Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về Phật giáo ứng dụng (8)

11/01/201322:45(Xem: 2055)
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về Phật giáo ứng dụng (8)

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (8)
Tuệ Uyển chuyển ngữ
many-ways-to-nirvana_dalailama

HỎI: kính bạch Ngài, Ngài nói rằng tất cả những hiện tượng là đối tượng vôthường. Có phải tính tinh khiết, khôngchướng ngại của tâm thức cũng là đối tượng vô thường? Có phải tính bản nhiên của tâm thức là sinhvà tử không?

ĐÁP: Khi chúng ta nói về tính bản nhiên của tâmthức trong phạm trù Phật Giáo, chúng ta phải hiểu rằng nó có thể được hiểu trên hai trình độkhác nhau:

1- Trình độ căn bản của thực tại, nơi tính bản nhiên củatâm được hiểu trong dạng thức của tính không của nó của tính tồn tại vốn có, và

2- Sự liên hệ hay trình độ quy ước, điều liên hệ đến chỉlà phẩm chất của độ sáng, tri thức và kinh nghiệm.

Nếu câu hỏi ấy liên hệ đến tính tự nhiên quy ước của tâm thức, thế thì giống như tâm thức chính nó đi quamột tiến trình của đổi thay liên tục, tính tự nhiên của tâm cũng là nhưthế. Điều này đã chỉ rằng tính bản nhiêncủa tâm thức là một hiện tượng vô thường. Tuy vậy, nếu chúng ta hỏi về tính không của tâm, thế thì chúng ta cầnquan tâm rằng mặc dù tính không của tâm không là một hiện tượng tạm thời - điều ấy không là chủ thể của nguyên nhân và điều kiện - nó không thể được đặt ở vị trí của một đối tượng được đặt ra. Nói cách khác, tính không của tâm không thể tồn tại một cách độc lập với tự tâm của chính nó. Tính không của tâm không gì hơn là sự hoàntoàn thiếu vắng của bản chất bên trong, hay sự tồn tại cố hữu (vô tự tánh). Vì thế, như những tình trạng khác nhau củatâm thức đến và đi, những ví dụ mới của tính không của tâm cũng xuất hiện.

HỎI: Nếu có một niết bàn tự nhiên và tự nhiên nềntảng sáng rở, tinh khiết, thế thì điều gì là trước tiên đưa chúng ta chệchhướng khỏi sự quang minh tinh khiết ấy để cho chúng ta khổ đau vì nghiệp báo, ônhiễm, vô minh u tối và phiền não? Tại saochúng ta không thể duy trì trạng thái niết bàn tự nhiên rực sáng và tinhkhiết qua vòng sinh tử luân hồi?

ĐÁP: Khi Đạo Phật nói về nền tảng quang minh vàtinh khiết tự nhiên của tâm, hay ý thức, điều đang gợi ý là chúng ta có thểtịnh hóa những ô nhiễm khỏi căn bản của tâm, không phải là có một loại gì đấylà tình trạng nguyên thủy tinh khiết mà sau này trở nên bị nhiễm ô bởi cấubẩn. Thực tế, giống như sự liên tục củaý thức là không có bắt đầu, vọng tưởng của chúng ta cũng là không có bắtđầu. Cho đến khi nào sự liên tục của tâmthức chúng ta tồn tại, thì cũng có sự tiếp diễn liên tục của vọng tưởng – nhậnthức tồn tại cố hữu. Những hạt giống củavọng tưởng luôn luôn ở đó cùng với sự tiếp diễn của tâm thức.

Vì thế, kinh luận Phật Giáođôi khi đề cập đến vô minh bẩm sinh hay căn bản vô minh, điều là tự phát đồngthời với sự tiếp diễn của cá nhân. Chỉqua sự ứng dụng những phương pháp giải độc đối trị và thực tập thiền quán cóthể những vọng tưởng này được làm sạch khỏi tâm căn bản. Đây là ý nghĩa của sự tinh khiết tự nhiên.

Nếu chúng ta thể nghiệm tínhtự nhiên của tự tâm chúng ta, chúng ta sẽ nhận ra rằng những sự nhiễm ô, nhưnhững cảm xúc và tư tưởng khổ đau bắtnguồn trong một nhận thức sai lầm liên hệ đến thế giới, là thật sự không có nềntảng vững chắc. Cho dù phiền não mạnh mẻthế nào đi nữa, khi chúng ta trau dồi thuốc giải đối trị về tuệ quán chân thậttrong tự nhiên của thực tại, chúng sẽ bị tẩy trừ do bởi năng lực của sự tịnhhóa, và tịnh hóa sẽ làm hao mòn sự tiếp diễn của nhiễm ô. Tuy nhiên, không có điều gì có thể phá hoạicăn bản của tự tâm; không có điều gì thật sự có thể làm gián đoạn sự tiếp diễncủa ý thức. Sự tồn tại của thế giới củaý thức và kinh nghiệm khách quan là một sự kiện tự nhiên. Có ý thức. Có tâm thức. Không có năng lực gìcó thể ngưng dứt sự tiếp diễn của tinh thần.

Chúng ta có thể thấy sự songsong của điều này trong thế giới vật chất. Theo Phật Giáo thành phần căn bản của thế giới vĩ mô của thực tại vật lýlà điều chúng ta gọi là “hạt không gian” (vi trần), là thành phần vi tế nhấtcủa thực tại vật lý. Trên căn bản sựtiếp diễn của những hạt vi tế này mà sự tiến triển của vũ trụ đươc giảithích. Vũ trụ tiến triển thành từ trình độvi tế nhất của thực tại vật lý, duy trì trong một thời điểm nào đấy, rồi thì điđến sự kết thúc và tan rã. Toàn bộ tiếntrình hình thành và tan rã khởi lên từ trình độ vi tế của thực tại vật lý(thành, trụ, hoại, không).

Ở đây, chúng ta đang nói vềthế giới có thể nhận thức thấy và sờ mó được của thực tại vật lý mà chúng ta cóthể kinh nghiệm. Dĩ nhiên, trong thếgiới thực tại cứng đặc hằng ngày, sẽ có những năng lực phía dưới sự tồn tại củanó. Trình độ vi tế của thực tại vật lý,tuy thế, là được nhìn nhận như điều gì ấy tiếp diễn- không có bắt đầu hay kếtthúc. Từ quan điểm của Phật Giáo, khôngcó gì có thể đưa đến sự chấm dứt sự tiếp diễn thật sự ở trình độ vi tế của thựctại.

Tương tự như thế, có sự biểuhiện đa dạng của ý thức. Những điều nàybao gồm trình độ thô thiển hơn của kinh nghiệm cảm xúc và cảm giác, sự tồn tạicủa nó là tùy thuộc trên thực tại vật lý nào đấy, như môi trường không gian vàthời gian. Nhưng căn bản tiếp diễn của ýthức từ những trình độ thô thiển hơn của tâm thức khởi lên cũng không có bắtđầu hay kết thức; sự tiếp diễn của tâm căn bản duy trì và không có điều gì cóthể chấm dứt nó.

Nếu nhiễm ô có một sự bắtđầu, câu hỏi sẽ xuất hiện là, chúng đến từ nơi nào? Cũng giống như thế, Phật Giáo không thừa nhậnsự bắt đầu của ý thức, bởi vì làm thế sẽ có nhiều câu hỏi hơn nữa về điều gìđưa đến sự tạo nên nó. Như câu hỏi tạisao không có sự bắt đầu của ý thức, chúng ta có thể tranh cải điều này trên cănbản của sự tồn tại từ trước đến giờ của nó. Điều tranh cải thực sự, tuy thế, xuất phát từ một tiến trình của sự loạira, bởi vì nếu chúng ta thừa nhận một sự bắt đầu của ý thức, sự bắt đầu loạinào có thể là và nguyên nhân nào có thể là? Tranh cải cho một sự bắt đầu của ý thức sẽ phá hoại nền tảng của PhậtGiáo tin tưởng về luật nhân quả.

Trong một số kinh luận PhậtGiáo, tuy thế, chúng ta thấy những sự liên hệ đến Phật Phổ Hiền (BuddhaSamantabhadra)- một vị Phật căn bản luôn luôn thiện hảo và luôn luôn tinh khiết(từ ban sơ). Nhưng ở đây chúng ta phảihiểu nhận thức về ban sơ trong sự liên hệ đến từng khung cảnh riêng biệt. Trong sự hiểu biết này, tâm ban sơ căn bảncủa ánh sáng trong suốt được thấy như nguồn cội nguyên thủy của thế giới vĩ môcủa kinh nghiệm của chúng ta. Khi kinhđiển Kim Cương Thừa diễn tả quá trình tiến triển này, thí dụ, nó nói về sự tuầnhoàn đi tới và sự tuần hoàn đi lui.

Trong cả hai trường hợp, thếgiới của những hành động ý thức và tinh thần khác nhau khởi lên từ trình độ vitế hơn của ánh sáng trong suốt, điều rồi thì xuyên qua điều được biết như là“ba tầng bậc của sự xuất hiện”. Qua tiếntrình này, có một sự hiểu biết rằng mọi thứ khởi lên từ tự nhiên căn bản nàycủa tâm sáng suốt và trong sạch này và rồi thì hòa tan trong nó. Vì thế một lần nữa, sự hiểu biết của chúng talà nguyên bản này là trong khung cảnh của những thí dụ riêng biệt, không phảimột loại bắt đầu phổ quát nào đấy.

HỎI: Kính bạch Ngài, Ngài nói về những tu việnnhư Vikramashila[1],nơi có một tiêu chuẩn khó khăn về đạo đức và nơi mà ngay cả những đạo sư caocấp có thể bị đuổi vì phá vở một lời nguyện. Ngày nay, những vị rinpoche và những vị đạo sư cao cấp nào đấy đã liênhệ trong những loại tai tiếng khác nhau. Tại sao những tiêu chuẩn đạo đức ngày nay thì khác?

ĐÁP: Một điều cần được hiểu rõ rằng những cá nhânmà quý vị liên hệ đến không còn nằmtrong chế độ tu viện. Những người đã phávở lời nguyện của họ, đặc biệt một trong bốn trọng giới – tuyên bố chứng thánhquả sai lầm, cố tâm giết người, trộm cắp, và liên hệ trong dâm dục – sẽ tựnhiên bị đuổi khỏi tu viện. Họ sẽ bịđuổi ngay cả nếu có một nền tảng mạnhmẻ nghi ngờ rằng họ đã vi phạm những lờinguyện của họ. Điều áp dụng này ngày naycũng như ngày xưa. Tuy thế, một số đãphá vở lời nguyện của họ vẫn tìm những phương tiện xảo quyệt và không thànhthật để duy trì một số loại giá trị hay tầm vóc nào đấy.

Do vậy, chúng tôi luôn luônnhắc nhở tu sĩ nữ cũng như nam tại thời khắc họ vi phạm những lời nguyện giớiluật của họ, rằng họ không nên mặc chiếc áo của tu sĩ nữa. Điều áp dụng này bình đẳng cho mọi thành viêncủa bốn trường phái Phật Giáo Tây Tạng: Nyingma, Sakya, Kagyu, và Geluk. Trong truyền thống Phật Giáo Tây Tạng, tuy thế, có hai thể chế của hành giả - thể chế tu sĩvới những lời nguyện tu sĩ và thể chế của cư sĩ, họ mặc những y phục màu sắckhác nhau, họ không cạo đầu và chỉ tiếp nhận giới cư sĩ, hay biệt giới nguyện(pratimoksha vows).

HỎI: Nếu tôi không hiểu sai những gìNgài nói trước, phần thực tập tín cẩn nương tựa đạo sư là chỉ ra chỗ mà chúngta nghĩ vị thầy của chúng ta đã sai lầm. Thứ nhất, chúng ta làm gì khi gần như không thể nói lên sự bất đồng quanđiểm hay ý kiến đến vị thầy của mình bời vì những người ở chung quanh vị đạo sưcó khuynh hướng ngăn trở để bày tỏ những lời phê bình? Thứ hai, làm thế nào chúng ta hòa thuận khinắm lấy những quan điểm khác biệt một cách căn bản trên những vấn đề nào đấy từ những lời giảng dạy bởi vị đạo sư củamình?

ĐÁP: Nếu một vị đạo sư hay mộtvị thầy tâm linh đã làm điều gì đấy sai lầm mà cần thiết được chỉ ra, có thể cóhai loại động cơ cho những ai đấy ở chung quanh vị thầy – thí dụ như những thịgiả hay những vị đệ tử thân cận – cố gắng để che dấu nó hay phòng ngừa việcvạch trần nỏ ra hay chỉ nó ra đến vị thầy. Mặt khác, động cơ của họ có thể hoàn toàn vô tội, họ có thể chỉ đang cốgắng bảo vệ và hổ trợ vị thầy của họ. Những động cơ như thế là kết quả của mù quáng hơn là một sự vận động chủtâm của hoàn cảnh. Tuy thế, ngay cả nếutrường hợp ấy, vẫn có sự nguy hiểm có thể tổn hại vị thầy, thực tế, thành ngữTây Tạng nói rằng 'những đệ tử sốt sắng sùng kínhcó thể biến một vị thầy đúng đắn thành một người sai lầm'.

Mặt khác, động cơcủa những người thị giả và những người đệ tử thân cận có thể là thế gian hơn –họ có thể không muốn làm cho những việc làm sai trái của thầy họ công cộng hóavì sợ tổn hại đến danh dự của vị ấy. Điều này hoàn toàn sai, và chúng ta phải tìm một cách biểu lộ sự quantâm của chúng ta đến vị thầy của mình. Tuy thế, cũng rất quan trọng để bảo đảm rằng động cơ của chính chúng talà trong sạch. Chúng ta không nên hànhđộng vì thù địch đến vị thầy mình hay đơn giản chỉ vì mong muốn biểu lộ sựkhông hài lòng của chúng ta. Như tuyênbố của những lời giáo huấn Đại Thừa, chúng ta phải bảo đảm rằng mọi thứ mà vịthầy của mình giảng dạy phù hợp với những lời giáo huấn của Đức Phật. Chúng ta cũng phải thực hành phương châm củasự nương tựa trên lời giáo huấn mà không phải là cá nhân vị ấy (y pháp bất ynhân). ­­

Để trả lời chocâu hỏi thứ hai, không chắc rằng ông (hay bà) không đồng ý với thầy của mìnhtrên mỗi vấn đề đơn lẻ. Điều đó hầu nhưkhông có thể xảy ra. Về cơ bản, chúng tanên tiếp nhận và thực hành những lời dạy phù hợp với căn bản giáo huấn của ĐứcPhật và đừng để ý đến những điều không phù hợp.

HỎI: Chúng tôi có cần một vị đạo sư đểđạt đến giác ngộ hay chi học hỏi giáo Pháp , sống một cuộc đời đạo đức,tham dự các khóa thuyết giảng và thực hành thiền quán là đủ?

ĐÁP: Dĩ nhiên có thể thựchành, học hỏi, và hướng một đời sống đạođức mà không thật sự cần một vị đạo sư. Tuy nhiên, chúng ta nên hiểu rằng khi chúng ta nói về giác ngộ, chúng takhông phải nói về điều gì ấy mà có thể được đạt đến trong vài năm mà là về mộtnguyện vọng tâm linh, và điều ấy trong một số trường hợp có thể cần đến nhiềukiếp sống và khoảng thời gian vô tận. Nếu chúng ta không thể tìm ra một vị thầy đủ khả năng, người mà chúng tacó thể giao phó sự cát tường tâm linh của mình, thế thì dĩ nhiên, để giao phótự thân đến những lời dạy về giáo Pháp thật sự và sự thực hành trên căn bản ấylà có hiệu quả hơn.

Chúng tôi có thểkể một câu chuyện liên quan về điều này. Dromtönpa làmột vị đạo sư tâm linh lớn người thật sự là hiện thân của những lời giáo huấnvị tha của sự trao đổi lợi ích bản thân và những người khác. Thực tế, cuộc đời sau này của ngài, ngài tựdâng hiến mình để phục vụ những người khổ đau vì bệnh phong hủi. Ngài sống với họ và cuối cùng đánh mất đờisống chính ngài với chứng bệnh ấy.

Khi Dromtönpa nằm chờ chết, đầu ngài nằmtrên đầu gối một trong những người đệ tử lớn của ngài, Potowa, và thấy Potowađang khóc. Rồi thì Potowa nói rằng, “Saukhi thầy viên tịch, chúng con có thể giao phó sự cát tường tâm linh của chúngcon cho ai? Chúng con có thể xem ai nhưthầy của chúng con?” Dromtönpa trả lời,“Đừng lo lắng. Các con vẫn còn có một vịthầy sau khi ta ra đi – Tam tạng kinh điển, là những lời dạy của Đức Phật. Hãy giao phó chính mình cho Tam tạng kinhđiển, và lấy Tam tạng như thầy của cáccon.”

Tuy vậy, khichúng ta tiến hành theo con đường tâm linh, tại mỗi thời điểm chúng ta chắcchắn sẽ gặp một vị thầy thích hợp và đúng lúc.

HỎI: Nhiều kinh luận diễn tả mục tiêucủa hành giả như chính là Phật quả, tuy thế trong những pháp sư phương tây ởđấy dường như là có khuynh hướng đối với việc chấp nhận những kếtquả từng phấn, giống như Phật quả là điều không thể đạt đến. Thái độ mới này là chấp nhận tâm luân hồingắt quảng bằng những giai đoạn tâm linh và dường như được đặt căn cứ trên sựbất lực để đạt đến sự giải thoát hoàn toàn cho chính họ của những vị thầy mẫncán. Có phải tìm kiếm Phật quả trongđời sống này vẫn có thể làm được trong điều mà Đức Phật tuyên bố là thời kỳ đentối (mạt pháp) của Phật giáo?

ĐÁP: Nếu chúng ta hiểu tiếntrình để đạt đến Phật quả từ nhận thức Đại Thừa phổ quát, sự đạt đến Phật quảtrong thời gian ba vô số kiếp (ba a tăng kỳ kiếp) được nói là một quan điểmnhanh chóng. Một số kinh luận nói đếnbốn mươi a tăng kỳ kiếp. Tuy nhiên, theonhững giáo huấn Kim Cương Thừa phổ thông, những hành giả với những trình độnhận thức cao (chứng pháp) có thể kéo dài tuổi thọ tối đa của họ và đạt đếnPhật quả chỉ trong một kiếp sống. Giáo huấn Tantra Yoga Tối Thượng nhận địnhrằng thậm chí trong đời sống ngắn ngủi của con người, có thể có những sự giácngộ hoàn toàn hiện hữu.

Cũng có ý kiếncủa một số chúng sinh có thể đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn sau một khóa tu tậpba năm, điều này quá khác với sự tuyên truyền của cộng sản Hoa Lục. Chúng tôi bình phẩm điều này một phần nhưđùa, nhưng một phần hoàn toàn nghiêm chỉnh –thời gian chúng ta dự đoán càngngắn, hiểm họa đánh mất can đảm và nhiệt tình càng gia tăng. Bỏ qua một bên câu hỏi sẽ mất ba hay bốn mươia tăng kỳ kiếp để đạt đến giác ngộ, khi chúng ta trau dồi một cách sâu xa nhữngquan điểm (cảm xúc) đầy năng lực như thế những điều ấy trùng hợp với lời nguyệncầu của tôn giả Tịch Thiên (Shantideva),

Cho đến khi nào không giancòn tồn tại

Cho đến khi nào vẫn cònchúng sinh

Cho đến lúc ấy, nguyện chotôi vẫn hiện hữu

Để xua tan khổ đau cho trầnthế.

Thời gian hoàntoàn không liên quan, chúng đang nghĩ trong những hình thức của vô tận (khôngbờ bến). Cũng thế, khi chúng ta đọc kinhđiển Đại Thừa đường đi qua gắn liền với sự thực hành Bồ Tát Đạo của điều gọi làáo giáp nhẫn nhục, một lần nữa thời gian chẳng có ý nghĩa. Đây là những quan điểm can trường và cảm hứngvô cùng tận.

HỎI: Nếu một người bị mắc phải một loạibệnh hoạn và liên lụy một hành động giết người, người ấy có thể làm gì để tịnhhóa nghiệp ấy?

ĐÁP: Nếu bởi “bệnh hoạn” trongý nghĩa một loại quấy rầy về tâm lý hay cảm xúc mà nó đưa đến tình trạng mấttrí, thế thì từ quan điểm đạo đức của Phật giáo, một hành động như vậy chứađựng ít nghiệp quả hơn là một sự liên lụy giết người có tính toán trước với mộtnhận thức đầy đủ về những hậu quả. Nócũng nhẹ hơn là một sự liên lụy giết người xảy ra bởi những cảm xúc tiêu cực cótác động mạnh, điều này, xét cho cùng từ quan điểm đạo đức của Phật giáo, nó cũngđược xem là một hành động giết người hoàn toàn.

Tuy thế, bất cứtính tự nhiên của hành động không đạo đức là gì, sự thực hành của chúng ta nênlàm để tịnh hóa ác nghiệp là phổ biến và phải chứa đựng bốn năng lực đối trị. Khi thực tập năng lực của ăn năn hối quá, hãy nhớ đối tượng mà hành độngnhắm đến, và, áp dụng tất cả bốn năng lực (đối trị), liên hệ trong những hànhđộng đạo đức, chẳng hạn như thiền tập thâm sâu trên tính không hay tâm giác ngộ(bồ đề tâm-bodhicitta). Cũng có một những sự thực hành tịnh hóa phổ thông cũng để áp dụng trongnhững trường hợp như thế. Nếu chúng takhông thể trau dồi bốn năng lực và tiếnhành trong một hành động của tịnh hóa, một hành động xen kẻ đơn giản là trìtụng thần chú hay tiến hành trong một số hành động tích cực khác với xu hướngcủa tịnh hóa những hành vi nghiệp chướng.

HỎI: Với kiến thức của chúng ta vềnghiệp báo và ảnh hưởng của những hành vi tốt hay xấu, một người Phật tử đối xửthế nào đối với những tội phạm?

ĐÁP: Từ quan điểm của Phậtgiáo, điều quan trọng là phân biệt giữa hành vi và cá nhân người liên lụy vàonó. Chúng ta có thể hoàn toàn không chấpnhận hành vi đó nhưng chúng ta phải duy trì từ bi đối với cá nhân làm việc đó,luôn luôn nhận thức khả năng của con người cho sự chuyển hóa và sửa đổi. Bất cứ phương pháp nào mà xã hôi dùng nhưmột phương tiện điều chỉnh cần thiết để được áp dụng. Tuy nhiên, cá nhân cần thiết được điều chỉnhtrong một cách mà người ấy học hỏi để nhận ra rằng những gì họ làm là sai lầm; do thế, bản án tử hình là ngoàilề. Ngay cả ý tưởng tù chung thân cũngphải bàn lại, bởi vì nó cũng thất bại để nhận ra khả năng của sự sửa đổi.

HỎI: Ngài nói rằng những phiền não cảm xúc lànguyên nhân của khổ đau. Vậy chúng ta cóthể loại trừ phiền não mà không mất đi cảm xúc của chúng ta được không?

ĐÁP: Một cách chắc chắn. Thí dụ, một trong những loại thuốc giải hayđối trị đến những cảm xúc phiền não làthiền tập trên tính không. Khi chúng tađào sâu kinh nghiệm của chúng ta về tính không, chúng ta được một sự dấy lênđầy năng lực của cảm xúc, điều mà tự hành động của nó chống lại những cảm xúctiêu cực hay đau khổ. Chúng ta cũng tìmtrong những sự đối trị (thuốc giải) trong sự thực tập Phật giáo đặc thù đếntừng loại rắc rối. Thí dụ, chúng tathiền tập trên yêu thương ân cần hay từ bi để đối trị với thù ghét và căm hận,và trên tính vô thường để chống lại sựvướng mắc luyến ái mạnh mẻ. Nói cáchkhác, cảm xúc về yêu thương được phát sinh như một sự đối trị với sân hận vàkinh nghiệm về vô thường như một loại thuốc giải đối với vướng mắc hay chấptrước.

Một sự khác biệtgiữa những cảm xúc tàn phá tiêu cực trên một phía và những cảm xúc xây dựng, tích cực trên phía kia đấy là nhữngcảm xúc xây dựng, tích cực có một nền tảng mạnh mẻ trong kinh nghiệm vững chắccó căn cứ và lý trí. Thực tế, nếu chúngta càng phân tích những cảm xúc tích cực, chúng càng nổi bật hơn. Những cảm xúc tiêu cực và tàn phá, trái lạithường là hoàn toàn nông cạn ở bề mặt. Chúng không có nền tảng trong lý trí và thường phát khởi ra bởi thóiquen hơn là những tiến trình tư tưởng của lý trí.

HỎI: Có phải từ bi yêuthương làm giảm hiệu quả của đớn đau và khổ sở trong cũng giống như ánh sángxua tan bóng đêm không?

ĐÁP: Có lẻ sự song song khônggần gũi như thế, bởi vì ánh sáng xua tan bóng tối một cách trực tiếp và lậptức; bóng tối bị biến mất ngay thời điểm chúng ta mở đèn. Tác động của yêu thương trên đau đớn và khổsở thì phức tạp và gián tiếp hơn. Khichúng ta trau dồi yêu thương và từ bi, chúng đẩy tăng lên sức mạnh và can đảmcho chúng ta, cho phép cho chúng ta trở nên bao dung kiên nhẫn và có thể chịuđựng sự gian khổ thử thách. Điều nàychính là yêu thương đã giúp chúng ta đối phó và vượt thắng đau thương và khổ sở. Nó là một mối liên hệ không trực tiếp.

Tríchtừ Illuminatingthe Path to Enlightenment
Ẩn Tâm Lộ ngày 10-01-2013
http://www.lamayeshe.com/index.php?sect=article&id=398&chid=1019



[1]Vikramasila(skt): Một trong bốn tu viện lớn nhất tại Ấn Độ dưới thời Hoàng Đế Dharmapala.Vào thời đó Nalanda, Uddantapuri (Bihar Sharif), Vajrasana, và Vikramasila làbốn tu viện lớn nhất. Trong số nầy, tu viện Vikramasila là quan trọng hơn cả và có nguồn gốc khá đặcbiệt. Hoàng đế Dharmapala của triều đại Pala trong một chuyến tuần du các vùngđất nầy rất say mê khi nhìn thấy một ngọn đồi nhỏ xinh xinh bên bờ sông Hằng,nên đã quyết định cho lập một tu viện tại đây. Tu viện nầy có lẽ được xây vàocuối thế kỷ thứ 8, đã phát triển thành một trung tâm văn hóa lớn hai trăm nămmươi năm sau đó. Số Tăng sinh từ các nước ngoài đến đây tu học đông hơn ở NaLan Đà. Trong số các giảng sư ở Vikramasila có 108 học giả, 8 nhà bác học nổitiếng, và đại học giả Ratnakarasanti, viện trưởng tu viện. Trong số các học giảnổi tiếng của tu viện gồm có Santibhadra, Maitripa (Avadhutipa), DombipaSthavirabhadram, Smrtyakara-Siddha, và Dipankara-Srijnana. Tại trung tâm tuviện có một ngôi đền xinh xắn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, bên cạnh đó là 53 ngôiđền lớn nhỏ. Trong số các vị thần và nữ thần được thờ trong các ngôi đền nầy,có một số tượng Mật tông. Ba tu viện kia cũng thuộc lãnh thổ của triều đạiPala, vốn có quan hệ đặc biệt với Vikramasila. Tám mươi bốn vị Siddha đều sốngdưới các triều Pala (765-1200) và hầu hết những vị nầy đều có liên hệ vớiVikramasila. Theo các tác giả Tây Tạng thì phái Mật tông hoặc tu việnVikramasila đã làm cho quân Thổ Nhĩ Kỳ phải nhiều phen trốn chạy bằng cách niệmthần chú, nhưng lịch sử không nói đến điều nầy. (Từ Điển Phật Học Thiện Phúc)

Đức Dalai Lama nói về Phậtgiáo ứng dụng (1)

Đức Dalai Lama nói về Phậtgiáo ứng dụng (2)

Đức Dalai Lama nói về Phậtgiáo ứng dụng (3)

Đức Dalai Lama nói về Phậtgiáo ứng dụng (4)

Đức Dalai Lama nói về Phật giáo ứng dụng (5)

Đức Dalai Lama nói về Phật giáo ứng dụng (6)

Đức Dalai Lama nói về Phật giáo ứng dụng (7)

Đức Dalai Lama nói về Phật giáo ứng dụng (8)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn