Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về Phật giáo ứng dụng (6)

21/11/201211:11(Xem: 1871)
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về Phật giáo ứng dụng (6)

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (6)
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
many-ways-to-nirvana_dalailama

HỎI: Có thể hoàn toàn tự do khỏi sự hiện diện của tự ngã tiêu cực hay không hay đấy chỉ làmột thần thoại?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Vì khiếm khuyết và lỗi lầm không là nhữngphẩm chất cố hữu của tâm thức, nên lỗi lầm có thể được tiêu trừ.

HỎI: Nếu tẩytrừ thân và tâm, sự tỉnh thức tĩnh lặng xuất hiện. Sự tỉnh thức này giống nhau ở tất cả mọichúng sanh. Đây là bản chất của việc thựcchứng tự tánh. Xin hãy bình luận thêm.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Tổng quát, sự tương tục của tâm duy trì, do thế, không thể loại bỏ tâm và thânvà để đạt đến tự tánh. Như tôi đã đề cậptrước đây, theo Giáo huấn Đại Thừa, thậm chí ở giai tầng Giác Ngộ, tuệ trí cũngđược biểu hiện trong tự ngã cá nhân.

HỎI: Xin hãy giảithích tánh không của những hiện tượng cứu kính như chết và nghiệp.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Khi chúng ta nói về tánh không, bất chấp bất cứ hiện tượng nào, tánh không cónghĩa là việc thiếu vắng sự tồn tại cố hữu của hiện tượng đặc thù đó. Hành động (nghiệp) và chết cũng là những hiệntượng, nhưng không phải là chân lý cứu kính. Bản chất cứu kính của chúng là tánh không. Thật quan trọng để biết về chết và nghiệp. Nghiệp là hành động với động cơ, và một tinhthần nào đó cũng như hành động thân thể liên hệ.

Mộthành động bắt buộc phải có một kết quả. Trong Đạo Phật, nghiệp cũng có nghĩa là hành động, nhưng ở đây chúng tacó những hậu quả ngắn hạn và dài hạn. Thí dụ, chúng ta có thể nói rằng có một động cơ tiêu cực nào đó phía saumột hành động giận dữ. Với động cơ ấy sẽđi đến một loại hành vi thân thể thô tháo nào đó và hành vi tinh thần tiêu cựctạo nên một loại không khí tiêu cực và khó chịu. Đây là một hậu quả ngắn hạn, và trong thời khắc ấy hành vi để lại dấuấn trong tâm thức. Dấu ấn này để lạitrên cái "tôi" và được mang theo bởi sự tương tục của tâm thức, haycái "tôi", và chúng ta bắt đầu trải nghiệm những tác động khi và khidấu ấn, dấu vết, hay hạt giống ấy đối diện với những điều kiện ngoại tại.

Khichúng ta nói về chết, nó liên hệ đến sự hòa tan của tâm vi tế. Một sự giải thích vi tế hơn có thể tìm thấytrong tám giai tầng của định an chỉ. Đâythật sự là một chủ đề đặc biệt mà chúng ta nên học tập.

HỎI: Sân hậnlà sự thật. Nó phải cùng tồn tại với hạnhphúc; thế thì tại sao chúng ta phải kiểm soát nó?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Nếu bạn hỏi các bác sĩ, họ sẽ nói với bạnrằng chúng ta có thể hành động mà không cần đến giận dữ trong đời sống chúngta. Bạn sẽ cảm nhận sung sướng hơn và hạnhphúc hơn nếu bạn cố gắng để giảm thiểu tối đa sân hận. Do vậy, câu hỏi giá trị thật sự là có thể giảmthiểu được sân hận hay không?

HỎI: Tôikhông hiểu tại sao chấp trước làm chúng ta đau khổ bởi vì tôi mạnh mẽ lên nhờchấp trước, đặc biệt khi tôi bị quấy rầy.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Chấp trước như một nguyên nhân của khổnão liên hệ đến đặc trưng thứ ba của khổ não: khổ não cùng khắp (hành khổ). Sânhận nối kết trực tiếp với nó khi sân hận đưa chúng ta đến đặc trưng thứ nhất củakhổ não (khổ khổ), trái lại chấp trước đưa chúng ta đến đặc trưng khổ não thứhai và thứ ba (hoại khổ và hành khổ). Thân thể này của chúng ta tồn tại được do bởi chấp trước. Nên bạn thấy, qua chấp trước và sân hận, nhữngloại khổ não khác nhau hiện hữu; vì vậy chấp trước thật sự là căn bản của sân hận.

HỎI: Xin giải thích mộtkỷ năng giản dị để giảm thiểu sân hận.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Một sự thẩm tra phân tích hơn về khuyết điểm thật sự của sân hận sẽ rất hữuích. Sân hận phá hoại sự hòa bình củatâm thức và tạo nên những rắc rối xa hơn. Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử thế giới, chúng ta có thể thấy tất cả sựtàn phá, khốn khổ của nhân loại và khổ não chính yếu được tạo nên bởi thù hậnvà giận dữ. Những câu chuyện vinh quangvề tốt lành liên hệ chung quanh lòng vị tha. Do vậy, chúng ta sẽ nhận ra rằng sân hận thật sự vô giá trị. Nếu ai đấy chấp nhận lý thuyết tái sanh vànghiệp báo (nhân quả), những phương pháp khác có thể được sử dụng để giảm thiểusân hận. Những rắc rối gia đình hầu hếtbị tạo ra bởi sân hận. Vì thế, chúng tacó thể học hỏi từ những kinh nghiệm của người khác.

HỎI: Khi môitrường bị ô nhiễm, có thể phát sinh một thể trạng thanh tịnh của tâm thứckhông?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Có một mối quan hệ chắc chắn giữa môi trường ngoại tại và tâm thức. Do vì ô nhiễm, não bộ không thể hiện chứcnăng một cách tốt đẹp; có một loại u tối, chậm lụt. Nhưng không thể có một tâm thức thanh tịnh lạichứa đựng một môi trường ô nhiễm.

HỎI: Tánh không là gì?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Tánh không là tánh không; câu trả lời không dễ dàng. Chúng ta phải đi vào chi tiết và chiều sâuhơn. Nó cần hàng tháng và hàng năm trướckhi chúng ta đi đến một sự thấu hiểu về nó.

HỎI: Ai tìm ra tánh không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Tôi khi nghĩ phải có ai đấy ở đây sẽ tìm thấy tánh không. Quý vị bắt buộc phải tìm ra tánh không nếuquý vị thật sự thực hành chân thành trong đời sống hằng ngày, và đặc biệt khiquý vị chạm trán vói một đối tượng nào đó tạo nên một cảm xúc mạnh mẽ chẳng hạnnhư luyến ái hay thù hận, hay là đối mặt với tính vị kỷ mạnh mẽ. Trong thời khắc ấy, nếu quý vị tiến hành mộtsự khảo sát thật cẩn thận nếu quý vị phân tích và thể nghiệm kiểu mẫu lãnh hộicủa tâm, cách mà mọi thứ xuất hiện trong tâm, chúng ta thấy vào lúc ấy, đối tượngxuất hiện là rất mạnh và sinh động. Nóxuất hiện rất vững chắc và độc lập. Thídụ, khi cảm giác thù hận phát triển, đối tượng xuất hiện như 100 phần trăm tiêucực. Nhưng đây thật sự thổi phồng. Không có thứ gì 100 phần trăm tiêu cực. Tuy nhiên, trong thời khắc ấy, tùy theo tháiđộ tinh thần của mỗi người, nó hiện hữu là như vậy. Thời khắc ấy là cơ hội tốt nhất và đúng thờiđể phân tích bản chất thật sự và sự xuất hiện của nó. Và rồi chúng ta thấy tánh không với những lýlẻ và chứng cứ hợp lý của nó và khám phá ra rằng mọi thứ là tương đối. Thí dụ, bằng việc phân tích các nguyên nhân củamột hiện tượng đặc thù và sử dụng những lý lẻ như "kim cương", v.v…,và xa hơn bằng việc phân tích thực thể của hiện tượng cụ thể ấy và cho dù nó tồntại đơn thể hay bằng nhiều thành phần. Cũng thế, bằng việc phân tích tác động của một hiện tượng đặc thù, chodù tồn tại hay không tồn tại, và cuối cùng , lý lẻ hợp lý của bản chất phụ thuộchay duyên khởi. Do vậy, nếu chúng taphân tích một cách cẩn thận, mặc dù thật khó khăn nhận thức trọn vẹn, nhưngchúng ta có thể cảm thấy rằng có điều gì đấy. Điều ấy là rất chắc chắn.

Thựcchứng tánh không thật vô cùng quan trọng bởi vì khi chúng ta cố gắng để phântích bản chất thật sự của bất cứ hiện tượng đặc thù nào, chúng ta thấy rằng bảnchất thật sự là tánh không hay thiếu sự tồn tại cố hữu (không có tự tánh). Có thể nói rằng tánh không thật sự tồn tại. Thật quan trọng để nhận ra tánh không củatánh không bởi vì tánh không tự nó không có sự tồn tại cố hữu, nó cũng vô tựtánh. Nó cũng lệ thuộc trên điều gìđó. Thí dụ, nếu chúng ta nhìn ngẫu nhiênvào một hiện tượng nào đó và bản chất thật sự của nó, đối tượng đặc thù ấy dườngnhư thật sự hiện hữu mạnh mẽ hơn là tánh không của nó vì chúng ta không thể giảithích điều gì đấy như tánh không mà không lệ thuộc trên một hiện tượng đặcthù. Nói cách khác, tánh không là một phẩmchất hay khía cạnh đặc thù của một hiện tượng. Đối với bất cứ một phẩm chất nào thì phải có một cơ sở nào đấy. Vì vậy, tánh không, sunyata cũng trở thành mộtbộ phận của điều gì đấy - phẩm chất của điều gì đấy.

Ýthức cũng là bản chất của tánh không. Cómột lý do đơn giản cho điều này. Tánhkhông có nghĩa là việc thiếu vắng sự tồn tại cố hữu hay tự tồn tại. Phạn ngữ pratiyasamutapada có nghĩa là"phụ thuộc phát sinh". "Phụ thuộc" bởi vì nó lệ thuộc trên những thứ khác và là bảnchất tuyệt đối. "Phát sinh" cónghĩa là điều gì đấy xảy ra qua những nhân tố khác. Trong một cách, nó là điều gì đấy như sốkhông, zero. Không có số không, không thểđếm được. Bởi vì mọi thứ là liên hệ với nhau, "trống rỗng" ở đây cónghĩa là "như điều gì đấy trống rỗng". Do thế, nếu bản chất căn bản của nó là điềugì đấy, mọi thứ là có thể. Căn bản ấyđưa đến sự vắng mặt của bản chất tuyệt đối.

Mộtcách tổng quát, khi chúng ta nói điều gì đấy không thật trong ý nghĩa thế gian,không phải nó là không thật trong bề ngoài của thức trí, nhưng bởi vì nó khôngthật trong trình độ thế gian. Vì vậy,chúng ta có ý nghĩa của không thật (untruth) và hư vọng (unreality) của chân lýquy ước. Nếu người nào đấy quan tâm, cómột mối quan hệ rõ ràng. Thí dụ, trong đờisống hàng ngày, kinh nghiệm khổ và vui của chúng ta lệ thuộc rất nhiều trênthái độ tinh thần của chúng ta. Tuynhiên, một khi chúng ta nhận ra những trình độ của chân lý quy ước và chân lý cứukính, việc thật rất lợi ích để làm giảm thiểu sự phóng đại tinh thần. Thực chứng Hai Chân Lý cũng rất hữu ích trongviệc làm cho tâm tư ổn định.

Chúngta đơn giản chấp nhận những thứ tốt và xấu qua việc nhận ra bản chất sâu xahơn. Nếu chúng ta có được một sự thấu hiểuhợp lý về bản chất thật sự của chân lý cứu kính và chân lý quy ước, chúng ta sẽchạm trán những hiện tượng nội tại với một nhận thức quân bình. Tuy nhiên, trước khi thấu hiểu bản chất thậtsự của Hai Chân Lý, chúng ta có khuynh hướng phóng đại các hiện tượng. Tâm chúng ta là một thực thể thuần nhất; tốithiểu nó xuất hiện như thế. Nhưng trongthực tế, có nhiều loại tâm thức khác biệt nhau. Tâm con người phức tạp một cách đặc biệt. Do thế, nhằm đề đạt đến tâm tư hòa bình, sựrèn luyện hay kỷ năng Phật Giáo thật sự giảm thiểu sự bất ổn tinh thần và giatăng sự hạnh phúc tinh thần và sự hòabình tinh thần. Có nhiều phương cáchkhác nhau để đạt đến hòa bình và giảm thiểu băn khoăn. Kiến thức về Hai Chân Lý là một trong phươngcách ấy. Nói một cách tổng quát, sự thựctập tâm linh giống như một máy ổn áp. Hòa bình cũng tương tự như vậy.

HỎI: Ngài cóthể nói về tốt và xấu không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠTMA:Tốt và xấu theo quan điểm Phật Giáo lànhững thuật ngữ tương đối và tùy thuộc trên những nhân tố khác. Dười những hoàncảnh nào đó điều gì đó có thể là tốt, nhưng dưới những hoàn cảnh khác, nó trởthành xấu. Nên không tuyệt đối. Chúng ta phải phán xét tùy theo những hoàn cảnhđặc thù. Một cách tổng quát chúng ta cóthể nói rằng bất cứ hành vi hay nhân tố nào đem đến cho chúng ta hạnh phúc vàtoại nguyện là tốt; bất cứ điều gì đem đến cho chúng ta bất hạnh hay khổ đau làxấu. Cho nên quyết định tối hậu về tốtvà xấu căn cứ trên kinh nghiệm và cảm giác. Tâm thức chúng ta là lời nói sau cùng.

Tôinghĩ sự tĩnh lặng tinh thần cho phép chúng ta thư thái và hạnh phúc. Điều này đúng cho tất cả mọi người. Sự thực tập khác là lòng vị tha. Như mọi thứ là tương quan sinh khởi, sự toạinguyện hay hạnh phúc của chính chúng ta, lệ thuộc rộng rãi vào những ngườikhác. Nếu người khác, kể cả thú vật, hàilòng và biểu lộ hạnh phúc hay một loại đáp ứng tích cực nào đó, chúng ta sẽ toạinguyện. Do thế, sự thực tập về lòng vịtha là nhân tố chìa khóa.

Trongnửa đầu bài giảng của tôi về căn bản của Hai Chân Lý và Bốn Sự Thật Cao Quý,bây giờ tôi sẽ nói về việc thi hành và sử dụng chúng trong đời sống hằng ngàynhư thế nào hay sự thực tập hàng ngày.

Cóhai cách để áp dụng Bốn Sự Thật Cao Quý. Một là nghĩ nhiều hơn về Hai Chân Lý; nó sẽ cho phép chúng ta thấu hiểu BốnSự Thật Cao Quý tốt hơn. Trường hợp thứhai, nghĩ về Bốn Sự Thật Cao Quý, rồi thì trên vấn đề ngừng dứt - diệt đế - sựgiải thích về Hai Chân Lý có thể được thấu hiểu. Sự Thật Cao Quý đầu tiên là việc nhận ra bảnchất của đau khổ. Nếu đời sống của chúngta là tốt đẹp và bao hàm sự hạnh phúc thường trực thì không cần phải nghĩ đếnnhững thứ phức tạp khác. Nhưng đời sốngchúng ta không quá đơn giản và không có bản chất như vậy.

Nhằmđể biết bản chất khổ đau của đời sống, chúng ta cần thấu hiểu ba loại khổđau. Thứ nhất là khổ đau của khổ đau (khổkhổ). Điều này biểu hiện trong hình thứccủa những thứ như, nhức đầu và đau đớn và có thể áp dụng ngay cả cho thú vật. Có một phương cách để thoát khỏi loại khổđau này một cách tạm thời. Thứ hai là khổđau của thay đổi (hoại khổ). Đây là nhữngkinh nghiệm mà chúng ta thường cho là dễ chịu. Thí dụ, khi chúng ta được thứ gì mới, vào những ngày đầu chúng ta rấtthích thú và cảm thấy vui vẻ. Tuy nhiên,sau một thời gian cùng chủ đề ấy lại tạo nên một loại không hài lòng hay chán nản.

Chúngta có thể cảm thấy rất gần gũi với điều gì đấy xinh đẹp vào lúc đầu, nhưng saunày trên cùng thứ ấy có thể hiện hữu xấu xí và không quá tốt đẹp. Hơn thế nữa, chúng ta có thể muốn từ bỏnó. Thật rất tự nhiên đối với những ngườicó cuộc sống trong một làng quê bé nhỏ hay trong một vùng hẻo lánh thèm muốn mộtđời sống hấp dẫn hơn ở một vùng khác, một thành phố lớn hơn hay một xứ sở lớnhơn. Và đôi khi những người ở trong mộtthành phố lớn lại thích ở trong một vùng thôn quê hay một nơi yên tĩnh. Lòng khao khát luôn luôn thay đổi. Đây là đặc trưng thứ hai của khổ đau: sự khổđau của thay đổi.

Cónhững sự diễn giải khác nhau về nổi khổ thứ ba - khổ đau vì điều kiện, khổ đaucùng khắp (hành khổ). Một sự diễn giảilà thân thể chúng ta bị ảnh hưởng bởi simê. Có những loại si mê khác nhau. Một chỉ là sự si mê, đó là, chúng ta đơn giảnkhông biết điều gì đó. Một loại si mêkhác là nó làm cho chúng ta thấy các hiện tượng trong một thái độ lầm lẫn haysai lạc. Loại si mê này là hạt giống thậtsự của rắc rối hay hạt giống của khổ đau. Vì thế, khi si mê là một kẻ gây rối, nó phải được loại trừ. Thật đáng để cố gắng loại trừ nó. Nếu khổ đau là điều gì đó có thể loại trừ, thếthì thật hữu ích, để thấy khổ đau cho những gì nó là và không sợ hãi nó, khôngthích nó hay thất vọng vì nó. Bây giờ làmột câu hỏi quan yếu là có một sự ngừng dứt (diệt đế) hay không? Ở đây chúng ta tự nhiên phải mang vào tâm thứcchúng ta. Có hai loại hiện tượng riêngbiệt: vật và tâm hay vật thể và tâm thức. Nếu chúng ta nhìn một bông hoa hay thân thể chúng ta trong dạng thức nhữnghạt vi trần hay phân tử, chúng là tương tự trong bản chất và tuân theo cùng hệthống. Tuy nhiên, sự khác nhau là cácbông hoa không có tâm thức như con người. Bên cạnh những hạt vi trần vật lýcó điều gì đó chúng ta gọi là tâm hay thức. Khi những thân thể hay hạt vi trần phối hợp với tâm thức, chúng ta cóchúng sanh. Rồi thì, một cảm nhận về cái"tôi" được phát triển.

Khiđi đến những trình độ khác nhau của tâm thức, khi chúng ta thức, chúng ta có mộttrình độ tâm thức. Trong khi chúng tađang mơ ngủ, một trình độ tâm thức khác hơi sâu hơn hoạt động (mộng trung ý thức). Khi chúng ta đang ở một giấc ngủ sâu không mộngmị, chúng ta ở trong thể trạng khác của một thức hay tâm thậm chí sâu hơn. Khi chúng ta ngất xỉu hay hơi thở dừng lại, trongthời gian ấy tâm thức trở nên vi tế hơn. Thường thường người ta cho là thể trạng này như "vô thức",nhưng trong thực tế, thức hay tâm trở nên sâu hơn. Tuy thế, tâm thức sâu nhất chỉ xảy ra khichúng ta chết.

Tâmthức thô lệ thuộc rất nhiều vào những cơ quan thân thể như não bộ hay những hệthống thần kinh khác nhau. Tâm thức càngsâu, nó càng độc lập hơn đối với thân thể. Do thế, khi những chức năng vật lý hoàn toàn dừng lại, tâm thức vi tế nhấtlại hoạt động. Vào thời điểm lâm chung,có một tiến trình bình thường của việc chia tách tâm thức vi tế và thân thể. Những hành giả đã có một sự thực tập nào đó vềdu già hay những trình độ thiền tập nào đó có thể tự nguyện phân chia hay táchrời tâm thức và thân thể. Qua thiền tập,chúng ta cũng có thể kiểm soát sự tuần hoàn của máu, hơi thở, và những chứcnăng khác của thân thể. Cuối cùng, nếuchúng ta làm sâu sắc thêm việc rèn luyện của mình, có một khả năng của việc thựchiện vấn đề phân tách này. Qua sự thực tậphoán chuyển tâm thức, chúng ta có thể thực hiện sự phân tách này. Tuy nhiên, thật là nguy hiểm cho người sơ cơ,khi người ấy có thể phân tách thân thể và tâm thức, nhưng không thể hợp nhấtchúng lại. Thật dễ dàng hơn nhiều đểphân tách hơn là hợp nhất lại.

Nhữngthảo luận với những nhà khoa học thần kinh và sinh học thần kinh khơi mở nhữngkiến thức về não bộ cũng như các chức năng của nó. Có lẻ có một mục tiêu cho việc thảo luận xahơn với những dòng này. Qua kinh nghiệm,chúng ta có thể nói rằng có một khía cạnh của tâm - một cách đặc biệt là nănglượng - điều khiển hệ thống thần kinh. Như tôi đã đề cập trước đây, sức khỏe thân thể nối kết một cách cao độ vớisức khỏe tinh thần. Đã có những thí nghiệmchửa trị bệnh tật qua thiền tập. Khichúng ta nói về si mê, chúng ta liên hệ đến một sai sót hay khiếm khuyết nào đócủa tâm thức, hay phẩm chất nhược điểm của tâm thức. Nhằm để giảm thiểu những phẩm chất tiêu cựcnày của tâm thức và để đối phó loại tâm thức này, những thay đổi xảy ra trong bảnchất của sự nghi ngờ. Loại chuyển hóanày ảnh hưởng nhận thức, và cuối cùng chúng ta có thể đạt được nhận thức vô thứctrực tiếp - trực nhận vấn đề.

Vìvậy, nếu chúng ta muốn loại trừ loại tâm thức khiếm khuyết này, thật quan trọngđể thấu hiểu bản chất và sự chuyển hóa tâm thức. Trước nhất cố gắng để thẩm tra thể trạng củatâm thức. Đôi khi chúng ta trải nghiệm mộtloại tâm thức khác biệt và những tư tưởng hoang dã. Đây là do bởi sự hiện diện của quá nhiều tưtưởng nhận thức làm u tối các hiện tượng. Bản chất thật sự của tâm thức là che khuất - như khi chúng ta thêm màuvào kính trắng, thật rất khó để thấy kính trong suốt. Do thế, thường thường nếu chúng ta cố gắng tẩytrừ trình độ thô của tâm thức và những tư tưởng hoang dã, chúng ta đạt được mộttia lóe sáng về bản chất thật sự của tâm thức. Tại giai tầng ấy, chúng ta cảm nhận bản chất trống rỗng của tâm thức. Đây là một kỷ năng mà nhờ đó để nhận ratâm. Ở đây, khi nói bản chất, thì đókhông phải là bản chất cứu kính, nhưng là bản chất quy ước của tâm thức. Vào buổi sáng sớm, khi chúng ta thức dậy,nhưng tâm thức chúng ta chưa hoàn toàn hoạt động, đôi khi chúng ta trải nghiệmnhững tư tưởng trong suốt không màu sắc. Vậy thì bản chất của tâm thức giống như điều gì đấy màu trắng và có thểhấp thu những màu sắc khác. Đấy là điềugì đấy trung tính, không phải là điều gì đấy thánh thiện, nhưng là điều gì đấytinh khiết. Rồi thì có những tư tưởngkhác đồng hành cùng với tâm tinh khiết này. Thí dụ, không ai có thể duy trì sự giận dữ trong mọi lúc. Ngay khi tâm thức và sự tỉnh thức hiện hữu,ngay cả nếu một người rất dễ giận dữ, sự điềm tĩnh rất ngắn, thì cũng có nhữngthời khắc nào đó người ấy không có sự cáu kỉnh. Trong trường hợp của luyến ái, bất chấp nó có thể mạnh mẽ như thế nào, bảnchất nền tảng của tâm thức cho thấy nó có thể loại trừ được. Tùy thuộc trên những nhân tố ngoại tại và nộitại, luyến ái hoặc là gia tăng hay giảm thiểu. Vì thế, có khả năng để giảm thiểu luyến ái hay dính mắc, chấp trước.

Bâygiờ câu hỏi là có khả năng của việc giảm thiểu những tư tưởng này không? Nhằm để làm việc này, chúng ta phải biết kiểumẫu tồn tại của nó, và cách mà chúng xuất hiện đến chúng ta. Trong tổng quát, chúng ta làm một sự phân biệtđặc trưng giữa phẩm chất của một đối tượng đặc thù và những thành phần củanó. Và khi chúng ta nói về một đối tượng,phẩm chất của nó và khái niệm chi tiết của nó, chúng ta đã phân biệt những phẩmchất trong tâm thức, mặc dù khi chúng tanói về một đối tượng và tác động của nó, thế thì chúng là hai hiện tượng khácnhau. Nếu đây là kiểu mẫu thật sự của sựtồn tại, thì chúng ta phải có thể tìm thấy nó khi chúng ta nhận ra nó, nhưngkhông thể tìm thấy nó. Do thế, nếu chúngta loại trừ những thành phần, chúng ta sẽ không bao giờ có thể tìm ra đối tượngthật sự đã làm ra chúng.

Tuynhiên, điều này phù hợp với kiểu mẫu quy ước của sự tồn tại, và không thích hợpvới kiểu mẫu tồn tại cứu kính. Trong tổngquát, nếu chúng ta cố gắng để tìm kiếm căn bản mệnh danh của tất cả mọi hiện tượng,chúng ta không thể tìm thấy. Trên trìnhđộ thế gian, chúng ta có thể tìm kiếm đến một phạm vi nào đó, nhưng vượt khỏiđó, nếu chúng ta phân chia các hiện tượng thành những bộ phận và cố gắng để tìmkiếm nó, chúng ta không thể làm việc đó. Thí dụ, lấy trường hợp của cái "tôi". Thông thường, chúng ta có thể nghĩ rằng cái"tôi" là một chủ nhân hay điều gì đấy thuộc về chủ nhân ấy. Do vậy, giả sử có một tính chất riêng rẻ bêncạnh thân thể và tâm thức. Trong tổngquát, khi chúng ta nói về cái "tôi", chúng ta có một cảm nhận sai lầmvề cái "tôi" như chủ nhân của tâm thức và thân thể. Để sáng tỏ: có một người với một thân thể haytâm thức khiếm khuyết. Nếu ai đó đến vànói, "Tôi sẽ cho bạn một thân thể tốt hơn và một sự hòa bình tốt hơn củatâm thức", thế thì người ấy lập tức sẽ phát sinh một ý chí chấp nhậnnó. Điều ấy rõ ràng biểu hiện rằng chúngta có một khái niệm sai lạc rằng cái "tôi" là riêng biệt với thức uẩnvà tâm. Tuy thế, nếu chúng ta thẩm trathân thể và tâm thức, không có điều gì còn sót lại. Dĩ nhiên, có một cái "tôi". Nếu không có cái "tôi", thế thì sẽkhông có "người khác". Nếu không có "người khác", thế thìkhông có lý do

gìcho việc thực tập lòng vị tha. Vậy thìrõ ràng có một cái "tôi" và "người khác". Tuynhiên, sự giải thích thông thường trên phối hợp của thân thể và tâm thức. Mỗi hiện tượng, vì vậy, được mệnh danh trênphức hợp những thành phận của nó, là điều, nếu chúng ta khảo sát, chúng takhông thể tìm thấy. Nhưng nếu chúng ta phủ nhận những thứ này bởi vì chúng takhông thể tìm thấy chúng và nói rằng một người không tồn tại, nó mâu thuẩn vớikinh nghiệm hàng ngày của chúng ta. Kinhnghiệm của chúng ta rõ ràng cho thấy rằng con người tồn tại và không phải khôngtồn tại. Nếu chúng ta phủ nhận sự tồn tạicủa người ấy, chúng ta rơi vào cực đoan hư vô hay đoạn kiến. Mặc dù con người tồn tại rất rõ ràng, nhưng sựtồn tại ấy chỉ là quy ước. Nó không tồntại một cách độc lập. Điều này rõ ràng hủybỏ cực đoan thường tại hay thường kiến.

Khichúng ta nói về một con người được mệnh danh và lệ thuộc trên điều gì đấy, nóloại trừ hai cực đoan: cực đoan hoàn toàn không tồn tại và cực đoan thường tại. Do thế, chúng ta gọi nó là Trung Đạo hayMadhyamika. Khi chúng ta nói về việc thựcchứng trung đạo hay quan điểm trung quán, nó có nghĩa là mọi vật không hoàntoàn không tồn tại nhưng chúng cũng không một sự tồn tại độc lập. Mọi hiện tượng xuất hiện với chúng ta như tồntại trên chính chúng mà không lệ thuộc trên bất cứ điều gì, nhưng không phảinhư vậy. Chúng chỉ có một sự tồn tại lệthuộc trên những hiện tượng khác. Chúngchỉ được mệnh danh bởi tâm thức. Do vậy,việc nhận ra một sự thấu hiểu như thế là thực chứng quan điểm của Trung Quántông.

Thậtthú vị tại giao điểm này để thẩm tra sự phát sinh sân hận hay luyến ái trongánh sáng của quan điểm. Thật rõ ràng rằngkhi chúng ta phát sinh sân hận hay luyến ái, đối tượng đặc thù của sân hận hayluyến ái xuất hiện như điều gì đấy tồn tạimột cách độc lập, như điều gì đấy cụ thể. Rõ ràng rằng khi một sự sân hận hay luyến ái mạnh mẽ phát triển, đối tượngxuất hiện như độc lập và là điều gì đấy 100 phần trăm tiêu cực hay tích cực. Nhưng với sự trôi đi của thời gian, khi sân hậnvà luyến ái bị giảm thiểu hay biến mất - cảm nhận của chúng ta đối với cùng ngườiấy sẽ là khác biệt. Thí dụ, khi một đôikết hôn, đôi lứa có thể dường như 100 phần trăm xinh xắn và tốt đẹp vớinhau. Điều này chính yếu là qua vọng tưởngcủa họ thừa nhận đối với luyến ái. Khicó một rắc rối nào đó, cảm xúc mạnh mẽ giảm thiểu. Nhưng khi rắc rối hay sân hận biến mất, kiểumẫu thật sự của con người bắt đầu xuất hiện.

Rõràng rằng khi chúng ta phát sinh tâm tiêu cực, gốc rể của nó là kiểu mẫu sai lạc của việc hiểu thấu cáchiện tượng. Sự hiểu thấu chân thật đối vớicác hiện tượng và nhận thức của tâm về việc thiếu sự tồn tại chân thật của cáchiện tượng là mâu thuẩn trong những kiểu mẫu lãnh hội của các tâm thức. Hai tâm thức này hướng trực tiếp đối với cùngnhững đối tượng, nhưng kiểu mẫu lãnh hộichúng là khác nhau. Vì vậy hai tâm thức này là đối lập với nhau. Điều khác biệt duy nhất giữa hai tâm thức nàylà ý thức nhận thức sự thiếu vắng một sự tồn tại chân thật có giá trị hổ trợ vàgiá trị nền tảng, trái lại còn tâm thức kia thì không.

Cókhả năng để loại trừ tất cả mọi tư tưởng tiêu cực. Khi thời gian trôi qua, và sự thiền tập trungsâu hơn cùng với thiền phân tích, những tư tưởng và cảm xúc tiêu cực cuối cùngcó thể loại trừ được. Thể trạng của tâmthức đã được loại trừ những cảm xúc tiêu cực là những gì chúng ta thường gọi làniết bàn, giải thoát, hay sự ngừng dứt (diệt đế). Sự ngừng dứt không có nghĩa là sự ngừng dứttâm thức chúng ta hay sự ngừng dứt chínhcá nhân ấy; nó có nghĩa là sự ngừng dứt những cảm xúc tiêu cực. Trong trường phái Phật Giáo về tư tưởng, cónhững sự giải thích khác nhau về giải thoát (moksha). Thí dụ, trường phái tư tưởng Tỳ Bà Sa tin tưởngrằng khi chúng ta đạt được sự ngừng dứt chân thật, diệt tận định hay giảithoát, không còn thức nữa, không còn những tập hợp uẩn tâm lý, hay skhandha, vàkhông còn hiện hữu nữa. Tuy nhiên, nhưLong Thọ nói, "Nếu trường hợp là thế ấy, vậy thì không có chúng sanh đạt đếnđiều ấy". Do vậy, chúng ta không thểnói rằng có một chúng sanh đạt đến niết bàn, bởi vì khi niết bàn xảy ra, khôngcòn chúng sanh nữa; nếu có chúng sanh, không thể có niết bàn. Bản chất của tâm thức là thanh tịnh, nênkhông có lý do gì để ngừng lại hay chấm dứt nó. Trong triết lý Trung Quán và Duy Thức, niết bàn một cách chắc chắn tồn tại,nhưng chúng sanh với tự tánh cũng tồn tại. Ngay cả trong trường hợp Quả Phật, một vị Phậtvới đặc tính cá nhân tồn tại. Đối vớitôi, giải thoát là sự ngừng dứt hoàn toàn về tâm hay thức, sự ngừng dứt của cái"tôi". Tôi sẽ thích luân hồihơn so với niết bàn bởi vì trong cõi luân hồi có đời sống và kinh nghiệm. Tôi nghĩ điều này tốt hơn là duy chỉ không cógì.

Ngườita có ấn tượng về sự ngừng dứt hay niếtbàn, là không có gì, và rằng tất cả mọi cảm giác, tâm thức, và mọi thứ hòa tantrong tánh không. Không có gì còn lại. Thế đó là sai. Một cách thật sự, niết bàn là một thể trạnghoàn toàn thanh tịnh của tâm thức chính mình. Đấy là bản chất cứu kính của tâmthức đã được tiêu trừ tất cả những cảm xúc phiền não.

Tráchnhiệm của chúng ta là cảm nhận "Vâng, có một phương pháp và điều gì đấyđáng để đạt đến". Cho nên chúng taphải cố gắng để khảo sát bản chất của khổ đau, và trên vấn đề chúng ta chán chườngvới khổ đau như thế nào cho nên chúng ta phải phát triển cảm giác viễn ly vớikhổ đau, xa rời khổ đau nhằm để đạt đến niết bàn, với sự giải thoát thường trực. Nếu chúng ta chỉ nghĩ về hai sự thật đầu củaBốn Sự Thật Cao Quý mà không nghĩ mộtcách thích đáng về hai sự thật tiếp theo, nó sẽ không phục vụ cho mục tiêu giảithoát. Đôi khi người ta có thể khôngkhoan dung về sự thụ động, không hoạt động,và bi quan của hành giả nếu người ấy chỉ nghĩ về hai sự thật đầu là khổ đế và tậpđế. Vì vậy, hãy cố gắng cân bằng và cố gắngđể thấu hiểu hai sự thật tiêu cực cũng như hai sự thật tích cực, diệt đế và đạođế. Rồi thì chúng ta sẽ có một đường hướnghay mục tiêu rõ ràng, và một sự thấu hiểu rõ hơn và thực chứng về bản chất củachúng. Tự động, chúng ta sẽ cảm thấychán nản với những tư tưởng tiêu cực và điều ấy là rất quan trọng. Một cách thực tế, kẻ thù thật sự của chúng ta- kẻ gây rối hay tàn phá hạnh phúc của chúng ta - là ở bên trong chính chúngta. Thí dụ, giận dữ, thù hận, luyến ái vàtham lam cực độ là những kẻ tàn phá niềm hòa bình nội tại của chúng ta, trái lạikẻ thù ngoại tại, bất kẻ là mạnh mẽ thế nào, đơn giản là không thể tàn phá niềmhòa bình nội tại. Nếu ngươi nào tĩnh lặngvà hòa bình tinh thần, thì không hề gì ngay cả nếu người ấy bị bao vây bởi nhữngkẻ thù địch bởi vì người ấy sẽ cảm thấy rất ít quấy nhiễu. Trái lại, nếu chúng ta tinh thần không vui vẻ,bất ổn hay xáo trộn, ngay cả nếu chung quanh chúng ta là những người bạn thânhay tiện nghi bậc nhất, chúng ta cũng không cảm thấy hòa bình và hạnhphúc. Do vậy, hòa bình nội tại và cộinguồn của nó là sự ngừng dứt chắc chắn hay kết quả của sự tĩnh lặng và ổn địnhcủa tâm thức. Vì thế, nguyên nhân chắcchắn và cứu kính của sự tĩnh lặng và hạnh phúc tinh thần không thể là bất cứnhân tố ngoại tại nào cả.

Nguồngốc căn bản của sự hòa bình tinh thần có thể bị hủy diệt bởi sự giận dữ và nhữngcảm xúc tiêu cực của chúng ta. Một ngườithông tuệ sẽ không cho phép giận dữ hay thù hận tự biểu hiện bởi vì không ai muốnkhốn đốn hay khổ đau. Nếu chúng ta muốnđạt được hạnh phúc, chúng ta phải chămsóc đến nguồn gốc căn bản của hạnh phúc. Chúng ta phải thực tập từ ái, bi mẫn, ân cần, và cố gắng giảm thiểu giậndữ. Những thứ này không phải thuộc tôngiáo nhưng chúng liên quan đến hạnh phúc hàng ngày của chúng ta.

Ởtrình độ thông thường, khi những tư tưởng tiêu cực của giận dữ và luyến ái sinhkhởi, thì chúng xuất hiện tác động và hữu ích. Thí dụ, khi chúng ta đối diện một rắc rối, mất mát hay thất bại, sự giậndữ đến như một kẻ bảo vệ hay hổ trợ. Giậndữ nói với chúng ta đừng sợ và cho phép nó tự biểu lộ. Một người giận dữ hầu như điên khùng và sử dụngnhững ngôn ngữ cay nghiệt hay thỏa thích trong những hành động tổn hại thân thể,v.v… Trong một cách, giận dữ cho chúngta sự gan dạ liều lĩnh hay sức mạnh. Tương tự thế, khi luyến ái sinh khởi, nó đến như một người bạn thân nhấtvà gần gũi nhất. Do vậy, ngoại trừ chúngta phân tích một cách thật chân thành và nghiêm túc, không thì thật khó khăn đểnhận ra những tư tưởng tiêu cực và phẩm chất sai lầm tiêu cực của chúng.

Khigiận dữ khống chế tâm thức chúng ta, đôi khi chúng ta sử dụng những ngôn ngữcay nghiệt và khó chịu. Nhưng khi cơn giậnhạ xuống, chúng ta cảm thấy ngượng ngùng rút lại lời nói và chúng ta tránh gặpgở người mà chúng ta đã có những sự bất hòa. Điều này cho thấy rằng một cách căn bản chúng ta không muốn sử dụng nhữnglời không đẹp, nhưng sự giận dữ vào lúc ấy đã làm chúng ta mất sự kiểmsoát. Do vậy, giận dữ là kẻ thù, không hữuích và không đáng tin cậy. Trong một sốtrường hợp khác, chúng ta cần một biện pháp mạnh mẽ chống lại giận dữ. Khi điều gì đó xảy ra, hãy phân tích và khảosát hoàn cảnh từ đầu đến cuối. Nếu nó cầnmột biện pháp hiệu quả, hãy thực hiện mà không có sự giận dữ, như vậy bất cứhành vi nào bị thúc đẩy bởi giận dữ sẽ bị vô hiệu hóa. Cũng thế, trong nhiều trường hợp, những quyếtđịnh được tiếp nhận dưới ảnh hưởng của giận dữ thường được thấy là sai lầm. Thù hận và giận dữ làm cho chúng ta ăn khôngngon và ngủ không yên, và chúng ta khổ não về tinh thần. Kẻ thù thật sự cảm thấy vui mừng khi thấychúng ta bị căng thẳng. Trái lại, nếuchúng ta vẫn tĩnh lặng và tình cảm rất vui vẻ, kẻ thù không thấy hài lòng chútnào. Xa hơn thế, giận dữ thật sự phá hoạisự phán xét của chúng ta, có thể nhận thấy rõ qua những hậu quả ngắn hạn haylâu dài. Có một kẻ thù là hữu ích bởi vìnó cho chúng ta cơ hội để thực tập nhẫn nại và bao dung. Sự thực tập này là cần thiết cao độ cho việcphát triển một lòng bi mẫn và từ ái chân thành.

Chúngta không thể học hỏi sự kiên nhẫn và bao dung từ một vị đạo sư hay một người bạn. Chúng chỉ có thể được thực hành khi chúng tachạm trán với người nào đó tạo nên kinh nghiệm khó chịu. Theo Tịch Thiên, những kẻ thù thật là tốt chochúng ta khi chúng ta có thể học hỏi rất nhiều ở họ và xây dựng một sức mạnh nộitại. Sự thực tập về lòng từ ái và bi mẫnkhông chỉ là sự tu tập tôn giáo hay một vấn để thánh thiện, mà là một vấn đề củasự tồn tại. Trong dạng thức của loài người,tôi nghĩ nền kinh tế đang đối diện với cuộc khủng hoảng toàn cầu, và dĩ nhiên,có một câu hỏi cho hòa bình thế giới. Trong mọi lãnh vực, nhân tố quan trọng là bi mẫn và một trái tim tốtlành. Ở đây, chúng ta phải phân biệt giữayêu thương và bi mẫn. Thông thường ngườita không nhẫn nại trong tình thương, khi tình thương bị trộn lẫn hay bị ô nhiễmvới dính mắc. Biểu hiện của sự ô nhiễmnhư vậy là tình thương của chúng ta bị lệ thuộc trên vấn đề người kia đáp ứng vớichúng ta như thế nào. Thí dụ, nếu ai đấythật gần gũi với chúng ta , và điều gì đấy không vừa ý nảy sinh, thái độ củachúng ta thay đổi ngay lập tức và tình thương biến mất. Tuy nhiên, có một loại tình thương khác làchân thành, nơi mà chúng ta nhận ra người kia là một người giống như chínhchúng ta cũng muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, và người có mọi quyền chínhđáng để vượt thắng khổ đau và đạt đến hạnh phúc. Trên căn bản ấy, một tình thương chân thành,là lòng từ ái và ân cần được phát triển và được duy trì trong quan hệ như vậy.

Khichúng ta nói về tầm quan trọng của tình thương và lòng ân cần, chúng ta liên hệđến tình thương chân thành, lòng từ ái, chứ không phải tình thương và ân cần bịảnh hưởng sâu đậm bởi si mê. Đôi khi người ta nói rằng khi giận dữ sinh khởi, tốthơn là biểu lộ nó hơn là che dấu hay đè nén chúng. Dĩ nhiên, có những trình độ khác nhau của sânhận. Điều trước nhất và quan trọng nhấtlà nhận ra tính tiêu cực của giận dữ và thù hận. Một khi chúng ta tin chắc về điều ấy, tựnhiên chúng ta cố gắng để tự tạo khoảng cách với giận dữ và thù hận. Tuy thế nếu sự giận dữ mãnh liệt sinh khởi,và khó khân để đè nén, duy hãy cố gắng quên đối tượng của giận dữ. Thí dụ, chính sự thực tập và kinh nghiệm củatôi. Tôi đến từ vùng Amdo[1],vùng Đông Bắc của Tây Tạng. Người dânvùng ấy thường được xem như rất dễ nóng giận. Khi tôi còn trẻ, thậm chí tôi cũng có thói xấu ấy. Khi thời gian trôi qua, tôi đã thực tập nhữngthứ này để chinh phục tâm thức tôi. Sựgiận dữ của tôi đã giảm thiểu một cách đáng kể. Trong những trường hợp nào đó, sự giận dữ hay phát cáu cũng phát sinhnhưng chúng biến đi một cách nhanh chóng. Và tôi thật là khó mà có bất cứ cảmnhận thù hận nào.

Vậythì, chính là qua việc thực tập mà chúng ta có thể sự phát triển nội tại củachúng ta. Có một khả năng cho việc thayđổi. Nhằm để thay đổi, trước nhất chúngta phải tự thay đổi chính mình. Nếuchúng ta không thay đổi, không điều gì có thể đổi thay, và việc mong đợi nhữngthứ khác thay đổi là hoàn toàn không thực tế. Tâm thức con người luôn luôn thay đổi; và nếu chúng ta thực hiện một nổlực nào đó trong một đường hướng đúng đắn, một cách căn bản những thay đổi tinhthần sẽ xảy ra và chúng ta có thể đón nhận một niềm hòa bình và hạnh phúc vôbiên mà không có bất cứ sự đau đớn hay tổn phí nào cả. Hòa bình và hạnh phúc phải được phát triểnbên trong chính chúng ta. Như Đức Phậtnói, "Ta là thầy của chính ta. Tương lai của ta hoàn toàn lệ thuộc trên chính ta. Không ai khác có thể săn sóc tương lai của tavà hiện tại nằm trên vai chính ta."

ConstitutionClub Lawns, 1988

Nguyêntác: trích từ bài The Two Truthstrong quyểnLive in a Better Way

ẨnTâm Lộ ngày 30/9/2012 10:44:42 AM

Đức Dalai Lama nói về Phật giáo ứng dụng (1)

Đức Dalai Lama nói về Phật giáo ứng dụng (2)

Đức Dalai Lama nói về Phật giáo ứng dụng (3)

Đức Dalai Lama nói về Phật giáo ứng dụng (4)

Đức Dalai Lamanói về Phật giáo ứng dụng (5)



[1]Nay là vùng Thanh Hải, một tỉnh Tây Bắc của Trung Hoa.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn