sự buông bỏ, người ấy thựctập như thế.

PhépQuán Niệm Hơi Thở, theo những chỉ dẫn trên, nếu đượcphát triển và thực tập liên tục sẽ đem đến những thànhquả và lợi lạc lớn.

C Pháttriển và thực tập liên tục như thế nào để phép quánniệm hơi thở có thể thành tựu được bốn lĩnh vực quánniệm (tứ niệm xứ)?

Khihành giả thở vào hoặc thở ra một hơi dài hay một hơi ngắnmà có ý thức về hơi thở và về toàn thân mình, hoặc cóý thức là đang làm cho toàn thân mình, hoặc có ý thức làđang làm cho toàn thân mình an tịnh, thì khi ấy hành giả đangan trú trong phép quán thân trong thân, tinh tiến, tỉnh thức,biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọichán ghét đối với cuộc đời. Hơi thở vào và hơithở ra có ý thức ở đây thuộc về lĩnh vực quán niệmthứ nhất là thân thể.

Khingười hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức vềsự vui thích hoặc về sự an lạc, về những hoạt độngcủa tâm ý, hoặc để làm cho những hoạt động của tâmý an tịnh thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quáncảm thọ trong cảm thọ, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tìnhtrạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghétđối với cuộc đời. Những cảm thọ được chứng nghiệmtrong hơi thở có ý thức ấy thuộc về lĩnh vực quán niệmthứ hai là cảm thọ.

Khihành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về tâm ý,làm cho tâm ý an tịnh, thu nhập tâm ý vào định hoặc cởimở cho tâm ý được giải thoát tự do, thì khi ấy hành giảđang an trú trong phép quán niệm tâm ý trong tâm ý, tinh tiến,tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắmcũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Không cóquán niệm về hơi thở thì sẽ không phát triển được chánhniệm và sự hiểu biết.

Khihành giả thở vào hoặc thở ra mà quán chiếu về tính cáchvô thường hoặc về tính cách phải tàn hoại của vạn pháp,về giải thoát và về sự buông bỏ, thì khi ấy hành giảđang an trú trong phép quán niệm đối tượng tâm ý trong đốituợng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng,vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối vớicuộc đời.

PhépQuán Niệm Hơi Thở nếu được phát triển và thực tập liêntục, sẽ đưa bốn lĩnh vực quán niệm đến chỗ thành tựuviên mãn.

D.Nhưng nếu được phát triển và thực tập liên tục, bốnlĩnh vực quán niệm sẽ đưa bảy yếu tố giác ngộ đếnchỗ thành tựu viên mãn. Bằng cách nào?

Khihành giả an trú trong phép quán thân trong thân, quán cảm thọtrong cảm thọ, quán tâm ý trong tâm ý, quán đối tượng tâmý nơi đối tượng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõtình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chánghét đối với cuộc đời, thì lúc ấy chánh niệm của hànhgiả được duy trì vững chãi và bền bĩ, và hành giả đạtđược yếu tố giác ngộ (giác chi) thứ nhất là niệm. Yếutố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khihành giả an trú trong chánh niệm ớ quán chiếu và quyết trạchvề các pháp, đối tượng của tâm ý, thì yếu tố giác ngộthứ hai được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố trạchpháp. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viênmãn.

Khihành giả an trú trong quán chiếu và quyết trạch về các phápmột cách bền bĩ, tinh cần, vững chãi thì yếu tố giác ngộthứ ba được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố tinhtấn. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựuviên mãn.

Khimà hành giả đã an trú vững chãi và bền bĩ trong sự hànhtrì tinh tiến thì yếu tố giải thoát thứ tư được sinhkhởi và phát triển, đó là yếu tố hỷ lạc xuất thế (17). Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khihành giả được an trú trong trạng thái hỷ lạc rồi thìhành giả cảm thấy thân và tâm của mình nhẹ nhàng và antịnh, đó là yếu tố giải thoát thứ năm được sinh khởivà phát triển. Ðó là yếu tố khinh an. Yếu tố này sẽ tiếndần đến sự thành tựu viên mãn.

Khithân và tâm mình đã nhẹ nhàng và thanh tịnh, hành giả cóthể đi vào định một cách dễ dáng. Lúc đó yếu tố giảithoát thứ sáu được sinh khởi và phát triển. Ðó là yếutố định. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựuviên mãn.

Khiđã thực sự an trú trong định, hành giả không còn duy trìsự phân biệt và so đo (18) nữa. Khi đó yếu tố giải thoátthứ bảy là buông thả được sinh khởi và phát triển. Ðólà yếu tố hành xả. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sựthành tựu viên mãn.

Bốnlĩnh vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ) nếu được phát triểnvà thực tập liên tục sẽ đưa bảy yếu tố giác ngộ (thấtgiác chi) đến chỗ thành tựu viên mãn như thế.

E.Nhưng bảy yếu tố giác ngộ, nếu được phát triển và thựctập liên tục, làm thế nào để có thể đưa đến sự thànhtựu viên mãn của trí tuệ và giải thoát?

Nếuhành giả tu tập theo bảy yếu tố giác ngộ, một mình tĩnhcư, chuyên quán chiếu về tính cách phải tàn hoại của vạnpháp, quán chiếu về sự tự do, thì sẽ đạt tới khả năngbuông bỏ. Ðó là do tu tập bảy yếu tố giác ngộ mà thànhtựu viên mãn được trí tuệ và giải thoát.

G.Ðó là những điều đức Thế Tôn nói. Ðại chúng ai nấyđều tỏ vẻ vui mừng được nghe người dạy.

Source:LáBối xuất bản 1987



KINH QUÁN NIÊMHƠI THỞ I
(TạpA Hàm 803)
NhấtHạnh dịch từ Hán Tạng

Đâylà những điều tôi được nghe hồi Bụt còn cư trú trongvườn Cấp Cô Độc, nơi rừng cây của thái tử Kỳ Đà ởnước Xá Vệ.

Lúcbấy giờ đức Thế tôn bảo các vị khất sĩ:

Cácvị nên tu tập phép quán niệm hơi thở. Nếu vị khất sĩnào tu tập phép quán niệm hơi thở và tu tập cho chín chắnthì thân và tâm vị ấy sẽ được thư thái nhẹ nhàng, cóthẩm sát, có quán chiếu, tâm tư được tĩnh lặng, thuầnnhất, có được những nhận thức có công năng đưa tớiMinh Giác và vị ấy sẽ đưa sự thực tập của mình đếnchỗ thành tựu viên mãn. Thực tập như thế nào? Vị khấtsĩ sống nơi làng xóm hay thôn ấp, buổi sáng đắp y, ôm bátvào làng khất thực, biết khéo léo giữ gìn thân thể vàcác giác quan của mình và giữ cho chánh niệm luôn luôn cómặt. Khất thực xong, vị ấy trở về trú xứ, cất y bát,rửa chân, đi vào rừng, hoặc vào trong một căn phòng vắng,hoặc dưới một gốc cây, hoặc một nơi đất trống, ngồixuống ngay thẳng, buộc chánh niệm trước mặt, buông bỏmọi tham ái, buông bỏ mọi ước mong cho tâm tư vắng lặng,buông bỏ giận hờn, mê ngủ, trạo cử, ngờ vực, vượtqua mọi nghi hoặc, để cho tâm có cơ hội tương ứng vớicác pháp lành, xa lìa năm yếu tố ngăn che và các phiền nãocó thể làm cho tuệ lực mình yếu đi và gây chướng ngạitrên con đường đi đến Niết bàn. Vị ấy:

1.Để ý tới hơi thở vào, khéo léo buộc niệm vào hơi thởvào.
Đểý tới hơi thở ra, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

2.Để ý tới hơi thở vào dài hay ngắn, khéo léo buộc niệmvào hơi thở vào dài hay ngắn.
Đểý tới hơi thở ra dài hay ngắn, khéo léo buộc niệm vào hơithở ra dài hay ngắn.

3.Để ý tới toàn thân, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.
Đểý tới toàn thân, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

4.Làm lắng dịu toàn thân, khéo léo buộc niệm vào hơi thởvào.
Làmlắng dịu toàn thân, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

5.Ý thức về cảm thọ vui mừng, khéo léo buộc niệm vào hơithở vào.
Ýthức về cảm thọ vui mừng, khéo léo buộc niệm vào hơithở ra.

6.Ý thức về cảm thọ hạnh phúc, khéo léo buộc niệm vàohơi thở vào.
Ýthức về cảm thọ hạnh phúc, khéo léo buộc niệm vào hơithở ra

7.Ý thức về tâm hành (đang có mặt), khéo léo buộc niệm vàohơi thở vào.
Ýthức về tâm hành (đang có mặt), khéo léo buộc niệm vàohơi thở ra.

8.Làm lắng dịu tâm hành (đang có mặt), khéo léo buộc niệmvào hơi thở vào.
Làmlắng dịu tâm hành (đang có mặt), khéo léo buộc niệm vàohơi thở ra.

9.Ý thức về tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.
Ýthức về tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

10.Ý thức về trạng thái vui của tâm, khéo léo buộc niệm vàohơi thở vào.
Ýthức về trạng thái vui của tâm, khéo léo buộc niệm vàohơi thở ra.

11.Ý thức về trạng thái định của tâm, khéo léo buộc niệmvào hơi thở vào.
Ýthức về trạng thái định của tâm, khéo léo buộc niệmvào hơi thở ra.

12.Ý thức về trạng thái giải thoát của tâm, khéo léo buộcniệm vào hơi thở vào.
Ýthức về trạng thái giải thoát của tâm, khéo léo buộc niệmvào hơi thở ra.

13.Quán chiếu vô thường, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.
Quánchiếu vô thường, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

14.Quán chiếu buông bỏ, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.
Quánchiếu buông bỏ, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

15.Quán chiếu vô dục, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.
Quánchiếu vô dục, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

16.Quán chiếu tịch diệt, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.
Quánchiếu tịch diệt, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

Tutập phép quán niệm hơi thở làm cho thân tâm lắng dịu, cóthẩm sát, có quán chiếu, tâm tư được tĩnh lặng, thuầnnhất, đạt được những tri giác sáng suốt và có thể đưasự thực tập đến chỗ thành tựu viên mãn là như thế đó.

Bụtnói kinh này xong. Các vị khất sĩ nghe Bụt giảng hoan hỷphụng hành.

Updated:June 15, 2006
Source:http://www.langmai.org/

KINHQUÁN NIỆM HƠI THỞ II
(TạpA Hàm 810)
NhấtHạnh dịch từ Hán Tạng

Đâylà những điều tôi được nghe hồi Bụt còn cư trú tạirừng Tát la lê bên bờ sông Kim cương bạt cầu ma. Lúc bấygiờ tôn giả A Nan đang ở một mình nơi chỗ vắng, thựctập thiền quán (cách đức Thế tôn không xa). Trong lúc tậpthiền, thầy A Nan khởi ra ý tưởng sau đây: Có thể có mộtphép tu mà nếu tu cho thật chín chắn thì sẽ làm cho bốnphép tu (niệm xứ) được thành tựu đầy đủ, và khi bốnphép tu (niệm xứ) được thành tựu đầy đủ, thì bảy phéptu (bồ đề phần) cũng sẽ được thành tựu đầy đủ, vàkhi bảy phép tu (bồ đề phần) được thành tựu đầy đủthì hai phép tu (minh và giải thoát) cũng được thành tựuđầy đủ. Nghĩ tới đó, thầy A Nan xuất thiền, đi đếnchỗ Bụt ngồi, đem đầu làm lễ dưới chân Bụt, lùi lạingồi một bên Ngài và hỏi: “Bạch đức Thế Tôn, trong khithực tập thiền ở một nơi vắng, con có ý nghĩ như sau:Có thể có một phép tu mà nếu tu cho thật chín chắn thìsẽ làm cho bốn phép tu (niệm xứ) được thành tựu đầyđủ, và khi bốn phép tu (niệm xứ) được thành tựu đầyđủ, thì bảy phép tu (bồ đề phần) cũng sẽ được thànhtựu đầy đủ, và khi bảy phép tu (bồ đề phần) đượcthành tựu đầy đủ thì hai phép tu (minh và giải thoát) cũngđược thành tựu đầy đủ. Nay con xin hỏi Đức Thế Tôn:Có mộ phép tu như thế hay không?”

Bụtbảo thầy A Nan:

Có.Có một phép tu mà nếu tu chín chắn thì sẽ làm cho bốn phéptu (niệm xứ) được thành tựu đầy đủ, và khi bốn phéptu (niệm xứ) được thành tựu đầy đủ, thì bảy phép tu(bồ đề phần) cũng sẽ được thành tựu đầy đủ, vàkhi bảy phép tu (bồ đề phần) được thành tựu đầy đủthì hai phép tu (minh và giải thoát) cũng được thành tựuđầy đủ. Phép tu ấy là gì? Đó là phép tu quán niệm hơithở vào và hơi thở ra. Nếu tu tập cho chín chắn, phép tunày sẽ làm cho bốn phép tu (niệm xứ) được thành tựu đầyđủ, và khi bốn phép tu (niệm xứ) được thành tựu đầyđủ, thì bảy phép tu (bồ đề phần) cũng sẽ được thànhtựu đầy đủ, và khi bảy phép tu (bồ đề phần) đượcthành tựu đầy đủ thì hai phép tu (minh và giải thoát) cũngđược thành tựu đầy đủ.

Làmthế nào để sự thực tập phép quán niệm hơi thở có thểlàm cho bốn phép tu (niệm xứ) được thành tựu đầy đủthì sẽ làm cho bốn phép tu (niệm xứ) được thành tựu đầyđủ, và khi bốn phép tu (niệm xứ) được thành tựu đầyđủ, thì bảy phép tu (bồ đề phần) cũng sẽ được thànhtựu đầy đủ, và khi bảy phép tu (bồ đề phần) đượcthành tựu đầy đủ thì hai phép tu (minh và giải thoát) cũngđược thành tựu đầy đủ?

Vịkhất sĩ sống nơi làng xóm hay thôn ấp, ... (lập lại nhưtrong kinh 803 cho đến hết hơi thở thứ 16).

NàyA Nan, vị thánh đệ tử:

1.Trong khi thở vào, biết mình đang thở vào.
Trongkhi thở ra, biết mình đang thở ra.

2.Trong khi thở vào một hơi dài hoặc một hơi ngắn, biết rằngmình đang thở vào một hơi dài hay một hơi ngắn.
Trongkhi thở ra một hơi dài hoặc một hơi ngắn, biết rằng mìnhđang thở ra một hơi dài hay một hơi ngắn.

3.Trong khi thở vào, ý thức được toàn thân.
Trongkhi thở ra, ý thức được toàn thân.

4.Trong khi thở vào, buông thư cả toàn thân.
Trongkhi thở ra, buông thư cả toàn thân.

Trongkhi thực tập như thế, vị thánh đệ tử thực tập quánthân trên thân. Trong trường hợp đối tượng quán niệm khôngphải là tự thân mà là một thân khác thì vị ấy cũng tùytheo thân ấy để so sánh mà thực tập.

Vịthánh đệ tử ấy:

5.Trong khi thở vào, cảm thấy niềm vui.
Trongkhi thở ra, cảm thấy niềm vui.

6.Trong khi thở vào, cảm thấy niềm hạnh phúc.
Trongkhi thở ra, cảm thấy niềm hạnh phúc.

7.Trong khi thở vào, ý thức được tâm hành đang có mặt.
Trongkhi thở ra, ý thức được tâm hành đang có mặt.

8.Trong khi thở vào, làm lắng dịu tâm hành đang có mặt.
Trongkhi thở ra, làm lắng dịu tâm hành đang có mặt.

Trongkhi thực tập như thế, vị thánh đệ tử thực tập quánthọ trên thọ. Trong trường hợp đối tượng quán niệm khôngphải là cảm thọ của chính mình mà là cảm thọ của kẻkhác, thì vị ấy cũng tùy theo cảm thọ ấy để so sánh màthực tập.

Vịthánh đệ tử ấy :

9.Trong khi thở vào, ý thức được tâm mình.
Trongkhi thở ra, ý thức được tâm mình.

10.Trong khi thở vào, làm cho tâm mình hoan lạc.
Trongkhi thở ra, làm cho tâm mình hoan lạc.

11.Trong khi thở vào, đưa tâm mình vào định.
Trongkhi thở ra, đưa tâm mình vào định.

12.Trong khi thở vào, giải tỏa cho tâm mình.
Trongkhi thở ra, giải tỏa cho tâm mình.

Trongkhi thực tập như thế, vị thánh đệ tử thực tập quántâm trên tâm. Trong trường hợp đối tượng quán niệm khôngphải là tự tâm mà là tâm của một kẻ khác thì vị ấycũng tùy theo tâm ấy để so sánh mà thực tập.

Vịthánh đệ tử ấy:

13.Trong khi thở vào, quán chiếu vô thường.
Trongkhi thở ra, quán chiếu vô thường.

14.Trong khi thở vào, quán chiếu giải tỏa.
Trongkhi thở ra, quán chiếu giải tỏa.

15.Trong khi thở vào, quán chiếu vô dục.
Trongkhi thở ra, quán chiếu vô dục.

16.Trong khi thở vào, quán chiếu tịch diệt.
Trongkhi thở ra, quán chiếu tịch diệt.

Trongkhi thực tập như thế, vị thánh đệ tử thực tập quánpháp trên pháp. Trong trường hợp đối tượng quán niệm khôngphải là nội pháp mà là pháp của một kẻ khác thì vị ấycũng tùy theo pháp ấy mà so sánh để thực tập.

A Nan,tu tập phép quán niệm hơi thở làm cho bốn phép tu (tứ niệmxứ) được thành tựu đầy đủ là như thế đấy.

ThầyA Nan bạch:

“Bạchđức Thế tôn, Thế tôn vừa dạy làm sao phép quán niệm hơithở có thể làm cho bốn phép tu (niệm xứ) được thành tựuđầy đủ. Xin Thế tôn chỉ dạy tu tập bốn phép tu niệmxứ như thế nào để có thể giúp cho bảy phép tu (bồ đềphần) được thành tựu đầy đủ?”

Bụtnói:

“Trongkhi vị khất sĩ thực tập quán thân trên thân, luôn luôn khéoléo giữ cho chánh niệm được hiện tiền, thì lúc ấy vịkhất sĩ cũng đang tu tập làm phát triển cái bồ đề phầngọi là niệm. Khi bồ đề phần niệm đã được phát triểnđầy đủ vị khất sĩ sẽ có khả năng tư duy quyết trạchvề các pháp, và như thế là đang khéo léo tu tập làm pháttriển cái bồ đề phần gọi là trạch pháp. Khi bồ đềphần trạch pháp đã được phát triển đầy đủ, vị khấtsĩ sẽ đạt được những tiến bộ về tinh tiến, và vịấy khéo léo tu tập làm phát triển cái bồ đề phần gọilà tinh tiến. Khi bồ đề phần tinh tiến đã được pháttriển đầy đủ, vị khất sĩ sẽ cảm thấy tâm mình hoanhỷ và vị ấy khéo léo tu tập làm phát triển cái bồ đềphần gọi là hỷ. Khi bồ đề phần hỷ đã được phát triểnđầy đủ, vị khất sĩ sẽ cảm thấy thân tâm mình nhẹnhàng an ổn và vị ấy khéo léo tu tập làm phát triển cáibồ đề phần gọi là khinh an. Khi bồ đề phần khinh an đãđược phát triển đầy đủ, vị khất sĩ nhờ thân tâm anlạc đạt được tam muội, và bắt đầu tu tập cái bồ đềphần gọi là định. Khi bồ đề phần định đã được pháttriển đầy đủ, thì tham ái tiêu diệt, và vị khất sĩ đạtđược tình trạng không kỳ thị phân biệt gọi là xả, vàvị ấy khéo léo tu tập làm phát triển cái bồ đề phầngọi là xả, cho đến khi bồ đề phần xả được phát triểnđầy đủ.

Khitu tập các niệm xứ khác là thọ trên thọ, tâm trên tâm,pháp trên pháp, vị khất sĩ cũng tu tập giống hệt như thế...Tu tập bốn niệm xứ làm cho bảy bồ đề phần được thànhtựu đầy đủ là như thế.

Tôngiả A Nan bạch:

“Thếtôn, Thế tôn vừa dạy tu tập bốn phép niệm xứ thế nàođể giúp cho bảy bồ đề phần được thành tựu đầy đủ,xin Thế tôn chỉ dạy tu tập bảy bồ đề phần như thếnào để giúp cho hai phép minh và giải thoát được thành tựuđầy đủ?”

Bụtdạy:

“Trongkhi tu tập bồ đề phần niệm, nương vào viễn ly, vô dục,diệt, hướng về xả, hành giả làm cho minh và giải thoátđược thành tựu đầy đủ. Trong khi tu tập các bồ đềphần trạch pháp, tinh tiến, hỷ, khinh an, định và xả, nươngvào viễn ly, vô dục, diệt và hướng về xả, hành giả cũnglàm cho minh và giải thoát được thành tựu đầy đủ. NàyA Nan, cái này gọi là các pháp nương vào nhau mà phân loại,các pháp đi vào nhau; trong mười ba pháp ấy, một pháp giúpcho tất cả các pháp khác lớn lên, một pháp mở cửa chotất cả các pháp khác, tất cả đều thành tựu tăng trưởngđi lên cho đến khi mọi pháp được phát triển đầy đủ.

Bụtnói kinh này xong. Tôn giả A Nan hoan hỷ phụng hành.

Updated:June 15, 2006
Source:http://www.langmai.org/

XemThêm:
KinhAn-na-ban-na niệm, Việt dịch: Thích Ðức Thắng
TạpA Hàm 803
TạpA Hàm 810

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn