Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương 16: Những câu hỏi thêm

25/04/201319:52(Xem: 1278)
Chương 16: Những câu hỏi thêm


Những vị Thiền sư đương thời

Tỳ kheo Thiện Minh dịch Việt

Sài Gòn, 1999

---o0o---

Chương XVI

Những câu hỏi thêm

---o0o---

Trong chương này người chủ bút phỏng vấn tác giả. Các câu hỏi được nêu ra để làm sáng tỏ và mở rộng những lời dạy đã được trình bày trong những chương trước.

Jacle Kornfield đã theo học với nhiều vị thầy tổ được giới thiệu ở đây và thường xuyên dạy những khóa thiền, ở Hoa Kỳ và Canada.

Hỏi: Tôi xin được phép hỏi ông một số câu hỏi đặc biệt về tài liệu trong cuốn sách này. Trước tiên, ông cảm thấy điểm nào quan trọng nhất được thực hiện để xuất bản tuyển tập này?

Ðáp: Tuyển tập này trình bày sự phong phú và đa dạng của Phật giáo Nguyên thủy đương đại. Nó giúp cho chúng ta thấy được nhiều phong cách và kĩ thuật tu tập thiền phản ánh với nhiều quan điểm khác nhau và những phẩm chất của các vị thầy. Tuy vậy nó cũng cho thấy rằng tất cả những lời dạy này đều đến cùng một căn bản với sự nhận thức sâu xa biết bao; cùng một giáo pháp. Tôi hy vọng cuốn sách này sẽ giúp đỡ độc giả chọn ra một phương pháp thiền thích hợp và tạo cho người ấy đầy cảm hứng trong việc tu tập, và nếm được hương vị của giáo pháp.

Hỏi: Vai trò của vị thầy trong Phật giáo Nguyên thủy thì thế nào?

Ðáp: Phật giáo Nguyên thủy bao gồm nhiều phương pháp dạy đa dạng. Ở một số ngôi chùa một vị thầy trở nên một đối tượng yêu thương. Bạn theo dõi từng bước chân của ông ta, bạn bắt chước tư cách của vị thầy, bạn tuân theo lời giáo huấn với một mực kính trọng - Ở khía cạnh đó, vị thầy trở thành một người lãnh đạo tinh thần. Ở những ngôi chùa khác, chẳng hạn như chùa của ngài Buddhadasa, vị thầy chỉ xem mình là một người bạn tốt. Nếu quý vị cần một ý kiến về thiền định, ông ta sẽ hướng dẫn cho quý vị từ những kinh nghiệm đã trải qua. Ông ta rất giản dị, trung thực, và trò chuyện với quý vị như một người bạn.

Mối quan hệ thầy trò rất tuyệt vời. Một số vị thầy dùng những lời nói êm dịu để diễn tả giáo pháp. Những trạng thái tâm và hành động của họ là một tấm gương để hưởng ứng và tuân theo sự trong sạch mà không có đánh giá cử chỉ đó là sự giác ngộ mà quý vị đang cố gắng tu tập. Một mặt khác, một số vị thầy đã hướng dẫn các thiền sinh với một phương pháp hết sức khắc nghiệt. Họ dùng sự khắc khe này để giúp quý vị vượt qua cá tính bình thường và sự chấp thủ. Có vị thầy dùng những kỷ xảo để giúp quý vị quân bình tâm. Họ đặt quý vị vào một tình huống mà họ biết nó sẽ buộc quý vị nhìn thấy rõ ràng những ham muốn tiềm ẩn của quý vị. Hoặc họ có thể khuyến khích quý vị thực hành những bài tập đặc biệt gây khó khăn với quý vị. Họ có thể tạo cảm hứng cho quý vị bằng những câu chuyện kỳ bí, hoặc tác động, tán tỉnh, trêu ghẹo, mỉa mai, hoặc thậm chí phớt lờ quý vị. Họ sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết để đoạn trừ những quan điểm lạ lùng hoặc sự chấp thủ mà quý vị có thể có và để đưa quý vị trở lại sự quân bình. Các vị thầy cũng dùng những phương tiện khác nhau để bình thường hóa yếu tố tinh thần, chẳng hạn như tình thương, sự tập trung hoặc năng lực. Ví dụ, nếu có quá nhiều năng lực và quá ít sự tập trung trong việc tu tập, họ có thể thuyết phục quý vị ngồi bất động trong một thời gian dài, hoặc nếu có nhiều sự khó chịu, họ có thể khuyên tập đề mục thiền tâm từ, lập lại sự quân bình. Họ sử dụng tất cả mọi phương pháp và những kĩ thuật đã được sàng lọc từ việc tu tập của họ. Hoặc là họ có tính nóng nảy làm cho họ nghiêm khắc, hoặc tính khí dịu dàng, họ dùng bất cứ điều gì có khả năng để giúp quý vị không còn chấp thủ - những vị thầy tài giỏi sẽ không để cho quý vị phụ thuộc vào họ hoặc sự hướng dẫn của họ. Họ sẽ hướng dẫn quí vị tìm ra cho bản thân một sự thật nội tâm không bị ràng buộc bởi quyền lực bên ngoài, quan điểm trong sáng và hoàn toàn giải thoát.

Hỏi: Có quan điểm cho rằng vị thầy sẽ giúp cho quý vị một phương pháp đặc biệt để thích hợp cho sự mâu thuẫn cá nhân của quý vị với ý tưởng rằng tất cả mọi con đường giải thoát đều giống nhau phải không?

Ðáp: Một trong những kỷ xảo tuyệt vời nhất thường là các vị thầy sẽ nói, "phương pháp của tôi là tốt nhất, trực tiếp nhất và nhanh nhất." Ðiều đó làm cho thiền sinh đủ lòng tin để dồn hết nghị lực và sự cố gắng để tiếp tục tu tập những điểm khó khăn khó thể khắc phục, và bằng cách ấy đạt được những kết quả tốt. Ðiều này không bị mâu thuẫn với sự kiện là thật sự có nhiều phương pháp tu tập dẫn đến sự giải thoát cuối cùng. Thông thường, khi lần đầu tiên quí vị đến những vị thầy họ sẽ giảng giáo pháp rất thoáng để thu hút sự quan tâm của quí vị. Một khi quí vị khởi sự tu tập thiền họ sẽ hướng dẫn quí vị vào một sự tu tập đặc biệt hơn và đương đầu với những khó khăn nảy sinh từ phương pháp đó. Một phần kỹ năng của vị thầy liên quan tác động với điều nghịch lý này, có thể làm sáng tỏ toàn bộ sự thật cho bạn và cùng một lúc, hướng dẫn sự nỗ lực và sự tập trung của quí vị theo một phương pháp đặc biệt sẽ mang lại kết quả cho việc tu tập của quí vị.

Như tôi đã đề cập ban đầu, việc tìm kiếm một vị thầy, sự chọn lựa có thể đến từ trực giác của quí vị cho là đúng, về người thầy nào, và phương pháp nào thu hút quí vị. Nó có thể đến từ sự ham muốn đạt được quân bình. Nếu bạn không giữ kỷ luật tốt thì tốt hơn là nên tìm một người sẽ khuyến khích quí vị giữ kỷ luật. Một mặc khác, nếu quí vị là một người hết sức nghiêm túc, thì rất tốt cho quí vị tìm được một vị thầy giúp quí vị buông thả, thoải mái và chỉ để nó tiến triển. Có vô số yếu tố liên quan đến.

Ðức Phật dạy rằng rất tốt cho những người sống gần gũi với vị thầy đầu tiên ít nhất là năm năm. Cần nhớ rằng không đặt thành vấn đề về con đường nào mà người ấy chọn lựa, hiếm khi có sự giác ngộ đến nhanh chóng và ngay tức khắc. Hình ảnh đức Phật sử dụng là đáy biển dần dần thoai thoải xuống sâu hơn, một sự phát triển dần dần, về sự thanh thản dù có bất cứ sự thay đổi, về trí tuệ và sự hiểu biết.

Như vậy, quí vị có thể đi tìm tòi một phương pháp tốt hơn trong một lúc nào đó và thậm chí có thể thử thách một số phương pháp trong một khoảng thời gian khác nhưng rồi điều cần thiết là phải khép vào kỷ luật và trụ lại với bất cứ hệ thống nào mà quí vị chọn để tu tập trong một thời gian dài.

Hỏi: Xin cho biết quan điểm về việc tìm kiếm một phương pháp tốt hơn, điều này mang tính cách kiểu Mỹ hoặc phương Tây. Có phải điều này bao hàm rằng, nếu sự cảm nhận đầu tiên của một phương pháp không được trọn vẹn như ông mong đợi, ông sẽ đứng dậy, bỏ đi và đến với một người nào khác?

Ðáp: Không hẳn như thế. Mặc dù tôi đã gặp khó khăn trong việc chấp nhận tức thời một hoặc hai vị thầy của tôi. Tôi theo học với họ bởi vì tôi nhận thấy rõ ràng họ có nhiều điều mà tôi cần học hỏi. Sau đó tôi nhận ra nhiều về vấn đề của tôi là sự chấp thủ về hình tượng một vị thầy. Dù rằng tôi cảm thấy khó chịu do bởi tu viện, hoặc cá nhân của họ hoặc một số khía cạnh đặc biệt về sự giáo huấn, những điều đó đã không làm lu mờ sự quan tâm thật sự và niềm tin về giá trị tối cao và những gì các vị thầy đã giáo huấn. Ðể trở nên cởi mở và phá vỡ những hoang tưởng và thành kiến, điều hữu ích để tìm kiếm đó là giáo pháp được xem như những lời "giáo huấn" hơn là "các vị thầy". Bằng cách này chúng ta trở nên thông thoáng để sử dụng tất cả các tình huống như là những nơi để tu tập, học hỏi và phát triển. Cùng với cách này, chúng ta có thể dùng những lời dạy tốt mà không bị vướng mắc vào hình thức của một vị thầy - người đã chia sẻ những lời dạy - Trong việc chọn lựa một vị thầy, quí vị càng thoải mái, quí vị càng có thể dễ dàng tìm được người và tình huống thích hợp cho mình vào lúc này. Sự cởi mở và lòng tin là quan trọng.

Hỏi: Sự việc có vẻ quan trọng để hiểu rằng sự tìm kiếm một vị thầy hoặc một phương pháp thì không giống như việc đi mua sắm một chiếc xe hơi. Sự thật là người thầy và phương pháp phù hợp cho quí vị thì không cần thiết những người đó làm cho quý vị cảm thấy tốt nhất hoặc thoải mái nhất?

Ðáp: Ðiều đó đúng. Bản chất của việc tu tập trong Phật giáo là nhìn thật rõ ràng bản thân của mình, toàn bộ tiến trình thân tâm của một người. Một trong những điều mà quý vị nhận thức là sự khổ đau do bởi sự chấp thủ của quí vị. Không đặt thành vấn đề con đường quý vị chọn lựa. Cuối cùng sẽ có đau đớn và khó khăn như là một phần của toàn bộ sự mở rộng tuệ giác trong sự tu tập của quí vị. Lời dạy (giáo pháp) sẽ thay đổi ra sao khi đầu tiên nó xuất hiện và việc hành thiền của quí vị sẽ phát triển sự hiểu biết không được rõ ràng lắm trong những bước ban đầu. Hãy chọn một người thầy bạn đặt lòng tin chứ không phải người làm cho bạn cảm thấy thoải mái.

Hỏi: Có thể nào vệc hành thiền được tiến bộ mà không cần đến các khoá tu tích cực, xa rời đời sống thường ngày?

Ðáp: Người ta có thể tiến bộ trong giáo pháp mà không cần tu tập tích cực, chỉ đơn thuần phát triển sự chánh niệm tự nhiên theo như phương pháp của ngài Achaan Chaa hoặc Achaan Buddhadasa. Cùng lúc đó, việc tu tập quyết liệt cũng cực kỳ giá trị. Nhưng tôi xin đề nghị một phương pháp tu tập quân bình là tốt nhất, đôi lúc giành một thời gian tu tập quyết liệt, đôi lúc hòa nhập với mọi người. Qua sự tu tập quyết liệt người ta có thể phát huy sự tập trung mạnh mẽ, những tuệ giác sâu sắc ở các chân lý về những gì đức Phật đã dạy, một đức tin mạnh mẽ và sự phát triển vững chắc. Bằng cách kết hợp sự tu tập quyết liệt cùng trong sự chánh niệm trong đời sống hàng ngày, không cần có khuynh hướng cuộc sống của một người sẽ tách rời với việc tu tập. Sẽ có cơ hội để kết hợp thiền quán trong sự cách ly với những hoạt động của đời sống thường nhật cùng với những mối quan hệ với những người khác. Ngược lại, với sự tu tập sâu sắc người ta có thể nhận được những vấn đề phát sinh từ sự tiếp xúc trong xã hội hàng ngày và nhận thức được vấn đề sâu sa: những chấp thủ và sự đoạn trừ được chúng. Trí tuệ sẽ phát triển trong việc tu tập tích cực lẫn bình thường trong cuộc sống hàng ngày. Do bởi việc thường xuyên cách ly, người đó phải quan sát những nhu cầu của bản thân họ và tìm một hướng đi cho mình. Toàn bộ tiến trình chỉ là một sự quan sát, thẩm xét và thí nghiệm. Quí vị phải nhận biết, theo dõi, quan sát ngay sự tu tập của mình. Ðó là tất cả. Ðó là điều cơ bản thật sự?

Hỏi: Tất cả điều này dẫn đến đâu?

Ðáp: Dẫn đến sự giải thoát. Nó dẫn đến việc sống rõ hơn trong từng khoảnh khắc, cảm nhận đầy đủ những gì xảy ra, không chấp thủ vào nó. Không hoan hỉ mọi vấn đề với những định kiến, nhưng nhận thức bản chất của chúng rõ ràng. Sự việc này dẫn đến sự đoạn trừ chấp thủ và vì vậy bớt khổ đau, ích kỷ mà có nghĩa thêm tình thương và vui sướng hơn, thêm nhiều từ bi cho những chúng sinh khác và càng phát triển thêm với những gì đang trôi chảy. Nó dẫn đến một sự nhận thức rằng bản thân con người là tiến trình thân tâm này. Chẳng có điều gì bí mật đằng sau nó, chẳng có điều gì để có, để đạt.

Hỏi: Có thể nào đạt được giác ngộ và thực chứng Níp-bàn trong cõi đời này không?

Ðáp: Có một số định nghĩa về Níp-bàn. Có Níp-bàn tối cao được mô tả là khi ở nơi đó không còn bất cứ sự chấp thủ bất cứ điều gì ở cuối cùng của cuộc sống đặc biệt này. Không có sự chấp thủ, cuối cùng sẽ chấm dứt lực ham muốn tiếp tục đi vào vòng sinh tử luân hồi, không còn tái sinh. Như thế có Níp-bàn, đạo quả A-la-hán. Một sự giác ngộ hoàn toàn trong thế gian này, giải thoát khỏi hiện tại. Một vị A-la-hán không còn ích kỷ tham, sân, si hoặc bất cứ ảo tưởng nào phát sinh trong tâm. Ðể đưa nó đi một hướng khác, vị A La Hán luôn chánh niệm từng sát-na. Với đầy đủ chánh niệm. Một cuộc sống của vị A-la-hán thì luôn quân bình và đầy tình thương. Chúng ta có thể cảm nhận một điều gì giống như Níp-bàn của A-la-hán tại thế, chúng ta phải đầy đủ chánh niệm. Ở mọi khoảnh khắc, chúng ta đều phải thoát khỏi sự dính mắc và chấp thủ, trạng thái tâm tỉnh giác an lạc là loại Níp-bàn. Và khi tâm trở nên vắng lặng hơn nhiều chúng ta có thể đi đến sự hiểu biết rằng không có thời gian và chuyển động ở giữa thế giới nguyên trạng và thay đổi.

Níp-bàn cũng đề cập đến một trạng thái mà hành giả có thể cảm nhận được. Hương vị đầu tiên của trạng thái này là "nhập lưu", là sát-na của sự cảm nhận, của trạng thái đoạn trừ hoàn toàn, vượt qua tiến trình thân tâm. Ðây là sự vắng lặng hoàn toàn và an lạc, vượt qua sự chuyển động, sự biết, sự đoạn trừ và cả thế giới này. Ở một vài hình thức hành thiền, và thậm chí một vài chỗ trong kinh điển, tình trạng đặc biệt này được xem là mục đích cuối cùng - ngay cả trí tuệ và tuệ giác được chứng nghiệm ở những bậc thềm dẫn vào giai đoạn này.

Tuy thế, đức Phật luôn luôn tuyên bố sự tu tập là sự nhận ra được đau khổ và chấm dứt đau khổ. Cảm nhận được trạng thái này là đã vượt qua được tiến trình thân tâm, chỉ là sự chấm dứt tạm thời khổ đau. Nó cực kỳ sâu sắc, thâm diệu. Nó giúp ta thấy được bản chất ảo giác về điều chúng ta gọi là "cái ngã", nó rất thâm diệu sự ưa thích sự chấp thủ, nó có thể đoạn trừ tận gốc những xấu xa và phiền não. Tuy vậy quí vị không bám víu nó khi nó xuất hiện qua. Cho tới khi người ấy đạt được một trạng thái A-la-hán giải thoát trọn vẹn. Ở đó không còn sự chấp thủ và ham muốn, người ấy vẫn phải tiếp tục tu tập. Sự cảm nhận ở lĩnh vực này vượt qua sự chuyển động, một sự an lạc hoàn toàn, sẽ làm việc tu tập của quí vị sâu sắc hơn. Và đó là hình ảnh sự tu tập của bạn tiến đến chính xác, nhưng chính bản thân nó không phải là chấm dứt việc tu tập và không thể dính mắc vào nó. Sự kết thúc của sự tu tập này là vượt qua được sự chấp thủ, ích kỷ, hoàn toàn giải thoát và từ bi với tất cả chúng sinh.

Hỏi: Quí vị có thể nói về phương pháp tu tập từ mức độ "không tác ý" ngược lại với sự tương quan trong việc cố đạt được giác ngộ?

Ðáp: Khi một người tiến sâu hơn và việc tu tập và quan sát nhiều hơn về bản chất sự việc, người ấy càng trở nên thoải mái không còn mâu thuẫn. Trong trường hợp này chúng ta sẽ nói về sự mâu thuẫn được mô tả về việc tu tập "không tác ý từ mức độ tuyệt đối, và cũng là chân lí của mức độ tương quan của tác ý" những con đường đặc biệt cũng như phương pháp. Có một sự khó khăn trong sự chấp thủ về sự tuyệt đối. Trong thực tế, nếu như người ta có thể cảm thấy tất cả điều này là một ảo giác (ảo tưởng), họ không cần làm bất cứ điều gì. Nhưng họ cần phải làm một cái gì đó bởi vì họ vẫn còn vướng mắc cái ảo giác đó. Dù bất cứ thế nào, bất cứ ở đâu, họ phải nhận chân nó là một sự thật. Thậm chí những vị thầy giống như Achaan Chaa và Achaan Buddhadasa vẫn khuyến khích quý vị tu tập tâm chánh niệm, nhận thức những gì đang xảy ra. Không đặt thành vấn đề quý vị đang đạt được điều gì, một điều đặc biệt, nhưng quý vị phải nhận thức rõ ràng hơn về bản chất thật về những gì tồn tại ở đó. Nó không phải là nỗ lực để đạt được sự thành tựu hoặc thực hiện một điều gì đặc biệt. Nó đơn thuần chỉ là một sự nỗ lực về sự nhận biết (thức). Như thế dù không đạt được sự thành tựu hoặc trở thành một cái gì đó, chúng ta vẫn cố gắng tu tập để vượt qua được ảo tưởng và sự vô minh của chúng ta. Tất cả những phương pháp trong cuốn sách này đơn thuần chỉ là những phương tiện khéo léo.

Ðức Phật mô tả những lời dạy của ngài như là một chiếc bè. Chiếc bè này được dùng để vượt qua đại dương của ảo giác. Khi bạn ở bên kia bờ, quý vị không còn cần để đến những chân lý tương đối này nữa; quý vị có thể bỏ cái bè đi hoặc dùng nó để giúp đỡ những người khác vượt qua. Ðức Phật cũng nói về sự tuyệt đối trong kinh điển. Ngài nói những lời dạy và những phương pháp không phải toàn bộ là giáo pháp. Giáo pháp là chân lý và vượt qua những ngôn từ, lời dạy, phương pháp (mức độ tương đối của những ý niệm và những phương pháp tu tập khác nhau).

Hỏi: Mức độ cần thiết để nỗ lực là bao nhiêu trong việc tu tập?

Ðáp: Nó có thể đòi hỏi một nỗ lực lớn lao. Ðức Phật thường hướng dẫn các hành giả dồn hết nỗ lực cho một số phương pháp nào đó để tập trung, để đi thẳng đến sự chú tâm, hoặc thậm chí đến trực tiếp đến tiến trình tâm thức (ý tưởng) vào việc tu tập, như ở trong Vi diệu pháp (Abhidhamma) của Mohnyin Sayadaw). Nỗ lực cần phải quân bình với sự thăng bằng hoặc tĩnh lặng của nội tâm và tập trung (định). Ðôi lúc một số hành giả có thể tu tập chánh niệm, ngồi im lặng trong khoảnh khắc, và vượt qua khỏi giai đoạn "không còn vướng bận" tập trung hết nỗ lực để đi vào sự nhận thức từng sát-na. Tuy thế, nó không phải luôn luôn là vậy, những lúc khác, nó có thể rất quân bình, hết sức thụt lùi, chỉ cần quan sát tiến trình khi nó diễn ra. Sự nỗ lực không đặt nặng về thân mà đơn thuần chỉ là sự nhận biết đầy đủ ở hiện tại, không tìm cách đạt hoặc thay đổi bất cứ điều gì. Ðó là chính là nỗ lực.

Hỏi: Cần có nỗ lực hay không để phá bỏ được phương cách chúng ta thường quen làm?

Ðáp: Ðôi lúc sự nỗ lực cần thiết để phá bỏ những khuôn mẫu về định kiến của chúng ta, thoát khỏi khuôn sáo về sự phản ứng đối với mọi người. Ðôi lúc nỗ lực này liên quan đến thân và tâm. Một trong những phương tu tập tích cực ở giáo pháp nguyên thủy liên quan đến sự việc ngồi thiền lâu dài mà không cử động, và tạo nên những khó chịu đau đớn tăng dần trong cơ thể. Phương pháp này của thiền sư Sunlun Sayadaw chỉ đơn thuần đòi hỏi ngồi, chịu đựng và thể nhập với nó. Cuối cùng sự tu tập đã phá bỏ được sự nhận thức bình thường của quý vị và phản ứng chống lại sự đau đớn và giúp quý vị thấy điều đó, nó không phải là quý vị. Dù rằng chính sự nỗ lực không phải là nguồn gốc của sự giải thoát. Sự giải thoát đạt được từ tuệ giác trong sạch đi đến sự cảm nhận về bản chất.

Ðáp: Giới luật được dạy bằng những phương cách có quy tắc thì hết sức mạnh mẽ và có giá trị trong việc phát huy sự tu tập. Trước hết người ta phải nhớ rằng nó giống như những kĩ thuật trong thiền, nó chỉ là một công cụ để giúp cho người ta cuối cùng đạt đến một nơi không có sự ích kỷ, một nơi có đạo đức và trí tuệ trôi chảy tự nhiên. Ở phương Tây có một huyền thoại rằng tự do có nghĩa là tự do tư tưởng - đó là theo đuổi những ham muốn bất cứ ở nơi nào họ tìm thấy nó là tự do thật sự. Thực tế, khi một người quan sát, theo dõi tâm, người ấy nhận thấy rằng theo đuổi những ham muốn, những sự quyến rũ, ác cảm toàn bộ không phải là tự do (giải thoát), mà là một hình thức ngục tù trói buộc. Tâm đầy ham muốn và bám víu những điều đầy đau khổ không tránh được. Tự do (giải thoát) không phải là đạt được bằng khả năng để hoàn thành những hoạt động ngoại cảnh nào đó. Sự giải thoát (tự do) thật sự là một trạng thái nội tâm của con người. Một khi người ta đã đạt được nó, không một tình huống nào trong thế gian có thể ràng buộc cản trở được sự tự do (giải thoát) của một con người. Ở trong mạch văn này chúng ta phải hiểu nó là giới luật, và quy tắc đạo đức thông thường, chúng ta chỉ đơn thuần dành thì giờ của mình phản ứng lại với những tác nhân bằng những cách mà chúng ta đã có khuôn mẫu. Thông thường thì điều kiện này thật mạnh mẽ và mang lại những tình huống, trong đó chúng ta đóng vai trò ích kỷ theo những cách làm tổn thương những người chung quanh ta. Bằng cách theo dõi giới luật, chúng ta bắt đầu đặt ra những giới hạn để chúng ta phải tuân theo, những phản ứng quen thuộc và những ham muốn của chúng ta đến chừng mực nào. Chúng ta dừng lại xác nhận chúng một cách mạnh mẽ và nói "Hãy đợi đấy. Tôi sẽ dừng lại một phút và đơn thuần theo dõi bản chất của tiến trình này" còn hơn là bị ràng buộc với tất cả những ham muốn và những sự thôi thúc xảy đến. Ðó là sự dừng lại, quan sát, và không bị dính vào mạng lưới của sự phản ứng mà sẽ dẫn chúng ta đến sự giải thoát.

Năm giới luật (ngũ giới) của Phật giáo là:

1. Không sát sinh, không tiêu diệt bất cứ đời sống của bất cứ chúng sinh nào, bởi vì luôn luôn có sự bất mãn, hoặc ích kỷ trong tâm khi kết liễu một sự sống;

2. Không trộm cắp, bởi vì trộm cắp phát sinh ra từ sự ích kỷ, từ sự ham muốn của một người, muốn tạo hạnh phúc riêng cho bản thân, gây tổn thất cho những người khác (cũng như tìm hạnh phúc bằng vật chất và thoải mái) ở đó hạnh phúc thậm chí không có;

3. Không nói dối, một lần nữa giới luật thì rõ ràng đến từ ý tưởng, có một điều gì đó để che giấu, bảo vệ trong cái tâm ích kỷ;

4. Không tà dâm nghĩa là không thực hiện những hành động tình dục mà có thể gây đau đớn, phiền não cho những người khác (ngoại tình là một ví dụ điển hình); và cuối cùng,

5. Không dùng các chất say làm tâm bị u mê và ảo giác dẫn đến sự phá bỏ các giới luật khác hoặc mất đi sự tỉnh giác, là chìa khoá mở ra sự hiểu biết và tình thương.

Khi một người tuân theo những giới luật này, theo truyền thống Phật giáo, người ta dùng một câu là: "Tôi xin tuân giữ điều luật là tránh xa sự sát sinh, ...". Ðiều này được giải thích rằng đây không phải là một điều luật đạo đức tuyệt đối, đối với tiêu chuẩn đạo đức tuyệt đối được phát sinh từ sự hỉ xả ở một chúng sinh (con người). Giới luật là nguyên tắc mà ta phải tuân theo, để giúp cho tâm phát huy được sự tĩnh lặng và sẽ dẫn đến sự nhận thức được bản chất của vạn vật, để giúp người ta hòa hợp với thế giới xung quanh.

Các điều giới luật có sức mạnh vô song. Ví dụ không nói lời dối trá, dù ở hoàn cảnh nào, duy nhất điều này có thể là toàn bộ giới luật và sự tu tập của một người. Về khía cạnh này, đối với những chúng sinh khác, nó có nghĩa là không trình bày sai lạc bất cứ điều gì, phải thực sự có chánh niệm, và biết được những gì đang được nói và thực hiện, nó phản ánh sự thật một cách rõ ràng và trung thực những gì mà người ta cảm nhận được. Bất cứ ai sống thẳng thắng, trung thực đều được sự ngưỡng mộ, kính trọng. Một sức mạnh kỳ diệu là ở bất cứ nơi nào, quý vị đều nhận ra được người này. Người sống có giới luật không bị lôi kéo và bị ảnh hưởng bởi những ham muốn khác, bởi tất cả những thôi thúc của tâm, thực tế, chúng là sự đối nghịch của sự giải thoát (tự do). Nếu hành giả tu tập theo đuổi giới luật này hay giới luật tự nhiên, không lừa dối bản thân, không nhìn sai bản chất thật của sự việc, mà nhìn những sự việc với tâm chánh niệm, đầy sự tỉnh giác và có nhận thức, giới luật này trở thành toàn bộ sự tu tập của Phật giáo. Không chỉ dành cho Phật giáo mà thực sự cho tất cả các tôn giáo khác. Ngay khi một người trở nên hoàn toàn trung thực, trí tuệ của lòng vị tha tự động phát sinh. Người ấy trở nên đáng yêu theo tính cách tự nhiên bởi vì người ấy không còn tính cách đạt được hoặc trở thành một điều gì khác hơn là sự thật sẵn có.

Quý vị có thể bắt đầu nhận thấy lợi ích lớn lao có thể đạt được bằng cách tự mình tuân theo những giới luật này. Những gì đúng với giới luật là không trộm cắp. Nếu như quý vị hiểu điều này là không được lấy những gì mà người khác không cho phép, nó trở thành một phương tiện để nhận thấy toàn bộ những điều mà người ta sẽ thường hành động theo lối ích kỷ. Với một ý nghĩa lớn lao hơn, giới luật này làm cho chúng ta nhận biết bổn phận của mình để đóng góp sự công bằng cho thế gian, cũng như việc bảo vệ tài sản của xã hội. Ðiều cơ bản nhất là nó đề cập đến sự trau giồi khả năng để duy trì sự kiên quyết không bị chi phối bởi sự thay đổi liên tục của sự cảm nhận khổ đau lẫn khoái lạc. Sự đánh cắp do bởi cái ảo tưởng rằng có một bản ngã cần được bảo vệ, hoặc để làm hài lòng nó, hoặc như thể tìm thấy một giây phút thoải mái nơi có tự do và hạnh phúc thật sự. Thay vì hành động tham lam, người ta tìm hiểu để quan sát tiến trình của nó và đi đến trạng thái an lạc của tâm mà nó vượt xa sự tìm kiếm và bám víu những giây phút khoái lạc trong chốc lát. Mặc dù những giới luật này có vẻ rất đơn giản, nhưng dường như có thể đối nghịch với hành động không giới hạn như thể là một khái niệm về sự tự do (giải thoát), chúng trở thành một công cụ mạnh mẽ không thể tưởng tượng nổi. Trong sự phát huy một cái tâm giải thoát khi dùng chúng thích hợp, tôi không thể giúp đỡ ngoại trừ sự hỗ trợ thêm ở đây một phương pháp thiền của Nhật (zen) - đừng chấp thủ vào các giới luật một cách mù quáng hoặc dùng nó để đánh giá kẻ khác. Biết khi nào tuân giữ chúng và khi nào phá bỏ chúng.

Hỏi: Sự thiền định phát huy tuệ giác, và bây giờ giới hạnh phát huy tuệ giác; tuy thế cùng một lúc, tuệ giác có phát huy giới hạnh không?

Ðáp: Giáo pháp đang phát triển ở phương Tây theo một phong cách hoàn toàn khác biệt với sự tiến bộ truyền thống ở phương Ðông, người ta đang được dạy bảo liên tục phát huy giới luật, tập trung (định) và cuối cùng là tuệ giác. Sống một cuộc đời đạo đức làm cho tâm yên tĩnh và sau đó người ta có thể ngồi xuống hành thiền, phát huy sự tập trung cao độ và một cái tâm sâu sắc. Sau đó người ấy dùng cái tâm này để theo dõi và xem xét tiến trình bản thân họ là ai, phát huy sự quán tưởng vào tam tướng để dẫn đến tuệ giác và cuối cùng là giải thoát.

Ở phương Tây, một vài hình thức đã trở thành sự trái ngược. Nhiều người ở đây đã không bằng lòng với cuộc sống của mình hoặc với xã hội xung quanh họ. Một số người đã có cái nhìn thoáng qua những sự hiểu biết sâu sắc khác xuyên qua ảo tưởng. Một số hiểu biết này đã nảy sanh trước đây. Họ thường trải qua hương vị của tuệ giác để tìm hiểu sự tập trung, để khám phá những hình thức vắng lặng khác và trực tiếp trong tâm. Cuối cùng người ta nhận ra cả hai đều có sự liên hệ bản thân họ và xã hội, đó cũng là điều cơ bản để phát huy cách làm người mà không làm tổn thương hoặc gây nguy hại cho những người khác ở chung quanh họ. Như thế ở phương Tây, chúng ta tìm thấy sự phát huy (tu tập) trái ngược này - đầu tiên trí tuệ, sau đó đến thiền định và rồi đến giới đức; lẽ dĩ nhiên điều này theo chu kỳ sẽ phát huy, lần lượt sự tập trung cao độ hơn và trí tuệ hơn.

Hỏi: Có thể nào ta xem sự phát triển tinh thần của mình như là một sự tiến bộ tuyến tính?

Ðáp: Ở đây chúng ta quay trở lại câu hỏi nhìn vạn vật từ mức độ tuyệt đối hoặc thực tế tương đối. Trong sự dạy dỗ hoặc tu tập, rất ích lợi khi có sự suy nghĩ đến sự sâu sắc của thiền và tuệ giác khi sự phát triển thêm nhiều những khoảnh khắc của trí tuệ, qua một giai đoạn. Như thế, ở mức độ tương đối này, sự tu tập là một sự tiến bộ, một sự cải thiện qua thời gian. Trong thực tế, từ mức độ tuyệt đối, thời gian không tồn tại. Thời gian chỉ là một khái niệm, đôi khi chỉ một điều duy nhất tồn tại trong sự cảm nhận của chúng ta. Chỉ có một khoảnh khắc hiện tại. Sự sử dụng thời gian và sử dụng từ ngữ con đường chỉ là một cách tương đối của ngôn ngữ. Với sự hiểu biết tuyệt đối, chúng ta đạt tới một tình trạng hoàn hảo trong giây phút hiện tiền và con đường đạo hạnh đã hoàn tất. Không còn sự cải thiện, chỉ ngay giây phút này. Tuy thế tất cả các vị thầy vĩ đại nhất của chúng ta bao gồm luôn đức Phật, Pamana Maharshi, và Lão tử dùng những ý niệm chẳng hạn như những điều này được tìm cách truyền đạt sự hiện thực tuyệt đối với những người theo cách họ có thể hiểu được. Người ta nói rằng đức Phật đã phải nhắc nhở những đệ tử của ngài "Khi Như Lai nói về thời gian hoặc về bản thân, Như Lai không có ý muốn nói về "cái ngã", Như Lai không có ý muốn nói về "thời gian". Như Lai dùng những từ ngữ (thuật ngữ này) bằng một ý nghĩa tương đối để truyền đạt với một tính cách hữu ích mà nó sẽ rất ích lợi cho quý vị cảm nhận được bản chất trực tiếp của hiện thực".

Hỏi: Có phải tuệ giác luôn luôn xuất hiện theo một trật tự chắc chắn?

Ðáp: Khi việc tu tập phát triển, thường có một trật tự quen thuộc đối với sự thể nhập vào bản chất cuộc sống, càng lúc càng sâu hơn. Nó là một sự cảm nhận nổi bật để chứng thực bản thân hoặc những thiền giả khác đi qua những giai đoạn hài hòa của tuệ giác trên con đường đạo hạnh. Tuy thế một sự tiến bộ chính xác không luôn luôn diễn ra như thế đặc biệt với sự phát triển tự nhiên của trí tuệ như ngài Achaan Chaa hoặc Achaan Buddhadasa mô tả. Thay vì trải qua những giai đoạn, người ấy có thể chỉ cảm thấy một sự từ bỏ ham muốn và một sự biết (nhận thức) càng ngày càng rõ ràng hơn trong hiện tại, ngay với bản chất thật của nó, mà không còn chấp thủ. Ðiều này có thể xảy ra mà có sự cảm nhận tập trung sâu sắc với từng sát-na của những giai đoạn tuệ giác mà Achaan Naeb đã mô tả. Thậm chí khi người ấy trải qua những giai đoạn hài hòa này, người ấy có thể không cảm nhận từng giai đoạn của tuệ giác theo một tính cách khác nhau, nhưng dường như theo kinh nghiệm người ta có thể nhảy từ một mức độ cảm nhận này sang một mức độ cảm nhận khác. Ðôi lúc dường như sự tu tập giống như là một vòng xoắn ốc hoặc thậm chí là một tiến trình nhiều hướng nhiều chiều, đôi khi nó vượt xa ý niệm của sự phát triển.

Hỏi: Làm thế nào người ta có thể tiếp cận được ý niệm thời gian và con đường tinh thần trong những giai đoạn tu tập?

Ðáp: Có một số câu trả lời. Một là phải cẩn thận đừng chấp nhận sự cảm nhận tuyệt đối có trí tuệ về thế gian. Nếu cứ nói, chẳng có gì để thực hiện, tất cả hoàn toàn rỗng không là tuyệt vời, nhưng nếu quý vị không cảm nhận nó trực tiếp và sâu sắc toàn bộ đều rỗng không, quý vị chỉ bám víu vào ý niệm của sự rỗng không. Ðiều này trở thành một hàng rào chắn khác đối với sự cảm nhận trực tiếp về bản chất của sự việc là thế nào, để mở rộng trí tuệ theo từng căn bản sát-na.

Ðể trả lời câu hỏi của quý vị, thật là hữu ích để quý vị nghĩ rằng, việc tu tập của chúng ta là một phần của cuộc hành trình vĩ đại và để phát huy một cái tâm bền bỉ hoặc như là Achaan Chaa thường nhấn mạnh, chỉ cần liên tục theo đưổi việc tu tập của quý vị mà không cần quan tâm quý vị đã tu tập được bao lâu. Một vị thiền sư nổi tiếng đã nói rằng việc tu tập đơn thuần mang ý nghĩa sửa đổi bản thân theo đúng hướng, đi theo con đường đạo hạnh và tiến bước (sự đi) - không đếm xỉa là bao nhiêu ngày, giờ hoặc những sự kiện đã trôi qua. Chính sự tiến bước là mục đích bởi mỗi sát-na (khoảnh khắc) mà quý vị chánh niệm đầy đủ trong giây phút hiện tiền, thoát khỏi tham, sân và ảo tưởng là khoảnh khắc của giải thoát cũng như một bước tiến đến sự giải thoát cuối cùng. Tối thiểu, sự tu tập tinh thần trở thành một nhiệm vụ lâu dài, trừ phi người ấy hoàn toàn giải thoát và giác ngộ đầy đủ, luôn luôn có nhiều điều thực hiện hơn. Quan điểm tương đối này rất hữu ích, miễn là vẫn có sự chấp thủ và đau khổ cùng ảo tưởng, một nỗ lực cần có sự nhận thức và chánh niệm, ở ngay trong giây phút hiện tiền vẫn cần thiết, không đặt thành vấn đề sự dạy dỗ đặc biệt hoặc kĩ thuật mà người ấy thừa nhận.

Sự tu tập để phát triển tinh thần sẽ lên xuống. Một số việc tu tập dựa trên từng sát-na cơ bản: từng sát-na (khoảnh khắc) rỗng không, từng sát-na phiền muộn, từng sát-na hoan hỉ, từng sát-na tuệ giác, từng sát-na ảo tưởng. Một số việc tu tập sẽ dựa trên căn bản một giờ; một ngày, sự hành thiền của một người hoặc những hoạt động hàng ngày có thể rất rõ ràng, chính xác, có thể có nhiều sự thanh thản, trong lúc vài ngày kế tiếp, sự việc có thể là tẻ nhạt, uể oải, không rõ ràng (không trong sạch). Hết tháng này đến tháng khác, năm này đến năm khác, sự tu tập của một người có thể sâu sắc hơn hoặc người ấy có trải qua nhiều tháng trong sự tuần tự để nhận thức sự đau khổ, thất vọng và nhận thấy điều đó là khuynh hướng duy nhất của thế gian. Người ấy phải có niềm tin và sự trung thành vào tiến trình để giúp cho những làn sóng vô thường trên từng sát-na, thậm chí cơ bản hết năm này sang năm khác trôi qua với một hình thức thanh thản vũng chắc tồn tại mãi mãi. Chính phẩm chất của loại tâm này giúp cho vạn vật trôi chảy theo tự nhiên, giúp cho giáo pháp mở rộng mà không có định kiến của chúng ta. Phẩm chất bền vững lâu dài này với sức mạnh của tâm từ cũng sẽ mang lại giáo pháp để trợ giúp cho tất cả chúng sinh.

Chúng ta cũng nên lưu ý rằng sự phát triển trí tuệ là không chỉ chấm dứt đau khổ cho bản thân, nhưng thực tế, chấm dứt đau khổ cho tất cả chúng sinh. Khi lòng ích kỷ hoàn toàn biến mất sẽ không còn tham, sân hoặc ảo tưởng trong tâm. Rồi không còn sự phân biệt, không còn cái "tôi" hoặc "họ". Không còn sự phân biệt này, sự biểu hiện tự động của trí tuệ là từ bi, bác ái, niềm cảm thông trên thế gian, hành động của một người trở nên vị tha, quên mình, toàn bộ hòa nhập vào sự tốt đẹp của tất cả chúng sinh. Bằng trạng thái trí tuệ này, trong thế gian con người trở nên giống như đức Phật. Và không còn phải bận tâm về việc không đạt được giác ngộ trước tiên để cứu vớt các chúng sinh khác, bởi vì sự phát triển trí tuệ phá vỡ sự cách biệt giữa bản thân và những chúng sinh khác. Bồ-Tát thề nguyện cứu vớt tất cả chúng sinh không có nghĩa là có một người đặc biệt sẽ cứu vớt tất cả những chúng sinh, nhưng nói cho đúng là qua sự phát triển tu tập, cái ảo tưởng về tự ngã cách biệt với tất cả chúng sinh sẽ tan biến đi và tình yêu thương nhân loại và lòng từ bi tồn tại như một phần của trí tuệ sẽ hiện rõ ra.

Hỏi: Và câu hỏi cuối cùng: có phải thật sự "tất cả đều là đồng nhất thể?"

Ðáp: Ðức Phật không dạy tư tưởng Phật giáo, ngài dạy giáo pháp, chân lý. Những kĩ thuật ngài dạy đều mang ý nghĩa tìm thấy được chân lý này. Nếu một người nhìn vào tâm mình với sự nhận biết tĩnh lặng, sau đó tâm trở nên yên tịnh bởi vì tất cả bám víu, ý tưởng, ý nghĩ, và ý niệm đều tan biến, và rồi chỉ còn lại chính xác những gì trong khoảnh khắc hiện tại, không còn có điều gì khác ngoại trừ điều đó. Sự cảm nhận đó chắc hẳn mọi người đều có giống nhau dù ở bất cứ xứ sở nào. Sự vắng lặng này của tâm có thể được đề cập như Níp-bàn hoặc bằng các thuật ngữ khác, nhưng tất cả đều ở đó, và nó không thể có sự khác biệt.


Chân thành cảm ơn Cư sĩ Bình Anson đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này. 
( Trang nhà Quảng Đức, 01/2002)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn