Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Hòa Thượng Diệu Liên và Linh Nham Sơn Tự

19/12/201206:02(Xem: 2512)
Hòa Thượng Diệu Liên và Linh Nham Sơn Tự
    1. blank
    blank
  1. blank
Hòa thượng Diệu Liên là con một nhà nghèo, tu lúc nhỏ. Năm 1949 ngài chạy nạn đi HongKong. Một vị Hòa thượng ở HongKong đáng lẽ cho ngài bế quan chỉ có 6 tháng thôi, nhưng ngài xin bế quan đến khoảng 20 năm. Sau đó ngài về Đài Loan, nhiều minh tinh HongKong ủng hộ ngài nên ngài bắt đầu xây dựng Linh Nham Sơn Tự. Nhưng việc xây dựng ngôi già lam vĩ đại này tốn rất nhiều tiền, nên thiếu hụt nhiều, do đó vị cư sĩ ủng hộ 2 tỷ Đài Loan, và hoàn tất trong 2 năm.

Ngài có phát nguyện 48 lời nguyện giống đức Phật A Di Đà, nhưng có thêm 1 lời nguyện nữa là “Nếu ai gặp tôi thì tôi sẽ độ về Tây phương Tịnh Độ”.




  1. blank
  2. blank
  3. blank
  4. blank
  5. blank
  6. blank
  7. blank
  8. blank
  9. blank
  10. blank
    blank
  11. blank
  12. blank
  13. blank
  14. blank
  15. blank
__________________



LINH NHAM SƠN TỰ tại Trung Quốc
Linh-Nham Sơn-Tự là một đạo tràng Tịnh Độ nổi tiếng, nằm ở bờ Thái Hồ khoảng 15 dặm phía Tây Nam của Tô Thành. Núi cao hơn mặt biển 220m, có nhiều hòn đá hình dáng lạ thường, giống như cây Linh-Chi nên có tên là Linh-Nham. Phía Nam vách đá như tường thành nên cũng có tên là Thạch-Thành Sơn, thế núi quay về phải giống như con voi lớn xoay đầu lại nên cũng gọi là Tượng Sơn.
Chổ mà chùa tọa lạc hiện nay nguyên là cung đình do vua Ngô Phù Sai xây cho Tây Thi.
Chùa được xây vào đời Đông Tấn. Do quan Tư Mã Lục Ngoạn về già sống và tu ở núi này. Oâng đã cải gia vi tự (biến nhà thành chùa)

linham1.JPG - 77.2 K
Linh Nham Sơn Tự Tam Môn
Niên hiệu Thiên Giám đời Lương Vũ Đế, có vị thánh tăng Ấn Độ tên là Trí-Tích Độ-Hoá đến đây, nên được sắc tứ là "Trí-Tích Bồ-Tát Hiển-Hóa Đạo-Tràng". Đầu nhà Tống đổi tên là "Tú-Phong Thiền-Viện". Đến niên hiệu Thiệu-Hưng lạc được sắc tứ là "Hiển-Thân Sùng-Báo Thiền-Viện". Năm đầu niên hiệu Hồng-Vũ đời Minh đổi là "Báo-Quốc Vĩnh-Tộ Thiền-Viện" Đến niên hiệu Hoằng Trị chùa bị phá hủy. Năm thứ sáu niên hiệu Thuận-Trị đời Thanh chùa được trùng tu. Năm thứ 14 niên hiệu Khang-Hy đời Thanh, quan Bố-Chánh Mộ Thiên Nhan cho xây lại đại điện. Năm thứ 10 niên hiệu Hàm-Phong lại bị binh lửa tàn phá. Năm thứ 12 niên hiệu Đồng-Trị, nhà sư Niệm-Thành sửa sang lại.

linham2.JPG - 45.7 K
Linh Nham Sơn Tự Toàn Cảnh
Năm thứ 2 niên hiệu Tuyên-Thống, hòa thượng Châu-Đạt trụ trì. Năm thứ 15 đời Dân-Quốc đổi tên là Sùng-Báo tự chuyên tu về Tịnh-Độ. Sau đó đại-sư Ấn Quang đổi là Linh-Nham tự. Hoà thượng Diệu-Chân (kế vị ngài Ấn Quang) đã trùng hưng toàn bộ khiến chùa nổi tiếng khắp nơi.
1966 chùa bị phá hoại, tăng chúng bị trục xuất, quang cảnh tiêu điều. Nay nhờ Trung-Quốc Phật-Giáo Hiệp-Hội bảo-trì, chính phủ ủng hộ nên tăng chúng lại quay về, chùa chiền được trùng tu, cảnh tượng trang nghiêm thuở xưa đã trở lại.

Danh Thắng Cổ Tích:

1. Kế lư đình: Đình đầu tiên trên đường lên núi. Kế-Lư (biệt hiệu của tổ Ấn quang) nghĩa là kế tục Lư-Sơn, (là đạo tràng của sơ tổ Tịnh-Độ Huệ-Viễn) để hoằng dương Tịnh-Độ.
2. Nghinh tiếu đình: Đình thứ hai Nghinh tiếu (đón cười) vì vào đời Tống, Phật Ấn thiền-sư và Tô Đông Pha đã gặp nhau ở đây, nhìn phong cảnh hữu tìnhmà bật cười sảng khoái.
3. Lạc Hồng đình: Lạc Hồng do 2 câu thơ: "Sư tử tần thân phương thảo lục, Tượng vương hồi cố lạc hoa hồng" (Sư tử vươn vai cỏ thơm xanh biếc, voi chúa nhìn lại lạc hoa hồng thắm)
4. Quan Aâm Động: Tên củ là Tây Thi động, ở phía tây của Lạc Hồng đình. Tương truyền thuở xưa vua Việt-Câu-Tiển hiến tây Thi cho vua Ngô Phù Sai, chờ bệ kiến ở đây. Người sau khắc tượng ngài Quán Aâm lên vách động và đổi tên là động Quán Aâm.
5.Thạch Tràng (phướng đá) : Khoảng 100 bước ở bên phải lối đi, có ngôi tháp được cho rằng là tháp chứa y-bát của ngài Trí-Tích Bồ-tát. Bên trái có con rùa đá, trên lưng có khắc ba chữ "Vọng Phật lai" (Mong Phật đến)
6. Thái hương kính (Sông hái hương) :Tương truyền vua Ngô Phù sai ra lệnh trồng cỏ thơm ở Hương Sơn, rồi cho đào con sông này và khiến Tây Thi cùng cung phi chèo thuyền đi hái. Vì nước chảy thẳng băng nên còn có tên là "Nhất tiểu hà" (Sông như mũi tên).
7. Ngô Vương tỉnh (Giếng Ngô Vương) : Ở trong Ngự-hoa viên. Hình tròn, còn có tên Nhật tỉnh (giống mặt trời) để cung phi dùng.

linham-gieng.JPG - 62.6 K
Giếng Ngô Vương
8. Trí-Tích tỉnh: Có hình bát giác, cũng gọi là Nguyệt tỉnh (giếng mặt trăng), cũng là giếng của Ngô Vương. Sau ngài Trí-Tích sửa lại nên có tên này.
9. Ngọan hoa trì: Hình vuông. Ngô Phù Sai và tây Thi hái hoa sen để tiêu khiển ở đây. Hhiện nay ở chính giữa xây một cột phướng Vô-lượng-thọ, gọi là Diệu-Hương.
10. Ngọan nguyệt trì: Hình tròn, xung quanh có giả sơn (hòn non bộ). Tương truyền Tây Thi ngắm trăng dưới nước ở đây
11. Sơ trang đài (Đài trang điểm) : Ở phía sau giếng Ngô Vương. Chổ để Tây Thi Trang điểm. Hiện nay xây Trường Thọ đình lên đó.

linham-tay.JPG - 64.2 K
Nơi trang điểm của Tây Thi

12. Cầm đài: Ở đỉnh Tây Bắc của núi. Là chổ Phù sai ra lệnh cho tây Thi đàn cầm. Trên đá có khắc hai chữ Cầm Đài. Oâng Vương Ngao đời Minh đề 4 chữ: "Ngô trung thắng tích" Lên đài nhìn ra xa, ẩn hiện trong khói sóng của Thái-Hồ là những cánh buồm. Đúng là "yên-ba giang thượng sĩ nhân sầu" (Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn