Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Kỷ niệm ngày Thành Đạo.

08/04/201316:22(Xem: 2363)
Kỷ niệm ngày Thành Đạo.
ducphatthichca
Ngày Thành Đạo chính là giờ phút huy hoàng nhất trong lịch sử nhân loại, ngày mà cách đây hơn 25 thế kỷ, trong núi Tượng Đầu chim hòa nhạc, hoa quyện hương, nắng dệt tơ vàng cùng với nỗi hân hoan của muôn ngàn vũ trụ cung nghinh Đức Thế Tôn lúc đạo quả viên thành. Ngày đó Ngài đã đem lại cho muôn đời ánh sáng chân lý, phá tan những mê mờ đen tối, giải thoát sinh linh qua biển khổ, nêu cao gương anh dũng đầy từ bi và trí tuệ vô hạn tuyệt vời.

Chúng ta kính tưởng niệm hình ảnh và con đường gian lao mà Ngài đã vượt qua để tìm chân lý. Với tâm hồn thanh thoát, Thái tử ra đi giữa đêm khuya để lại sau lưng Ngài tất cả đền đài cung điện, người cha yêu dấu, vợ đẹp con thơ và cả một tương lai huy hoàng rực rỡ. Ngài không bị sự trói buộc của những ân ái thường tình, với những chuỗi ngày tiệc tùng hoan lạc vây hãm và làm chìm đắm trong cuộc xa hoa trần tục.

Ngài đã từ bỏ thế gian để đặt một niềm tin mãnh liệt vào ý chí, tìm ra cho kỳ được con đường giải thoát chúng sanh. Đây không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hầu hết cuộc đời của mình, hay là của một người bần cùng nghèo khổ đói khát, không còn gì để lại phía sau, nhưng là sự khước từ của một vị Hoàng tử vinh quang giữa thời niên thiếu, trong cảnh ấm no sung túc và thịnh vượng. Một sự thoát ly chưa từng có trong lịch sử.

Mái tóc xanh, thanh kiếm bạc, áo cẩm bào của ngôi vị đế vương, Thái tử đã đem đổi lấy cuộc sống cơ cực của người khất sĩ, chân không giày dép, đầu không mũ nón, Ngài đi trong ánh nắng nóng bức và trong sương gió lạnh lùng.

Tấm thân vương giả rày đây mai đó, lắm khi Ngài cũng quên chính mình, bởi bên tai lúc nào cũng văng vẳng tiếng kêu thương đau của trần giới trong vòng sanh tử.

Trải qua những chặng đường tìm Thầy học đạo, rồi ròng rã sáu năm tu khổ hạnh, tự bản thân kinh nghiệm, Thái tử đã nhận thức chắc chắn rằng lối tu khổ hạnh chỉ làm giảm suy trí thức và mệt mỏi tình thần. Ngài nhận định rằng với tấm thân mỏi mon không thể hoàn toàn sáng suốt, một sức khỏe thích nghi rất cần thiết để đạt tiến bộ tinh thần. Ngài nhất định ăn uống trở lại bình thường để giữ thân làm lợi khí trong việc tìm đạo giải thoát.

Ngài chọn con đường độc lập, một phương tiện vàng son mà về sau sẽ trở thành một trong những đặc điểm của giáo lý Ngài.

Sau cuộc chiến đấu kỳ diệu phi thường kéo dài suốt 6 năm, Ngài bỏ lối tu khổ hạnh, rồi từ đó một mình một bóng nhắm núi Già Da thẳng tiến, đến dưới gốc cây Bồ Đề trải cỏ làm nệm, rồi ở đó tĩnh tọa nhập Thiền và phát lời thề nguyện: “Dầu máu Ta có khô, thịt Ta có nát, xương Ta có mục, mà đạo quả giải thoát Ta chưa tìm ra, thì Ta quyết không rời khỏi chỗ này”.

Suốt 49 ngày đêm suy tưởng, Ngài vận dụng tận cùng tất cả năng lực tư duy tinh nhuệ, chiến thắng hết thảy nội chướng ngoại ma, thân tâm trở nên vắng lặng và sáng suốt. Bao nhiêu mê mờ phiền não đều khoảnh khắc rũ sạch, mây vô minh đã tan biến, tâm trí được khai thông, cho đến khuya mồng tám tháng chạp, canh một Ngài chứng quả Túc mạng minh, thấy rõ những tiền kiếp xa xưa của Ngài và của tất cả chúng sanh, sinh mạng là một dòng sống vô thỉ vô chung, giai đoạn sau liên hệ với giai đoạn trước, giai đoạn trước là nhơn, giai đoạn sau là quả. Bao nhiêu công hạnh tu hành trong quá khứ là những nấc thang nối tiếp dẫn đường cho sự thành đạo hôm nay của Ngài.

Canh hai Ngài chứng quả Thiên nhãn minh, thấy rõ vũ trụ bao la này chỉ là một điểm nhỏ trong vòm trời to rộng. Sự vật trong vũ trụ tan hợp, hợp tan, trùng trùng điệp điệp, muôn loài chúng sanh chết nơi đây, sinh chỗ khác, trôi lăn mãi trong ba nẻo sáu đường không định kỳ thôi nghỉ.

Canh ba Ngài chứng quả Lậu tận minh, biết rõ cội nguồn khổ đau và mê mờ dục vọng. Cho đến lúc sao mai xuất hiện, kết thúc một đêm dài tăm tối, vòm trời như tỏa một làn sương bạc phủ xuống cây Bồ Đề, hàng triệu điềm lành quyện lại bên gốc đại thọ, không một tiếng động của quãng rừng u tịch. Thời gian như ngừng hẳn, trái đất như chuyển mình, mây ngừng bay, gió ngừng thổi, cả vũ trụ chìm đắm trong ánh sáng nhiệm mầu, vạn vật tươi vui, tất cả như nghiêng mình kính cẩn chào mừng đấng Đại giác Thế Tôn vừa mới thành đạo.

Cội nguồn con đường chấm dứt mọi vô minh sai lầm tạo nên trầm luân đau khổ. Đức Thích Ca đã dạy: “Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Ta lang thang đi mãi, tìm mãi mà chẳng gặp kẻ làm nhà vô minh tham ái, khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi. Ôi! Kẻ làm nhà kia, nay Ta đã thấy ngươi rồi, ngươi không thể làm nhà nữa - đòn tay ngươi đã gãy – cột kèo ngươi đã tan – tâm Ta đã vắng lặng, bao nhiêu tham ái đã dứt sạch, Ta đã chứng quả vô sinh bất diệt”. Đây quả là một khúc ca khải hoàn, một bài kệ diễn tả tâm trạng tràn đầy niềm hoan hỷ thanh thoát của Ngài trong phút giây thành đạo, ghi dấu một khởi điểm vô cùng ngời sáng và trọng đại trên bước đường tu chứng của Ngài, đánh dấu một quá trình cao quý, đã đem lại nguồn sống ánh sáng, tình thương cho con người và cuộc đời, ở muôn thuở và muôn nơi.

Với mùa xuân đem lại nhiều nguồn sức sống mới, thì ngày Lễ Phật Thành Đạo cũng là ngày đem lại cho mọi loài ánh bình minh của chân lý, soi sáng con đường tận diệt xấu xa, vị kỷ, hẹp hòi, thức tỉnh con người có ý thức hành động, xây dựng một cuộc sống hạnh phúc an lạc.

Sinh ra là một con người, và thành đạt trạng thái tối thượng của sự toàn thiện, Ngài đã không dành sự liễu ngộ siêu phàm cho riêng mình, mà tuyên bố trước thế gian rằng tâm có khả năng và oai lực bất khuất, không khi nào Ngài tự hào chỉ có Ngài là người duy nhất đạt thành quả Phật. Ngài đã chứng minh rằng con người có thể thành tựu trí tuệ cao siêu và đạo quả tối thượng do sự cố gắng của chính mình, chứ không phải phục tùng, tùy thuộc nơi một nhân vật nào khác.

Đức phật đã dạy: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”. Một lời dạy làm hứng khởi mọi người tinh tiến bước trên con đường tu hành, chứ không cam tâm chìm nổi mãi trong biển khổ trầm luân.

Với ý chí sắt đá, trí tuệ cao siêu, lòng bi mẫn vô biên, đức vị tha phục vụ, sự thoát ly chưa từng có, đời sống gương mẫu, những phương pháp toàn thiện mà Ngài đã áp dụng để truyền bá giáo lý và sự thành công tối hậu của Ngài. Tất cả những yếu tố ấy đã khiến nhân loại khắp nơi, đang tôn thờ Ngài là vị giáo chủ siêu việt nhất tự cổ chí kim.

Đức Phật ví như mặt trời ban ánh sáng cho muôn loài, như mặt trăng chiếu tỏ mọi vật trong đêm tối, như ngọn đèn pha trên đỉnh núi, chiếu sáng thật xa cho thuyền bè biết lối mà đi.

Người Phật tử hướng về Tam bảo, phải tự lực tu hành các pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy, rồi cùng các bậc Thiện tri thức nắm tay nhau cùng tiến về nẻo giác ngộ. Có đi là có đến, dầu trải qua bao nhiêu đời kiếp cũng không nản chí, dù gặp muôn ngàn trở ngại cũng không ngã lòng. Điều đáng sợ là e khó, ngại mệt, gặp thử thách là dừng chân lùi bước thì chẳng bao giờ đến đích được.

Cứ tinh chuyên mà tiến tu, nay một chút, mai một phần, kiếp này chưa được thì kiếp sau, đừng quan tâm thời gian, đừng bận lòng về chứng đắc, nhiều cái Thành đạo nhỏ hợp lại sẽ thành cái Thành đạo lớn lao tuyệt vời.

Gợi lại hình ảnh tịnh niệm dưới gốc Bồ đề an vui, vắng lặng trong cảnh huyền diệu nơi tự tâm. Hôm nay, toàn thể Tăng Ni Phật tử chúng ta tín thành kỷ niệm ngày Thành đạo của Đức Thế Tôn, chúng ta vui mừng gạt bỏ bên lòng bao nghiệp trần đau khổ để kính cẩn cúi đầu đảnh lễ Ngài. Trong cơn cuồng loạn miên mang lạc đường nhân loại, nhờ đến sự Thành đạo của Ngài, chúng ta như người thủy thủ chợt tìm được hướng trong cảnh khó khăn, giữ vững lòng tin và nguyện cố gắng để đến ngày mai thường vui thanh tịnh.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/01/201409:56(Xem: 4956)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào? Vv.v… Tiếng Pãli : bodhi. Dịch là Tri, Đạo, Giác, Trí. Nói theo nghĩa rộng Bồ Đề là Trí Tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết Bàn. Tức là Trí Giác Ngộ mà Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn đã đạt được ở qủa vị của các Ngài. Trong các loại Bồ Đề nầy, Bồ Đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề dịch là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Vô thượng chánh biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng Bồ Đề. Sau khi thành Phật, Đức Thích Ca có giải rằng ngài có đủ ba thể Bồ Đề: 1- Ứng Hóa Phật Bồ Đề: tức là thể Bồ Đề hiện lại trong đời Ngài làm Thái Tử Tất Đạt Đa mà tu hành.
16/12/201318:38(Xem: 12693)
Viết xong cuộc đời ngài Tôi bần thần, dã dượi Sinh lực tổn hao Như thân cây không còn nhựa luyện Như sức ngựa đường dài Hoàn tất cuộc lữ trình lên đến đỉnh đồi cao Ôi! Tôi đã chạy đuổi chiêm bao Muốn vói bắt mảnh trăng trời nguyên thuỷ
08/12/201316:31(Xem: 3622)
Con người sở dĩ có một vị trí đặc biệt trong các chủng loại động vật, là nhờ có một nhận thức về tư duy và có một tâm thức về linh học. Từ khi con người hiện hữu trên tinh cầu, vấn đề nhận thức được hoàn thiện từ sơ cơ cho đến tinh tường là nhờ trao đổi thông tin, giao tiếp và xử lý nhiều vấn nạn.
26/10/201308:22(Xem: 29023)
Cuộc đời đức Phật là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều sử gia, triết gia, học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cổ, nhạc sĩ, họa sĩ, những nhà điêu khắc, nhà viết kịch, phim ảnh, sân khấu… Và hàng ngàn năm nay đã có vô số tác phẩm về cuộc đời đức Phật, hoặc mang tính lịch sử, khoa học hoặc phát xuất từ cảm hứng nghệ thuật, hoặc từ sự tôn kính thuần tín ngưỡng tôn giáo, đủ thể loại, nhiều tầm cỡ, đã có ảnh hưởng sâu xa trong tâm khảm biết bao độc giả, khán giả, khách hành hương chiêm bái và những người yêu thích thưởng ngoạn nghệ thuật.
17/06/201314:11(Xem: 5352)
Ý Nghĩa Phật Thành Đạo
18/05/201321:27(Xem: 2307)
Trong kinh điển Pāli không có dấu hiệu nào cho thấy Đức Phật đã từng biết đọc biết viết cả(26)của H.W. Schumann, là một luận điểm võ đoán, nếu không nói là chưa phản ánh đúng sự thật lịch sử. Gần mười năm trước, lần đầu tiên tiếp cận tác phẩm Đức Phật lịch sử(1)của H.W. Schumann qua bản dịch của cô Trần Phương Lan, cảm giác đầu tiên của chúng tôi là sự kính phục về độ uyên bác của tác phẩm cũng như sự dấn thân khoa học của bản thân tác giả. Lời giới thiệu tác phẩm của HT.Thích Thiện Châu trong bản dịch tiếng Việt cũng đồng quan điểm này, khi ngài cho rằng: H.W. Schumann đã dày công nghiên cứu và xây dựng hình ảnh của Đấng Giác Ngộ như một người sống thật trong khung cảnh thật của Ấn Độ cổ đại, với những nhận xét khách quan của một học giả nghiên cứu có hệ thống rõ ràng theo phương pháp khoa học. Cái nhìn của học giả H.W. Schumann về Đức Phật có vẻ khác lạ với quan niệm về Đức Phật của Phật tử Việt Nam, nhưng đó chính là điều bổ ích làm tăng giá trị của quyển sách trong sự đóng góp vào
10/04/201312:37(Xem: 3408)
Trong các buổi lễ tụng kinh cầu an, chư Tăng cũng như những người cận sự nam - nữ không thể thiếu bài kệ "Jayamangalagàthà - Bài kệ Hạnh phúc thù thắng". Bởi vì bài kệ này tán dương, ca tụng oai lực của Ðức Phật đã cảm thắng tám trường hợp xảy ra vô cùng khó khăn. Mỗi trường hợp Ðức Phật vận dụng mỗi pháp, không những để đối trị mà còn làm cho đối phương cảm phục phát sanh đức tin xin quy y nơi Tam bảo.
08/04/201316:28(Xem: 5635)
Cùng với thời gian vô cùng tận, không gian vô biên tế, cái đẹp cũng tồn tại với một ý nghĩa rất bao la mà con người khó có thể khám phá cho thật tường tận bằng tri thức của mình. Cuộc đời đức Phật là cả một lịch sử hùng tráng hướng đến tìm kiếm cái đẹp và xây dựng lý tưởng cái đẹp trong cuộc đời. Giáo lí được Ngài thiết lập là một hệ thống mỹ học thể nghiệm nội tại, có ý nghĩa vô cùng phong phú đối với đời sống nhân sinh.
08/04/201316:28(Xem: 3325)
Có một cuộc hành trình hùng tráng và vi diệu đã được thực hiện trong chính thế gian này mà lịch sử nhân loại đã đón chào và ghi nhận như một niềm tự hào về tư tưởng. Đây là một bản thiêng hùng ca hơn cả những sử thi huyền thoại vì mang giá trị thật hoàn toàn chứ không hề vẽ tô một chút sắc màu hư cấu. Đó chính là cuộc hành trình đi tìm nguồn sáng tâm linh của đức Phật.
08/04/201316:27(Xem: 3071)
Chẳng biết tự bao giờ, bài thơ ấy đã in sâu vào trong tâm khảm của tôi. Mỗi lần nhắc lại, tôi không sao tránh khỏi niềm cảm xúc trào dâng. Nửa thương cho người xưa, nửa buồn cho thân mình cũng nhiều nghiệp chướng, tại gia cha mẹ chia lìa, anh em phân tán, xuất gia quá đỗi muộn màng ! Vì sao ?