Kỷ niệm ngày Thành Đạo.

4/8/201316:22(View: 4702)
Kỷ niệm ngày Thành Đạo.
ducphatthichca
Ngày Thành Đạo chính là giờ phút huy hoàng nhất trong lịch sử nhân loại, ngày mà cách đây hơn 25 thế kỷ, trong núi Tượng Đầu chim hòa nhạc, hoa quyện hương, nắng dệt tơ vàng cùng với nỗi hân hoan của muôn ngàn vũ trụ cung nghinh Đức Thế Tôn lúc đạo quả viên thành. Ngày đó Ngài đã đem lại cho muôn đời ánh sáng chân lý, phá tan những mê mờ đen tối, giải thoát sinh linh qua biển khổ, nêu cao gương anh dũng đầy từ bi và trí tuệ vô hạn tuyệt vời.

Chúng ta kính tưởng niệm hình ảnh và con đường gian lao mà Ngài đã vượt qua để tìm chân lý. Với tâm hồn thanh thoát, Thái tử ra đi giữa đêm khuya để lại sau lưng Ngài tất cả đền đài cung điện, người cha yêu dấu, vợ đẹp con thơ và cả một tương lai huy hoàng rực rỡ. Ngài không bị sự trói buộc của những ân ái thường tình, với những chuỗi ngày tiệc tùng hoan lạc vây hãm và làm chìm đắm trong cuộc xa hoa trần tục.

Ngài đã từ bỏ thế gian để đặt một niềm tin mãnh liệt vào ý chí, tìm ra cho kỳ được con đường giải thoát chúng sanh. Đây không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hầu hết cuộc đời của mình, hay là của một người bần cùng nghèo khổ đói khát, không còn gì để lại phía sau, nhưng là sự khước từ của một vị Hoàng tử vinh quang giữa thời niên thiếu, trong cảnh ấm no sung túc và thịnh vượng. Một sự thoát ly chưa từng có trong lịch sử.

Mái tóc xanh, thanh kiếm bạc, áo cẩm bào của ngôi vị đế vương, Thái tử đã đem đổi lấy cuộc sống cơ cực của người khất sĩ, chân không giày dép, đầu không mũ nón, Ngài đi trong ánh nắng nóng bức và trong sương gió lạnh lùng.

Tấm thân vương giả rày đây mai đó, lắm khi Ngài cũng quên chính mình, bởi bên tai lúc nào cũng văng vẳng tiếng kêu thương đau của trần giới trong vòng sanh tử.

Trải qua những chặng đường tìm Thầy học đạo, rồi ròng rã sáu năm tu khổ hạnh, tự bản thân kinh nghiệm, Thái tử đã nhận thức chắc chắn rằng lối tu khổ hạnh chỉ làm giảm suy trí thức và mệt mỏi tình thần. Ngài nhận định rằng với tấm thân mỏi mon không thể hoàn toàn sáng suốt, một sức khỏe thích nghi rất cần thiết để đạt tiến bộ tinh thần. Ngài nhất định ăn uống trở lại bình thường để giữ thân làm lợi khí trong việc tìm đạo giải thoát.

Ngài chọn con đường độc lập, một phương tiện vàng son mà về sau sẽ trở thành một trong những đặc điểm của giáo lý Ngài.

Sau cuộc chiến đấu kỳ diệu phi thường kéo dài suốt 6 năm, Ngài bỏ lối tu khổ hạnh, rồi từ đó một mình một bóng nhắm núi Già Da thẳng tiến, đến dưới gốc cây Bồ Đề trải cỏ làm nệm, rồi ở đó tĩnh tọa nhập Thiền và phát lời thề nguyện: “Dầu máu Ta có khô, thịt Ta có nát, xương Ta có mục, mà đạo quả giải thoát Ta chưa tìm ra, thì Ta quyết không rời khỏi chỗ này”.

Suốt 49 ngày đêm suy tưởng, Ngài vận dụng tận cùng tất cả năng lực tư duy tinh nhuệ, chiến thắng hết thảy nội chướng ngoại ma, thân tâm trở nên vắng lặng và sáng suốt. Bao nhiêu mê mờ phiền não đều khoảnh khắc rũ sạch, mây vô minh đã tan biến, tâm trí được khai thông, cho đến khuya mồng tám tháng chạp, canh một Ngài chứng quả Túc mạng minh, thấy rõ những tiền kiếp xa xưa của Ngài và của tất cả chúng sanh, sinh mạng là một dòng sống vô thỉ vô chung, giai đoạn sau liên hệ với giai đoạn trước, giai đoạn trước là nhơn, giai đoạn sau là quả. Bao nhiêu công hạnh tu hành trong quá khứ là những nấc thang nối tiếp dẫn đường cho sự thành đạo hôm nay của Ngài.

Canh hai Ngài chứng quả Thiên nhãn minh, thấy rõ vũ trụ bao la này chỉ là một điểm nhỏ trong vòm trời to rộng. Sự vật trong vũ trụ tan hợp, hợp tan, trùng trùng điệp điệp, muôn loài chúng sanh chết nơi đây, sinh chỗ khác, trôi lăn mãi trong ba nẻo sáu đường không định kỳ thôi nghỉ.

Canh ba Ngài chứng quả Lậu tận minh, biết rõ cội nguồn khổ đau và mê mờ dục vọng. Cho đến lúc sao mai xuất hiện, kết thúc một đêm dài tăm tối, vòm trời như tỏa một làn sương bạc phủ xuống cây Bồ Đề, hàng triệu điềm lành quyện lại bên gốc đại thọ, không một tiếng động của quãng rừng u tịch. Thời gian như ngừng hẳn, trái đất như chuyển mình, mây ngừng bay, gió ngừng thổi, cả vũ trụ chìm đắm trong ánh sáng nhiệm mầu, vạn vật tươi vui, tất cả như nghiêng mình kính cẩn chào mừng đấng Đại giác Thế Tôn vừa mới thành đạo.

Cội nguồn con đường chấm dứt mọi vô minh sai lầm tạo nên trầm luân đau khổ. Đức Thích Ca đã dạy: “Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Ta lang thang đi mãi, tìm mãi mà chẳng gặp kẻ làm nhà vô minh tham ái, khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi. Ôi! Kẻ làm nhà kia, nay Ta đã thấy ngươi rồi, ngươi không thể làm nhà nữa - đòn tay ngươi đã gãy – cột kèo ngươi đã tan – tâm Ta đã vắng lặng, bao nhiêu tham ái đã dứt sạch, Ta đã chứng quả vô sinh bất diệt”. Đây quả là một khúc ca khải hoàn, một bài kệ diễn tả tâm trạng tràn đầy niềm hoan hỷ thanh thoát của Ngài trong phút giây thành đạo, ghi dấu một khởi điểm vô cùng ngời sáng và trọng đại trên bước đường tu chứng của Ngài, đánh dấu một quá trình cao quý, đã đem lại nguồn sống ánh sáng, tình thương cho con người và cuộc đời, ở muôn thuở và muôn nơi.

Với mùa xuân đem lại nhiều nguồn sức sống mới, thì ngày Lễ Phật Thành Đạo cũng là ngày đem lại cho mọi loài ánh bình minh của chân lý, soi sáng con đường tận diệt xấu xa, vị kỷ, hẹp hòi, thức tỉnh con người có ý thức hành động, xây dựng một cuộc sống hạnh phúc an lạc.

Sinh ra là một con người, và thành đạt trạng thái tối thượng của sự toàn thiện, Ngài đã không dành sự liễu ngộ siêu phàm cho riêng mình, mà tuyên bố trước thế gian rằng tâm có khả năng và oai lực bất khuất, không khi nào Ngài tự hào chỉ có Ngài là người duy nhất đạt thành quả Phật. Ngài đã chứng minh rằng con người có thể thành tựu trí tuệ cao siêu và đạo quả tối thượng do sự cố gắng của chính mình, chứ không phải phục tùng, tùy thuộc nơi một nhân vật nào khác.

Đức phật đã dạy: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”. Một lời dạy làm hứng khởi mọi người tinh tiến bước trên con đường tu hành, chứ không cam tâm chìm nổi mãi trong biển khổ trầm luân.

Với ý chí sắt đá, trí tuệ cao siêu, lòng bi mẫn vô biên, đức vị tha phục vụ, sự thoát ly chưa từng có, đời sống gương mẫu, những phương pháp toàn thiện mà Ngài đã áp dụng để truyền bá giáo lý và sự thành công tối hậu của Ngài. Tất cả những yếu tố ấy đã khiến nhân loại khắp nơi, đang tôn thờ Ngài là vị giáo chủ siêu việt nhất tự cổ chí kim.

Đức Phật ví như mặt trời ban ánh sáng cho muôn loài, như mặt trăng chiếu tỏ mọi vật trong đêm tối, như ngọn đèn pha trên đỉnh núi, chiếu sáng thật xa cho thuyền bè biết lối mà đi.

Người Phật tử hướng về Tam bảo, phải tự lực tu hành các pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy, rồi cùng các bậc Thiện tri thức nắm tay nhau cùng tiến về nẻo giác ngộ. Có đi là có đến, dầu trải qua bao nhiêu đời kiếp cũng không nản chí, dù gặp muôn ngàn trở ngại cũng không ngã lòng. Điều đáng sợ là e khó, ngại mệt, gặp thử thách là dừng chân lùi bước thì chẳng bao giờ đến đích được.

Cứ tinh chuyên mà tiến tu, nay một chút, mai một phần, kiếp này chưa được thì kiếp sau, đừng quan tâm thời gian, đừng bận lòng về chứng đắc, nhiều cái Thành đạo nhỏ hợp lại sẽ thành cái Thành đạo lớn lao tuyệt vời.

Gợi lại hình ảnh tịnh niệm dưới gốc Bồ đề an vui, vắng lặng trong cảnh huyền diệu nơi tự tâm. Hôm nay, toàn thể Tăng Ni Phật tử chúng ta tín thành kỷ niệm ngày Thành đạo của Đức Thế Tôn, chúng ta vui mừng gạt bỏ bên lòng bao nghiệp trần đau khổ để kính cẩn cúi đầu đảnh lễ Ngài. Trong cơn cuồng loạn miên mang lạc đường nhân loại, nhờ đến sự Thành đạo của Ngài, chúng ta như người thủy thủ chợt tìm được hướng trong cảnh khó khăn, giữ vững lòng tin và nguyện cố gắng để đến ngày mai thường vui thanh tịnh.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
1/26/2026(View: 554)
Hơn hai mươi sáu thế kỷ trước, dưới cội Bồ-đề, Đức Thế Tôn thấu triệt ba minh, viên thành tuệ giác, chứng đắc quả vị Tối thượng trong thế gian, khai mở con đường chân lý chấm dứt khổ đau cho nhân loại. Trải qua thời gian hơn hai ngàn sáu trăm năm, giáo pháp của Thế Tôn lưu nhuận khắp các quốc độ, tùy sở trụ xứ mà mang lại an lạc cho muôn loài. Ánh sáng chân lý năm xưa từ nơi Bồ-đề đạo tràng đã soi rọi đến quốc độ của người Việt từ thuở bình minh dựng nước. Trải qua nhiều thế kỷ, ánh sao mai năm nào nơi xứ Ấn đã hóa hiện thành những cành mai sân trước của người Việt. Để từ đó, pháp học, pháp hành của ba đời mười phương chư Phật lợi lạc cho số đông thấm vào tâm hồn của người Việt, hàng ngàn thế hệ con cháu Rồng Tiên đã thu nhiếp và hành trì giáo pháp Phật đà tương ứng với căn tính dân tộc trên nền tảng những tín tâm bất hoại.
1/23/2026(View: 434)
Một sáng con quay về Thăm lại cây đại thọ Nơi đây Phật thiền toạ Chứng đạo quả Bồ Đề Ngày ấy của năm nào Nhằm mùng tám tháng chạp Vầng hào quang soi sáng Dẫy sạch bụi trần lao.
1/23/2026(View: 649)
Có những nỗi sợ là dấu hiệu của một lương tri còn sống Giúp phân biệt từ bi và dính mắc rất rõ ràng Ranh giới của một vùng trách nhiệm an toàn Không còn vô minh, không muốn quay lại cũ !
1/23/2026(View: 716)
Cuộc đời và con đường giác ngộ của Ngài là minh chứng rõ nét cho việc sử dụng tư duy phản biện để tìm ra sự thật, kết hợp với một đời sống đạo đức mẫu mực. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một hiền triết vĩ đại, người đã dùng tư duy phản biện sắc bén để phá bỏ những định kiến sai lầm, và dùng đạo đức, từ bi vô lượng để xây dựng một con đường giải thoát chân chính cho nhân loại. Ngài là minh chứng sống cho thấy tư duy phản biện và đạo đức cao thượng hoàn toàn có thể song hành với nhau.
1/23/2026(View: 625)
Ngày cuối năm, gió lạnh lùa qua mép cửa, những chùm hoa dại rũ mình uống ánh trăng đêm. Mùa của những bình yên, được gọi tên như món quà xoa dịu lòng người, vun vén những giấc mơ còn bỏ ngỏ! Con khẽ với tay nắm lấy nhành lá khô đang mọc những chồi non, trở mình tỉnh giấc sau một năm dài ẩn mình trong sương, gió. Người cũng đưa tay đón chút nắng cuối ngày, vẽ lên đó những mong ước lặng thầm, giữa một chiều trầm mặc!
1/6/2025(View: 3544)
Kính lạy bậc kỳ vĩ xuất hiện, từ ngàn năm trong thế giới (1) Gây âm vang chấn động, mở ra một kỷ nguyên Mang ánh sáng đi vào đời, với phương pháp tịnh Thiền Giúp người người tìm về Chánh Pháp mầu nhiệm
6/22/2024(View: 4272)
Bộ hành là bước đi của chân. Nơi đây, trong bài này, chỉ có ý nói rằng xin mời gọi bước đi của tâm: khuyến tấn cả nước cùng nhau bộ hành theo dòng Kinh Phật, cùng tập thói quen đọc kinh, suy nghĩ về kinh, để tâm hướng theo lời kinh dạy, và hàng ngày hãy làm như thế trong những điều kiện có thể của từng Phật tử, từng ngôi chùa. Nói theo chữ cổ, hàng ngày hãy tự xem hành động đọc, nghĩ, và làm theo lời Phật dạy cũng là một hạnh đầu đà. Nếu chúng ta đi bộ bằng chân, độ dài chỉ có thể đo bằng kilômét trong lãnh thổ Việt Nam. Trong khi, nếu chúng ta bước đi bằng tâm, hàng ngày mở trang kinh ra, để đọc, để nghĩ và để làm – thì độ dài của kinh và luận sẽ là nhiều ngàn năm, trải rộng cả Ấn Độ, Tích Lan, Trung Hoa, Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc châu… Và sẽ không làm cản trở giao thông của bất cứ ai, bất cứ nơi nào.
6/19/2024(View: 9060)
Khi nói tới chuyện trao truyền y bát, chỉ là sử dụng một kiểu ngôn ngữ ước lệ. Nơi đây, chúng ta muốn nói tới một thẩm quyền sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Nghĩa là, một thẩm quyền tối hậu để nương tựa. Khi dò lại kinh, chúng ta sẽ thấy câu chuyện phức tạp hơn. Vì có nơi Đức Phật nói rằng sau khi ngài nhập Niết Bàn, tứ chúng hãy chỉ dựa vào Chánh pháp. Kinh lại nói rằng tứ chúng chỉ nên dựa vào Kinh và Luật. Mặt khác, Đức Phật nói rằng có những kinh cần giải nghĩa (tức là, hãy nhìn mặt trăng, chứ đừng chấp vào ngón tay, và từ đây mở đường cho các bộ Luận và Kinh Đại Thừa). Có lúc Đức Phật chia đôi chỗ ngồi và trao y cho ngài Ca Diếp. Có kinh ghi lời Đức Phật trao pháp kế thừa cho ngài A Nan. Và có kinh ghi lời Đức Phật ủy thác quyền lãnh đạo cho Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Thế rồi, một hình ảnh thơ mộng từng được kể qua truyện tích Niêm Hoa Vi Tiếu, rằng Đức Phật lặng lẽ, cầm hoa lên, và ngài Ca Diếp mỉm cười. Tích này kể lời Đức Phật nói rằng ngài có một pháp môn vi diệu, không dự
6/6/2024(View: 2777)
Trong nhà Phật, lời nguyện là một phần có thể gặp ở bất kỳ kinh sách nào. Hầu hết các lời nguyện đều lớn vô cùng, và trải dài vô cùng tận. Trong các chùa Thiền Tông, chúng ta thường nghe tới Tứ hoằng thệ nguyện, nơi câu đầu "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" (Nguyện giải thoát vô số chúng sinh) đã mang tâm lượng vô biên, vô cùng tận. Trong các chùa Tịnh Độ, các bộ Kinh A Di Đà, Kinh Dược Sư đều ghi những lời nguyện lớn của các vị Phật tương ưng. Tới đây, chúng ta có thể gặp một câu hỏi, rằng có lời nguyện nào sẽ thích hợp cho kiếp này thôi. Bởi vì, có những vị tuổi thọ chỉ còn chừng vài năm nữa là sẽ qua kiếp khác. Và Đức Phật đã dạy những gì cho lời nguyện trong một kiếp ngắn hạn này?
6/4/2024(View: 18836)
Cùng toàn thể giới tử thọ trì Bát quan trai giới một ngày một đêm tại trú xứ Tăng già-lam Phước duyên, thành phố Huế, hiện diện quý mến. Một ngày một đêm quý vị ở trong Tịnh giới với niềm tin thanh tịnh, kiên cố, bất hoại đối với Tam bảo. Nhờ niềm tin này mà quý vị không để cho Giới pháp của mình bị sứt mẻ ở trong đi, ở trong đứng, ở trong nằm, ở trong ngồi, ở trong sự nói năng, giao tiếp. Quý vị có được niềm tin này là nhờ quý vị nuôi lớn sáu tính chất của Tam bảo, khiến cho ba nghiệp của quý vị được an tịnh, an tịnh về thân hành, an tịnh về ngữ hành, an tịnh về ý hành. Sáu tính chất của Tam bảo, quý vị phải thường quán chiếu sâu sắc, để thể nhập và tạo ra chất liệu cho chính mình, ngay đời này và đời sau. Sáu tính chất của Tam bảo gồm: