Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Khai Thị Phật Học Cơ Bản (Phần Cuối)

10/01/201308:35(Xem: 948)
Khai Thị Phật Học Cơ Bản (Phần Cuối)

KHAI THỊ PHẬT HỌC CƠ BẢN (PHẦN CUỐI)

PhápSư Tịnh Không

5. Vấn đề thứ năm, câu hỏi “Trong xã hội hiện đại, mật tông, thiền tôngđều rất thịnh hành. Mật tông thì nói ‘tức thân thành Phật’, thiền tông lại nói‘minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật’, vậy rốt cuộc việc thành Phật là nhưthế nào”?

Chữ “Phật” là từ âm tiếng Phạn Ấn Độmà dịch ra, kỳ thật chữ này có thể đem dịch sang Trung văn, nhưng tại sao lạikhông dịch? Vì trong trung tâm dịch kinh thời xưa quan niệm có năm loại khôngdịch. Từ này thuộc về lòng tôn kính nên không dịch. Chỉ có thể dịch âm, ý nghĩalà trí tuệ, giác ngộ. Tuy nhiên hàm ý trong danh từ “Phật” vượt ra ngoài lýgiải của chúng ta. Trí tuệ của ngài là trí tuệ viên mãn, giác ngộ của ngài làtriệt để giác ngộ. Nói cách khác, đối với cả vũ trụ nhân sinh, thậm chí đến quákhứ vị lai, chân thật không gì không biết, không gì không giác. Phải đạt đếncảnh giới như vậy mới gọi là thành Phật.

Nếu các vị hiểu rõ hàm ý của chữPhật này thì liền biết “tức thân thành Phật” của mật tông có thể thành được haykhông? Ngay trong đời hiện tại, hoặc trong thời gian tu học ngắn ngủi của bạn,bạn có thể tường tận thông suốt được chân tướng của vũ trụ nhân sinh hay không?không hề tường tận là không thể thành Phật. Lời nói của thiền tông so với “tứcthân thành Phật” của mật tông, tôi cảm thấy ý nói tiến bộ thêm một chút. Vì nócó điều kiện, điều kiện là minh tâm kiến tánh, kiến tánh mới thành Phật. Ai cóthể đạt đến được minh tâm? . Do đây mà biết, tâm chúng ta không minh, hiện tạitâm này bị mê hoặc. Yêu cầu tu học của thiền tông là phá trừ mê hoặc, hồi phụctự tánh. Khi mê, Phật pháp gọi là “tâm”, khi giác ngộ thì gọi là “tánh”. Các vịphải biết “tâm” cùng “tánh” là một thể. Nếu tâm sáng suốt thì gọi là bổn tánh,nhà Phật gọi là “chân như”. Lúc nào bạn đã kiến tánh, minh tâm thì lúc đó gọibạn là Phật, bạn không còn là phàm phu nữa. Khác biệt giữa phàm phu và Phật ởchỗ này. Phàm phu chúng ta phải mặc áo ăn cơm, Phật Bồ tát cũng mặc áo ăn cơm;phàm phu chúng ta có công việc, Phật Bồ tát mỗi ngày cũng làm việc, trên sựtướng thì không hề khác nhau, khác biệt chính là cảnh giới. Họ có trí tuệ chânthật, chân thật không gì không biết, không gì không thể. Nếu chúng ta hiểu rõthì liền hiểu được hai câu nói này.

Tuy trong kinh luận, trong chú sớcủa đại đức xưa có, nhưng trên thực tế thì tuyệt đối không phải người thôngthường có thể làm được. Nói đến “tức thân thành Phật” của mật tông, trong VănSao của Ấn Quang đại sư đã nói rất rõ ràng, chúng ta không cần phải bàn nhiều.Trước khi lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ vãng sanh không lâu, tôi có gặp ông, ông cũnglà truyền nhân của mật tông, bản thân ông là Kim Cang Thượng sư. Ông rất thànhthật nói với tôi: “vào thời đại này, căn cơ để học mật đã không còn nữa”, nóicách khác, học mật nếu muốn ngay đời này thành tựu thì không thể tìm ra. Mậttông không thể thành tựu, thiền tông cũng rất khó tương tự. Kinh Đại Tập, Phậtnói: “Thời kỳ mạt pháp chỉ có pháp môn tịnh độ đới nghiệp vãng sanh”, pháp nàydễ dàng thành tựu, hơn nữa còn thành tựu ổn định. Chúng ta tuân theo lời giáohuấn của Phật Thích Ca Mâu Ni chính là học sinh tốt của Phật, chăm chỉ nỗ lựcniệm Phật, y theo ba kinh một luận của tịnh độ mà tu tập, tương lai nhất địnhcó kết quả tốt đẹp.

Từ xưa đến nay, niệm Phật vãng sanhđã có rất nhiều tướng lạ không thể nghĩ bàn. Những người này biểu hiện rõ ràngđể chúng ta xem. Mật tông “tức thân thành Phật”, chúng ta chưa hề thấy qua,cũng không hề nghe nói. Lão cư sĩ Hòang Niệm Tổ cũng không dám nói mình “tứcthân thành Phật”. Lão pháp sư Đàm Hư sống đến hơn chín mươi tuổi mới vãng sanh.Sinh tiền ông nói với người rằng ông gặp qua rất nhiều vị thiện tri thức củathiền tông, gặp qua người có được thiền định, nhưng chưa gặp qua người khaingộ, cũng chính là người “minh tâm kiến tánh”. Không những không thấy qua màcòn không hề nghe nói. Do đây có thể biết, mật và thiền rất khó, tuyệt đốikhông phải người thông thường có thể thành tựu.

Đại sư tổ thứ sáu thiền tông nói rấthay, đối tượng mà ngài tiếp dẫn là người thượng thượng căn. Chúng ta tự nghĩxem mình có căn khí thượng thượng căn hay không?. Thế nào gọi là thượng thượngcăn? phiền não nhẹ, trí tuệ lớn. Nói cách khác, vọng tưởng, phân biệt, chấptrước rất ít; sáu căn thông lợi, mắt vừa thấy, tai vừa nghe, thân vừa tiếp xúcliền thông đạt, liền thông suốt, hơn nữa không có sai lầm. Căn tánh như vậy mớixem là người thượng thượng căn, bạn mới có duyên phận tiếp nhận tu học pháp mônnày.

Điều kiện của mật tông thì cao hơn.Trong kinh đại thừa, mật tông nói “tức thân thành Phật”, lời nói này cũng khôngphải giả, học Phật không học mật nhất định không thể thành Phật, có thể thấyđược mật rất quan trọng. Mật không phải là bí mật, Phật pháp không có bí mật.Phàm có bí mật, thì đó không phải là việc tốt, tại sao? vì không thể nói vớingười thì sao là việc tốt được. Phật pháp nói cái mật này là thâm mật, khôngphải thiển trí, không phải người huệ ít mà có thể lãnh ngộ, cho nên gọi nó làmật. Vậy lúc nào mới có thể chính thức bắt đầu học mật?, pháp đại thừa nói, khithành Bát Địa Bồ Tát. Liệu bạn đang là Bồ tát địa thứ mấy? Bồ Tát Bát Địa chínhthức học mật vì họ đã chứng được bất động địa.

Thông thường chúng ta nói tu hànhthành Phật cần phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp, người hiện đại gọi con số nàylà con số thiên văn, không phải tính từ hiện tại, cũng không tính từ đời đờikiếp kiếp trong quá khứ của chúng ta, mà tính từ ngày bạn phá được nhất phẩm vôminh, thấy một phần chân tánh. Rõ ràng hơn, nếu bạn đoạn kiến tư phiền não,siêu việt sáu cõi luân hồi, chứng được quả A La Hán, đã là rất tốt, vậy cũngkhông tính. Bạn có thể tiến thêm một bước, phá trần sa vô minh siêu việt mườipháp giới, vẫn chưa tính. Cần phải tiến thêm một bước nữa, phá nhất phẩm vôminh, chứng một phần pháp thân, lúc đó bắt đầu tính từ ngày này, thực tế chínhlà bốn mươi mốt vị pháp thân đại sĩ mà kinh Hoa Nghiêm đã nói. Ba a tăng kỳkiếp là nói đối với họ, không phải nói với chúng ta, chúng ta không có phần.

Một a tăng kỳ kiếp tu mãn ba mươingôi thứ, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, đây là Viên Giáo. A tăng kỳ kiếpthứ hai tu mãn bảy ngôi thứ, từ sơ địa đến thất địa. A tăng kỳ kiếp thứ ba tumãn ba ngôi thứ, bát địa, cửu địa, thập địa, càng lên cao, càng khó khăn. VậyBồ tát Bát Địa, việc tu hành của họ đã tiến vào thời kỳ đầu của ba a tăng kỳkiếp, lúc này họ mới chính thức học mật, làm gì có phần của chúng ta. Không thểnói truyền cho bạn mấy câu chú, ngày ngày trì chú, học vài thủ ấn thì gọi làhọc mật. Đó chỉ là hình thức của mật, không phải thật. Những thường thức nàychúng ta nhất định phải hiểu, về sau mới không sanh ra quan niệm sai lầm.

6. Vấn đề thứ sáu, những năm gần đây trong lẫn ngoài nước, thời gian tôi ởtương đối ít, phần nhiều thời gian đều ở nước ngoài, nhất là nước Mỹ, tôithường nghe các đồng tu nói, có một vị pháp sư, một vị đại đức, một vị Lạt Manào đó tự xưng họ chính là Bồ tát tái sanh, Phật tái sanh. Người ta đến hỏi tôirằng những lời nói này rốt cuộc thật hay giả.

Thực tế họ đã hỏi sai người, tôi làmsao biết được. Nếu tôi biết được thì chẳng phải tôi đã thành Phật rồi. Tôi chưathành Phật, làm sao tôi biết họ thành Phật; tôi không phải là đại Bồ tát táisanh thì làm sao tôi biết họ là đại Bồ tát tái sanh. Do đó, những truyền thuyếtnày đã mê hoặc rất nhiều đồng tu học Phật trong xã hội, đặc biệt là sơ học.Thậm chí không chỉ sơ học, ngay đến lão tu cũng bị họ mê hoặc. Tuy không biếthọ là thật hay giả, nhưng trên kinh Phật có thuyết minh, chư Phật Bồ tát ứnghóa ở thế gian này đích thực rất nhiều. Khi chúng sanh có khổ nạn to lớn, chưPhật Bồ tát đại từ đại bi ứng hóa ở thế gian, cùng hòa mình với tất cả đạichúng, không nhất định dùng thân phận gì. Giống như trong Phổ Môn Phẩm đã nói,Bồ tát Quán Thế Âm hiện ba mươi hai tướng, nên dùng thân gì để độ, ngài liềnhiện ra thân đó, nam nữ già trẻ, trong các nghề nghiệp đều có Phật Bồ tát hóathân.

Thế nhưng có một nguyên tắc, họ nhấtđịnh không để lộ ra thân phận, nếu lộ ra thân phận, họ lập tức phải ra đi,không thể lưu lại thế gian này. Việc này chúng ta đã xem thấy trong lịch sử,thân phận vừa lộ, mọi người biết, họ liền ra đi, đó chính là thật. Còn nếu nóithân phận lộ ra mà họ vẫn không đi, thì việc này trở nên kỳ lạ, không hề tươngưng với kinh, do đó mà biết không phải thật. Không phải thật chính là giả mạoPhật Bồ tát lừa gạt chúng sanh, thu danh vọng lợi dưỡng, tạo tội nghiệp. Chúngta hiểu những thường thức này thì sẽ không đến nỗi bị lừa.

Gần đây nhất, mọi người mới biết đạisư Ấn Quang là Bồ tát Đại Thế Chí hóa thân tái sanh. Bạn xem hành nghiệp cả đờingài cùng với người phổ thông phàm tục không hề khác biệt. Thế nhưng xem việctu hành của ngài, xem ngài giáo hóa chúng sanh, đích thực rất tương ưng vớinguyên lý nguyên tắc trong Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương. Việc ngài làBồ Tát Đại Thế Chí tái sanh do một vị cư sĩ nói trong sách Vĩnh Tư Tập. Trướckhi đại sư vãng sanh bốn năm, lúc đó vị cư sĩ này là một học sinh sơ trung,chưa hề tiếp xúc Phật giáo cũng không tin Phật giáo. Cô gặp qua một giấc mộngthấy Bồ Tát Quán Thế Âm mặc áo trắng nói với cô rằng, Bồ Tát Đại Thế Chí đanggiảng kinh thuyết pháp tại Thượng Hải, khuyên cô đi nghe. Cô hỏi: “Vị nào làĐại Thế Chí Bồ Tát?”. Ngài liền nói: “Vị ấy là pháp sư Ấn Quang”. Sau đó cả nhàđi gặp pháp sư Ấn Quang, đem sự việc nằm mộng nhìn thấy được nói ra. Pháp sư ẤnQuang mắng cô một trận vì tội yêu ngôn hoặc chúng, về sau không được phép nóinữa, nếu nói nữa thì cô đừng đến chỗ ngài. Cô mất hồn không dám nói nữa. Bốnnăm sau, Ấn Quang đại sư vãng sanh, cô mới đem việc này công bố ra.

Cho nên chân thật là người tái sanhnhất định sẽ không để bộc lộ thân phận. Bộc lộ thân phận mà không đi, là có vấnđề. Pháp sư Ấn Quang một mực phủ nhận, làm gì có việc tự mình xưng là Phật BồTát tái sanh. Chúng ta phải cẩn thận để ứng phó.

7. Vấn đề thứ bảy, xã hội lưu hành phổ biến tập tục cúng bái. Ở Đài Loan,phương Nam Trung Quốc từ xưa thường chọn ngày mùng một, và mười lăm đi lễ chùa,mục đích cầu phước, cầu khỏe mạnh sống lâu, thăng quan phát tài. Có hiệu quảkhông?

Những sự lý này, bình thường tronglúc giảng kinh chúng ta đều đã nói qua nhiều lần. Xin nói với các vị, không cóhiệu quả. Tuyệt đối không phải bạn đi bái lạy thì chân thật có thể tiêu taiđược phước, làm gì dễ đến vậy. Chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý nhân quả.Tai nạn có nhân duyên của tai nạn, phước đức có nhân duyên của phước đức. Trồngnhân thiện nhất định được quả thiện, viễn ly tất cả nhân ác thì bạn sẽ khônggặp phải tai nạn. Nhân duyên quả báo là chân lý, chúng ta phải tin tưởng.

Người thế gian, đặc biệt là nhữngquốc gia đang mở cửa, đời sống nhân dân giàu có, khi giàu có thì tăng thêm lòngtham sân si. Trước tiên là phải cầu sống lâu, cầu không già, Tần Thủy Hoàng,Hán Võ Đế thời xưa cầu sống lâu không già, hiện tại nhân gian cũng đều đangmong cầu sống lâu không già, nhưng có thể cầu được hay không? Tần Thủy Hoàngchết rồi, Hán Võ Đế cũng chết rồi, chúng ta phải tin tưởng sanh ra thì nhấtđịnh phải chết, ai có thể thoát được cửa này.

Xã hội hiện tại xem tướng, đoánmạng, xem phong thủy thì làm ăn sẽ đặc biệt hưng vượng. Tướng mạng phong thủycó hay không? đích thực là có, tướng mạng là số, phong thủy là hoàn cảnh cưtrú. Người thông thường không có sức định, không có trí tuệ, tâm tùy cảnhchuyển, cho nên hoàn cảnh cư trú ảnh hưởng tâm trạng của họ, vậy thì hoàn cảnhcư trú không thể không xem trọng, không thể không chọn lựa. Nhưng tốt xấu củaphong thủy thì tuyệt nhiên không hề nhất định, ông này ở đây thì rất tốt, ôngkia ở đây lại chưa hẳn thích hợp. Do đây mà biết, hoàn cảnh cư trú đều do nhâncủa người mà khác nhau, nó không cố định.

Ngạn ngữ có câu “Người phước ở đấtphước, đất phước người phước ở”, lời nói này rất có đạo lý. Nếu bạn chân thậtcó phước báu, phong thủy nơi bạn ở vốn dĩ không tốt, nó tự nhiên sẽ đổi tốt, cảnhtùy tâm chuyển, việc này Phật đã nói. Cảnh chính là phong thủy, là hoàn cảnh cưtrú, tùy theo tâm chuyển. Chúng ta nương vào nguyên tắc này để xem hoàn cảnhđịa cầu của chúng ta hôm nay, đại hoàn cảnh mà chúng ta đang cư trú. Tâm ngườihiện tại tham sân si mạn đang gia tăng tốc độ, làm cho đại hoàn cảnh của chúngta vốn dĩ tốt đẹp, nhưng hiện tại đã bị tàn phá, đây không phải là phong thủytùy theo tâm chuyển hay sao?. Đại hoàn cảnh mà như vậy, thì hoàn cảnh nhỏ cũngkhông ngoại lệ.

Kim Sơn Hoạt Phật là pháp sư DiệuThiện, chùa Kim Sơn Trấn Giang đầu năm dân quốc, con người này khi còn ở đời,hình tướng của ngài gần giống Tế Công Trưởng lão thời xưa, biểu hiện khùngkhùng điên điên, nhưng lời ngài nói, việc ngài làm, chân thật là sự nghiệp NhưLai. Ngài đã từng có một đoạn nói đến việc đoán mạng: “Tiên sinh đoán mạng,ngay đến mạng của chính mình cũng không biết thì làm sao có thể biết được mạngcủa người khác”. Họ làm nghề xem tướng đoán mạng vì muốn kiếm tiền sinh sốngthì họ làm gì đoán đúng được. Đoán mạng chuẩn xác chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni,ngài là bậc cao minh đoán rất chuẩn. Ngài kết luận, không nên tin tưởng mạng,phải tin tưởng nghiệp, vì mạng do nghiệp tạo. Không làm việc ác, mạng của bạnliền sẽ tốt; còn bạn không ngừng tạo ác, vẫn hại người lợi mình mà còn mongmạng mình tốt, làm gì có đạo lý này. Chúng ta trong lúc giảng kinh cũng thườnghay nhắc nhở đồng tu, hại người nhất định không thể lợi mình. Chỉ cần bạn bìnhlặng quan sát từ lịch sử đến xã hội hiện đại, phàm hễ làm những việc hại ngườilợi mình, đến sau cùng đều thất bại thê thảm, Phật pháp gọi là “báo ứng hiệnđời”. Còn quả báo đời sau thì nhất định ở ba đường khổ, còn gì khổ hơn?

Chân thật lợi mình chính là lợingười. Bạn lợi ích chúng sanh càng nhiều thì lợi ích chính mình cũng sẽ càng tolớn. Cho nên người thông minh, người có trí tuệ luôn chân thật cầu lợi ích chomình. Phương pháp tự lợi là toàn tâm toàn lực lợi ích chúng sanh, lợi ích xãhội. Thánh hiền thế xuất thế gian thường dạy bảo chúng ta như vậy, chúng taphải nghiêm túc tư duy mà thể hội, sau đó liền sẽ tiếp nhận và y giáo phụnghành. Pháp sư Diệu Thiện nói: “chúng ta phải tin tưởng nghiệp, không cần longhĩ đến vấn đề vận mạng”, không cần thiết phải xem tướng đoán mạng cũng khôngcần phải xem phong thủy.

Nếu trong hoàn cảnh cư trú này, bạncảm thấy rất tốt thì đó chính là phong thủy tốt, thích hợp với bạn. Bày trígường đơn, bàn ghế sao cho thích hợp, bạn cảm thấy thoái mái chính là phongthủy tốt đối với bạn. Mời thầy xem phong thủy rồi bày trí theo ý ông ta, nhưvậy vận mạng của bạn đã bị người khác sắp xếp, khống chế. Bạn sẽ thật tộinghiệp. Tuy bạn có tiền của, có địa vị, có phú quý, nhưng bạn ngu si, mặc tìnhcho người khác bỡn cợt. Đây là người đáng thương mà kinh Phật đã nói. Phật dạyngười phải đội trời đạp đất, dạy người tự làm chủ thể, không nên nghe người sắpđặt. Những mê tín này nhất định phải phá trừ.

Hãy đọc nhiều sách thánh hiền. Phầnlớn sách thánh hiền đều do người xưa viết. Văn tự thời xưa ngày nay chúng tagọi là văn ngôn văn, còn hiện tại giáo dục học đường dùng văn bạch thoại. Thếlà gặp chướng ngại về văn tự, nhưng chướng ngại này không lớn, chúng ta dễ dàngvượt qua. Văn ngôn văn là trí tuệ cao độ của lão tổ tông Trung Quốc phát minh.Cổ thánh tiên hiền luôn nghĩ cách đem trí tuệ và kinh nghiệm trong đời sống củahọ truyền cho người sau tham khảo, đây là việc đại sự. Để có phương pháptruyền, họ mới phát minh văn ngôn văn.

Vì sao họ lại nghĩ đến phương phápnày? bởi vì họ biết ngôn ngữ sẽ tùy theo thời đại, tùy theo khu vực mà thayđổi. Nếu dùng ngôn ngữ thông thường để ghi chép thì chỉ truyền được mấy mươinăm, cao lắm là mấy trăm năm, người sau xem sẽ không hiểu. Cũng giống nhưphương Tây hiện tại, chữ viết La Tinh đến nay chỉ có rất ít chuyên gia còn đangtìm tòi, tuyệt đại đa số người không nhận được lợi ích, thật đáng tiếc. Cổthánh tiên hiền Trung Quốc rất thông minh, họ đem ngữ và văn phân khai. Ngônngữ tùy theo bạn thay đổi nhưng văn nhất định không đổi, khi vừa đối chiếu liềnđúng. Cho nên ngày nay chúng ta hơi hơi hiểu được văn ngôn văn. Bạn đọc LuậnNgữ cũng giống như đang nói chuyện với Khổng Lão Phu Tử, không hề khác biệt.Khổng Lão Phu Tử cách chúng ta 2500 năm, sự truyền đạt qua từng ấy năm vẫnkhông thay đổi, đây là ưu điểm của văn ngôn văn. Bất cứ quốc gia chủng tộc nàotrên toàn thế giới cũng không tìm ra.

Ân trạch tổ tiên đối với đời sauchúng ta lớn dường bao, chúng ta phải mang ân đội nghĩa. Biểu thị cảm ân cụ thểlà phải học văn ngôn văn. Học tập văn ngôn văn không khó. Nếu các vị đến phòngtriển lãm ở Cố Cung hoặc đến thư viện lớn, bạn tìm những quyển sách kết bằngchỉ sẽ thấy cách làm văn của học sinh tiểu học đầu năm Dân Quốc đều là văn ngônvăn. Tuổi tác của họ khi đó không quá tám chín tuổi. Có thể thấy việc học vănngôn văn không khó, tám chín tuổi trở lại đã viết văn ngôn văn rất đẹp. Ngàytrước, khi tôi cầu học ở Đài Trung, lão sư của tôi là lão cư sĩ Lý Bỉnh Namdạy, chúng ta học kinh giáo không thể không học văn ngôn văn. Phương pháp họctập văn ngôn văn chính là học thuộc. Người hiện tại vừa nghe đến học thuộc thìmất hồn, họ không biết thuộc lòng là căn bản học tập, tuyệt nhiên không khó.Mỗi tuần bạn học thuộc một thiên cổ văn, một năm có thể thuộc năm mươi thiên cổvăn. Chọn năm mươi thiên trong “Cổ văn quán chỉ” mà học, sau một năm, bạn liềncó năng lực viết văn ngôn văn. Văn ngôn văn là nét đặc sắc trong văn hóa vốn cócủa Trung Quốc, thù thắng không gì bằng, vạn nhất chúng ta không thể xemthường. “Tứ Khố Toàn Thư” là di sản văn hóa, văn ngôn văn là chìa khóa. Bạn cầmđược chiếc chìa khóa thì sẽ tiếp nhận và thọ dụng được di sản văn hóa. Bảo tàngtrí tuệ, cội nguồn của kinh nghiệm, văn tự của kinh Phật so với cổ văn trở nêndễ hiểu hơn nhiều, đều do những đại sư dịch kinh năm đó muốn đem Phật pháptuyên dương rộng khắp để tất cả đại chúng dễ dàng tiếp nhận. Cho nên kinh Phậtkhi chúng ta xem thấy dễ hiểu. Văn học gọi loại văn tự trong kinh Phật là biếnvăn.

Chúng ta nên chú trọng việc dạy conem học thuộc cổ văn, sau đó bạn mới có thể dẫn đạo nó. Hiện tại học thuộc mộthai trăm thiên, tương lai cả đời thọ dụng, cả đời cảm kích cha mẹ khôn cùng.Tôi ở nước ngoài thường khích lệ đồng tu học Phật, tốt nhất nên dùng kinh VôLượng Thọ răn dạy con em, xem kinh Vô Lượng Thọ là cổ văn để học. Kỳ thực văntự của kinh Vô Lượng Thọ tuy là văn ngôn văn đơn giản dễ hiểu nhất nhưng trongđó tổng cộng có bốn mươi tám phẩm gần bằng năm mươi thiên mà lão sư Lý yêu cầuchúng tôi phải học thuộc. Các bạn nhỏ học thuộc bộ kinh này nhất cử được bốnlợi. Thứ nhất ở hải ngoại, nó không thể quên ngôn ngữ Trung Quốc; thứ hai nóbiết chữ Trung Quốc; thứ ba nó có cơ hội học tập văn ngôn văn dễ hiểu, thứ tưnó đồng thời được học Phật pháp. Nếu chúng ta chân thật thương yêu con em thìphải làm như vậy.

8. Vấn đề thứ tám, đại chúng trong xã hội thường hiểu lầm và hoài nghiviệc niệm Phật cầu sanh thế giới Tây phương cực lạc.

Người niệm Phật đương nhiên khônghoài nghi đối với những gì Phật đã nói. Phật dạy người không vọng ngữ, vọng ngữlà đại giới của nhà Phật thì Phật làm gì vọng ngữ. Phật nói thế giới Tây phươngcực lạc nhất định là chân thật. Hiện tại khoa học kỹ thuật phát triển cũng pháthiện ra vô lượng tinh cầu trong thái hư không. Hiện nay cũng thường nghe nóiđến người ngoài hành tinh, người ngoài thái không, sự việc này càng ngày càngnhiều. Địa cầu của chúng ta có người ở, lẽ nào tinh cầu khác không có người ở.Thế giới Tây phương cực lạc chẳng phải là một tinh cầu khác hay sao, đều làviệc rất có thể. Đấy là chúng ta dùng khoa học cạn cợt nhất để trắc nghiệm, nónhất định không phải giả. Nếu dùng khoa học kỹ thuật cao hơn để nói sẽ làmchúng ta càng dễ dàng lý giải. Khoa học gia chứng minh không gian là đa duythứ, chúng ta gọi không gian ba chiều, bốn chiều. Chúng ta hiện đang ở trongkhông gian ba chiều, người ở trong không gian bốn chiều được xem như thần tiên.Khoa học gia chứng thực chí ít có đến mười một chiều không gian, cách nói nàyrất thú vị, rất giống trong Phật pháp nói về mười pháp giới. Do đây mà biết,nhà Phật nói mười pháp giới thực tế chính là không gian duy thứ không đồngnhau. Duy thứ càng cao, hoàn cảnh sinh hoạt của cảnh giới đó càng thù thắng,không gian sinh hoạt của họ càng rộng lớn. Đến duy thứ cao nhất, cứu cánh viênmãn thì không gian hoạt động của họ là tận hư không khắp pháp giới, khoa họcgia cũng phát hiện ra.

Vì sao hình thành vấn đề này, họtuyệt nhiên không biết; làm thế nào đột phá, họ cũng không biết. Nhưng kinhPhật lại nói rất thấu triệt, mười pháp giới hình thành do vọng tưởng phân biệtchấp trước. Vậy làm thế nào để đột phá? dùng công phu thiền định, đem khônggian trùng trùng vô hạn độ này đột phá, sau đó bạn mới thấy được chân tướng củavũ trụ nhân sanh, đó gọi là pháp giới nhất chân, tương ưng với khoa học gia đãphát hiện.

9. Vấn đề thứ chín, trong pháp môn tịnh độ, lại có người hỏi rằng: “đại đứcxưa đã nói ‘sanh thì nhất định sanh, đi thì thật không đi’, vậy rốt cuộc cóvãng sanh hay không”?

Sanh thì nhất định sanh, đi thì thậtkhông đi, vì sao thật không đi? bạn tuyệt nhiên không hề rời khỏi pháp giớinày.

Chúng ta có thể dùng ti vi làm thídụ, màn hình ti vi chỉ lớn như vầy, qua màn hình, bên này là Đài Loan, bên kialà nước Mỹ, bạn thấy một người mang hành lý lên máy bay đến nước Mỹ. Cảnh giớinước Mỹ hiện ra trước mặt, nhất định anh ta đã đi đến nước Mỹ, nhưng anh takhông hề rời khỏi màn hình. Cũng vậy, kênh đài hiện tại của chúng ta là thếgiới ta bà, khi vừa chuyển kênh liền đến cõi nước Phật A Di Đà ở thế giới CựcLạc, nhưng thực ra vẫn ở bình diện này, vẫn trong pháp giới này. Cho nên từnhất chân pháp giới mà nói, không có đến đi. Từ vãng sanh mà nói, chuyển đổi kênhlà thật, mười pháp giới là mười kênh không giống nhau. Tuy kênh đài không giốngnhau, nhưng đều trong pháp giới này, cũng đều đang ở trong một màn hình, khônghề rời khỏi. Bạn từ thí dụ này mà thể hội. Bạn đối với chân tướng sự thật ítnhiều có thể lý giải đôi chút, sau đó mới biết mình có muốn vãng sanh tịnh độhay không. Chỉ có sanh đến thế giới Tây phương cực lạc, chúng ta mới có thể độtphá được thời không duy thứ vô hạn. Việc này khoa học gia mãi đến hôm nay vẫnkhông cách gì đột phá. Họ biết nếu có thể tiến vào không gian bốn chiều, nămchiều, liền có thể trở về quá khứ hay tiến vào vị lai. Vậy thì dục giới thiên,sắc giới thiên, vô sắc giới thiên, duy thứ của họ không giống với duy thứ chúngta. Ở trong cảnh giới đó, họ biết được quá khứ cũng biết được vị lai. Họ có thểhóa thân ở đời quá khứ cũng có thể ứng thân đến đời vị lai, thật được đại tựtại. Cho nên trùng trùng cảnh giới mà kinh Phật nói, dần dần được khoa học hiệnđại chứng thực.

Tuy nhiên khoa học không biết đượclẽ đương nhiên của nó, cũng không biết dùng phương pháp gì có thể đột phá, cóthể tiến vào cảnh giới này. Chỉ có Phật pháp cao minh, hiểu rõ lẽ đương nhiên,cũng biết dùng phương pháp gì để đột phá, chúng ta nhờ đó liền khẳng định đốivới thế giới Tây phương cực lạc. Vậy vãng sanh thế giới Tây phương cực lạc cótiêu cực không? không tiêu cực. Bạn nói nó tiêu cực, nó trốn tránh hiện thực,là hoàn toàn sai lầm, đây là thiên kiến. Phật đặc biệt nói rõ kinh Vô Lượng Thọkhông phải kinh tiểu thừa mà là kinh đại thừa. Không những đại thừa mà đại thừangay trong đại thừa, nhất thừa ngay trong nhất thừa, là kinh điển cứu cánh liễunghĩa, nên mới được mười phương tất cả chư Phật tán thán, tất cả chư Phật tuyêndương, đây là chân tướng sự thật, làm gì trốn tránh hiện thực.

Đến thế giới Tây phương cực lạckhông phải đi hưởng thụ, nếu bạn vẫn còn ý niệm hưởng lạc thì cái vọng tưởngnày khiến bạn không thể đi. Điều kiện đi thế giới Tây phương là “Tâm tịnh thờicõi nước tịnh”. Niệm Phật là phương pháp cần phải đạt đến tiêu chuẩn nhất địnhmới có thể vãng sanh. Tiêu chuẩn là tâm thanh tịnh, dùng phương pháp niệm Phậttu tâm thanh tịnh mới có năng lực và tư cách vãng sanh tịnh độ. Tâm không thanhtịnh, vọng tưởng phân biệt chấp trước vẫn tồn tại, thì mỗi ngày bạn niệm mườivạn Phật hiệu cũng không ích gì, người xưa nói “đau mồm rát họng chỉ uổngcông”. Cũng giống như người đọc sách, học tập rất dụng công, báng mạng mà học,khi thi thì không đạt tiêu chuẩn, vậy có ích gì. Cho nên phải chú trọng hiệuquả thực tế. Tiêu chuẩn kinh Di Đà là “Nhất tâm bất loạn”, chúng ta dùng phươngpháp “Chấp trì danh hiệu” để đạt đến nhất tâm bất loạn.

Sanh đếnthế giới Tây phương cực lạc là cầu học, đến nơi đó để hoàn thành học vị, để làmPhật, đồng nghĩa thành tựu trí tuệ cứu cánh viên mãn, học đến bản lĩnh đầyngười, không gì không biết, không gì không thể. Sau đó bạn mới có thể ở hưkhông khắp pháp giới, giúp đỡ tất cả chúng sanh khổ nạn, gọi là Phật độ chúngsanh, giúp chúng sanh phá mê khai ngộ, hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sinh.Đây là giá trị chân thật, nhất định phải niệm Phật cầu sanh thế giới cực lạc.Lời nói này tuyệt đối không gạt người, là lời tâm huyết của tất cả chư Phật hếtmực chân thành khẩn thiết khuyên dạy chúng ta. Phật không có yêu cầu gì, khôngcần chúng ta phải cung kính họ cũng không cần chúng ta cúng dường, Phật vô điềukiện. Phàm hễ giả dối lừa gạt người là họ luôn có mục đích, luôn có ý đồ. ChưPhật Bồ tát đối với tất cả chúng sanh không có bất cứ ý đồ gì, cũng không cóbất cứ điều kiện gì, mỗi câu đều là lời chân thật.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/08/201811:43(Xem: 177)
Kinh Vị Tằng Hữu của Bắc tông và Tăng Chi Bộ Kinhcủa Nam Tông đều có ghi rằng trong cuộc đời của một vị Phật CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC có 4 lần sự kiện vi diệu này xảy ra. Mỗi lần như thế, có một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh không có nền tảng, tối tăm u ám, mà tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây".
13/08/201807:26(Xem: 259)
Các Phân Khoa Phật Giáo Thích Thái Hòa Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu. Trong Phật giáo có năm phân khoa như sau: 1/ Phật giáo Đại chúng Thời Phật, xã hội Ấn Độ phân chia thành bốn giai cấp, gồm: - Bà-la-môn (Brāhmaṇa): Giai cấp Tăng lữ, giai cấp học giả của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Họ tự nhận sinh ra từ miệng Phạm-thiên. Giai cấp này làm mai mối giữa thần linh với con người. Họ có sáu quyền hạn: Tự ý làm đền thờ trời; làm thầy tế để tế trời; tự ý đọc Phệ đà (veda); dạy người khác đọc Phệ đà (veda); tự bố thí và tự nhận sự bố thí.
23/05/201819:45(Xem: 404)
Bài viết này để trả lời một vài câu hỏi nhận được gần đây. Nếu giúp được một số độc giả, xin hồi hướng công đức từ bài viết để Phật pháp trường tồn. Trường hợp các câu trả lời bất toàn hay sơ sót, người viết, với vốn học và vốn tu đều kém cỏi, xin lắng nghe quý tôn đức chỉ dạy thêm.
10/03/201807:13(Xem: 547)
To give the briefest conclusion that I can think of to the question- 'Do you think that sectarian diversity affects the stability of Buddhism as a whole?', I would have to say, 'Yes' and 'No'. My intention here is not to give a definitive answer, but to give readers 'food for thought', to enable each of us to be responsible and maintain pure intentions, to think for ourselves and develop genuine wisdom and compassion. In the spirit of the Dharma, rather than dwelling on any possible problems, we should mainly focus on solutions to any such problems. With the hope of maintaining the integrity and purity of Buddhism in this world.
03/02/201820:02(Xem: 785)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
06/01/201815:50(Xem: 998)
Vài suy nghĩ về việc học chữ Phạn trong các Học Viện Phật Giáo Việt Nam_ Lê Tự Hỷ
08/12/201713:37(Xem: 1046)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
19/11/201705:55(Xem: 604)
Tình, Tưởng. Cả hai đều thuộc về phạm trù của Tâm con người, không có ở trong các loài súc sinh, mặc dù súc sinh có cái biết bằng Giác (giác hồn, sinh hồn) nhưng, không tinh khôn bằng loài người, do Phật tánh bị chìm sâu bởi thú tính cao vời. Chỉ có loài người, Phật tánh được hiện hữu ở ba cấp thượng, trung, hạ, cho nên loài người là linh vật, chúa tể của muôn loài có khả năng dời núi, lấp sông do bởi cái tâm có tánh giác tinh anh Phật, Bồ Tát, Thánh, Phàm. Nói khác hơn, con người chỉ có một tâm nhưng, nó tự chia ra hai phần : Chủ tể và phụ tể. Nói theo Duy Thức Học; là Tâm vương, Tâm sở. Vai trò của Tâm vương là chủ động tạo tác ra vô số lời nói, hành động thiện, ác. Vai trò Tâm sở là duy trì, bảo vệ những thành quả (sở hữu) mà cũng chính nó tức tâm vương đã sáng tạo ra. Nghĩa là cái Tâm con người, nó vừa tạo tác ra các nghiệp, lại vừa đóng vai
19/11/201705:54(Xem: 537)
Con người trong mọi giới ngoài xã hội hiện nay tại các nước có Phật Giáo như Việt Nam, đến chùa xin Quy Y Tam Bảo được thấy rõ, là một tryền thống do con người tự chọn cho mình con đường giải thoát giống như ngày xưa lúc Phật còn tại thế, do tự nhận thức : Đạo Phật là con đường giải thoát, chứ Đức Phật từ ngàn xưa và chư Tăng rại các nước trên thế giới có Phật Giáo hiện hữu hôm nay, không khuyên mọi người phải và nên Quy Y Tam Bảo. Bởi vì đạo Phật, là đạo tự giác, tức là để cho con người tự do tìm hiểu giáo lý Phật. Sau đó thấy được đạo Phật là con đường giải thoát sinh tử khổ đau thực sự mà phương tiện là giáo lý, qua quá trình tự tu, tự giác ngộ, thì mới phát nguyện xin quy y Tam Bảo. Qua đây cho ta thấy đạo Phật không phải là đạo cứu rỗi, bang phước giáng họa cho bất cứ ai.
19/11/201705:52(Xem: 926)
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm phương tiện, Đức Phật nói lời khẳng định với Bồ Tát Xá Lợi Phất : “Này Xá Lợi Phất, chư Phật chỉ vì một việc trọng đại lớn duy nhất mà thị hiện ra nơi đời (cõi người), đó là “khai thị chúng sanh, ngộ nhập tri kiến Phật”.