Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Quyển 4

24/04/201320:11(Xem: 1597)
Quyển 4

KINH PHÁP THIỀN BÍ YẾU
Hán dịch : Cưu-ma-la-thập
Việt dịch : Nhựt Chiếu

---o0o---

Quyển4

Ðời Diêu Tần, Ngài Tam tạng Pháp sư Cưu- ma-la-thập...dịch.

Tôi nghe như vầy: Có một thời Ðức Phật ở rừng Kỳ-đà vườn Cấp Cô Ðộc nước Xá-vệ với 1.250 vị tỳ-kheo. Bấy giờ Tôn giả Ma-ha Ca-diếp có một đệ tử là con của Ni-kiền-tử khổ hạnh ở đại thành Vương Xá, tên là A-kỳ-đạt-đa. Người xin Tôn giả Ma-ha Ca-diếp xuất gia học đạo tu hành khổ hạnh đủ mười hai đầu-đà, trải qua năm năm đắc quả A-na-hàm, nhưng không thể tăng tiến thành A-la-hán. Ông từ chỗ ngồi đứng dậy đến chỗ Ngài Ca-diếp, sửa y phục ngay ngắn, chấp tay đảnh lễ Ngài Ma-ha Ca-diếp. Bạch rằng: Thưa Hòa thượng! Con theo Hòa thượng siêng tu tinh tấn như cứu lửa cháy đầu, đã trải qua năm năm nay được trụ ở quả A-na-hàm, thì thân tâm mệt mỏi, giải đãi không thể tăng tiến giải thoát vô thượng, cúi xin Hòa thượng vì con chỉ dạy.

Bấy giờ Ngài Ma-ha Ca-diếp liền nhập tam-muội, quán tâm tỳ-kheo, biết tỳ-kheo này không hết các lậu, từ đời này mệnh chung sẽ sanh về cõi A-na-hàm thiên. Ngài từ tam-muội dậy bảo rằng: Này pháp tử! Nay ta tất cả thân tâm tự tại, nhập tự tại tam-muội, quán đời trước của ông thấy có nghiệp báo ở trên thân này, không có duyên được thành đạo La-hán.

A-kỳ-đạt-đa nghe lời này rồi bi thiết khóc như mưa, bạch rằng: Thưa Hòa thượng, nay con không thích sanh thiên. Như người bịnh khốn khổ, cầu lực vô thường . Con sợ sanh tử cũng lại như vậy.

Bấy giờ Ngài Ca-diếp bảo rằng: Này pháp tử! Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử. Cái ác sanh tử giống như lửa mạnh đốt tiêu tất cả, rất đáng chán ngán và lo sợ. Ta quán căn cơ của ông không được rõ lắm. Lại nữa, Thế tôn và chư tỳ-kheo ở rừng Kỳ-đà. Nay ta và ông đều đến chỗ Ðức Phật. Lúc đó vị tỳ-kheo ấy mặc y ôm bát theo sau Ngài Ca-diếp đến rừng Kỳ-đà, tới chỗ Ðức Phật , thì thấy Phật Thế tôn thân như núi vàng, ở trong đại chúng oai đức tự tại, đầy đủ 32 tướng và 80 vẻ đẹp. Thấy trò Ngài Ca-diếp lễ Phật, nhiễu Phật bảy vòng, rồi lui đứng một bên, Hồ quỳ chấp tay bạch rằng: Thưa Ðức Thế tôn, đây là đệ tử của con, tên là A-kỳ-đạt, theo sau con, tu mười hai điều đầu-đà, trụ sâu trong thiền định, đến A-na-hàm thì không tiến thêm được nữa để tát cạn biển phiền não. Cúi xin Ðức Thế tôn thương xót nói hạnh giải thoát thanh tịnh quán đảnh cam lồ rất sâu.

Bấy giờ Ðức Thế tôn bảo A-kỳ-đạt rằng: Lành thay! Lành thay! A-kỳ-đạt, thầy ông hỏi một cách sắc sảo về việc này. Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói. Hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ.

Cách đây vô số đời, đời đó có Phật tên là Ðại Quang Minh Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn. Ðức Phật đó ra đời có ba loại thị hiện, giáo hóa chúng sanh, độ người tròn xong. Trong thời tượng pháp có một nước lớn tên Ba-la-nại, vua tên Phạm-ma-đạt-đa. Vua có thái tử tên là Nhẫn Nhục Khải, phát tâm kiên cố Vô thượng chánh đẳng chánh giác rất sâu, cầu Nhứt thiết chủng trí, tự thệ không sát sanh, tu mười thiện nghiệp, đối với lục ba-la-mật tâm không chán mỏi. Bấy giờ trong nước đó có một trưởng giả tên Nhựt Nguyệt AÂm, tự tại vô lượng, chỉ có một người con, bỗng ngộ bịnh nhiệt, phong đại nhập tâm, cuồng loạn mất trí. Tay cầm kiếm bén chạy vào đường hẻm sát hại chúng sanh. Vị trưởng giả đó thương con nên tay nâng lư hương đến ngoài bốn cửa thành, đốt hương rãi hoa, phát thệ nguyện lớn, nói rằng: Ở thế gian nếu có Thần tiên, Thánh nhân, thầy thuốc, thầy chú thuật, cứu được bịnh cuồng loạn của con tôi, thì tất cả sở hữu của tôi đều xin dâng hiến.

Bấy giờ thái tử ra khỏi thành dạo chơi, thấy vị trưởng giả có tâm từ vì con cầu nguyện, lòng sinh hoan hỷ mà nói rằng: Trưởng giả này siêng tu tâm từ, phổ thí cho tất cả, mà con của trưởng giả gặp đại trọng bịnh. Nguyện chư vị thần tiên hãy khởi lòng từ bi đến nơi này cứu con của trưởng giả. Nói rồi chốc lát liền có một vị tiên nhân lớn từ núi Tuyết bay trên không mà đến, tên là Quang Vị, đến chỗ trưởng giả bảo trưởng giả rằng: Nạn của con ông do bịnh nhiệt mà khởi. Vì bịnh nhiệt nên quá giận dữ. Tâm mạch đều mở nên phong đại vào tim, do đó phát cuồng. Như bịnh này thì theo kinh tiên nói phong đại động, phải dùng máu tim của người thiện nam không sân bôi lên thân và phải ăn tủy của người lành bằng hạt đậu lớn thì mới trừ khỏi. Bấy giờ trưởng giả nghe vị tiên nhân nói, ở trên đường đảnh lễ thái tử bạch rằng: Vị địa thiên đại tiên nói bịnh của con tôi nên dùng máu và tủy xương của người từ tâm không sân mới có thể khỏi. Nay chính tôi muốn tự đâm thân mình xuất huyết cho con dùng, chẻ xương lấy tủy cho con ăn. Cúi xin thái tử cho phép việc này.

Bấy giờ thái tử bảo rằng: Này trưởng giả, ta nghe Ðức Phật nói nếu có chúng sanh làm khổ não cha mẹ thì đọa đại địa ngục không có kỳ hạn xuất ly. Vì sao trưởng giả tự phá thân thể muốn cho con khỏi bịnh. Hãy nhẫn nại thêm chốc lát, ta sẽ vì trưởng giả làm phương tiện lớn.

Bấy giờ trưởng giả nghe thái tử dạy tâm rất vui mừng, lễ chân thái tử rồi trở về nhà dùng voi đưa con mình đến cho thái tử. Thái tử thấy rồi dùng đề hồ rưới lên người ấy. Lúc đó vị tiên nhân bảo thái tử rằng: Ví như dùng thuốc này rưới lên vị nam tử này trải qua chín mươi ngày trọn không thể khỏi. Cần phải có máu của người từ tâm không sân. Bấy giờ thái tử tự suy nghĩ: Trừ thân mình ra, kỳ dư chúng sanh đều sẽ khởi sân. Nay ta làm việc này để cứu những bịnh khổ, và tế độ sinh mạng trong vòng sanh tử mà nguyện cầu Phật đạo. Ở đời vị lai nếu được thành Phật cũng sẽ bố thí pháp thân thường mệnh này. Thệ như thế rồi liền đâm thân lấy máu, bôi lên người con của vị trưởng giả đó, chẻ xương lấy tủy cho người ấy dùng. Con vị trưởng giả dùng rồi, bịnh được trừ khỏi. Lúc đó thái tử vì chẻ xương nên bất tỉnh quỵ xuống đất.

Bấy giờ trời đất chấn động sáu cách. Ðế thích, Phạm thiên hộ đời cùng vô số thiên tử đều xuống đến chỗ thái tử, hỏi thái tử rằng: Nay ông dùng thân cứu bịnh chúng sanh, là muốn cầu việc gì? Cầu Ðế thích, Ma vương, Phạm thiên hay Chuyển luân Thánh vương, trong ba cõi muốn cầu việc gì?

Bấy giờ thái tử bạch Ðế thích rằng: Nay sở cầu của tôi cũng không muốn sự tôn vinh hào quý trong ba cõi. Sở cầu của tôi chính là nguyện muốn thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bấy giờ Ðế thích nghe lời này rồi, hỏi thái tử: Nay ông đâm mình (lấy máu) chẻ xương lấy tủy thân thể tàn tạ lảo đảo có hối hận không?

Bấy giờ thái tử liền lập thệ nguyện: Tôi từ bắt đầu đâm thân cho đến nay, nếu không hối hận thì khiến thân thể tôi bình phục như cũ. Phát thệ này rồi thì thân thể bình phục như trước không khác.

Bấy giờ Ðế thích thấy việc này rồi bạch thái tử rằng: Oai đức của thái tử kỳ đặc vô tỷ. Có chí cường đại ắt được thành Phật . Lúc thái tử thành Phật xin độ tôi trước. Lúc phát thệ này, thái tử thản nhiên nói kệ rằng:

Nguyện tôi lúc thành Phật

Ðộ khắp trời và người

Thân tâm không quái ngại

Từ ái khắp tất cả

Cũng cứu độ các ông

Khiến các loài chúng sanh

Ðều trụ đại niết-bàn

Vĩnh viễn thọ khoái lạc.

Thái tử nói kệ này rồi, chư thiên mưa hoa để cúng dường. Lại mưa vô lượng trăm ngàn trân bảo chứa đầy đạo tràng. Thái tử được trân bảo rồi đem bố thí. Bố thí không thôi, tu các ba-la-mật đều viên mãn, được thành Phật.

Ðức Phật bảo Ngài Ca-diếp: Vua nước Ba-la-nại lúc đó nay là Tịnh Phạn, phụ vương của Ta. Trưởng giả Nguyệt AÂm lúc đó nay là ông, Ma-ha Ca-diếp. Con vị trưởng giả lúc đó nay là tỳ-kheo A-kỳ-đạt. Thái tử Nhẫn Nhục Khải lúc đó nay là Ta, Phật Thích-ca-mâu-ni. Ðế thích lúc đó nay là Xá-lợi-phất.

Ðức Phật bảo Ngài Ca-diếp: Tỳ-kheo A-kỳ-đạt này trong quá khứ bị phong đại động nên phát cuồng không biết. Do đó nay nhập định tứ đại, ở trong định phong, tâm nghi không hành. Giả sử người này nhập định phong đại, quán tứ đại, đầu bể thành bảy phần, tim vỡ ra mà chết, thì nên dạy người này tu tập tâm từ.

Bấy giờ đức Thế tôn bảo A-kỳ-đạt: Nay ông nên quán tất cả chúng sanh đều bị năm khổ(1.Sanh lão bịnh tử khổ; 2. Ái biệt ly khổ; 3. Oán tắng hội khổ; 4. Cầu bất đắc khổ; 5. Ngũ ấm xí thạnh khổ- người dịch) ép ngặt. Nay ông phải nên sanh tâm đại từ, muốn truất bỏ các khổ. Quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô thường, khổ, không, vô, ngã.

A-kỳ-đạt nghe Ðức Phật nói điều này hoát nhiên ý được khai mở. Ðúng lúc liền được A-la-hán đạo, ba minh, sáu thông và đủ tám giải thoát. Liền ở trước Phật thân vọt lên không trung, làm mười tám thần biến. Làm mười tám thần biến rồi, từ không trung xuống đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: Thưa Ðức Thế tôn, Như lai ngày nay vì con tuyên thuyết nhân duyên xưa kia và nói về tâm từ, diễn rộng pháp tứ đế. Con nhờ Phật lực, tức thời phá được nghiệp trói buộc trong ba cõi, thành A-la-hán. Cúi xin Ðức Thế tôn vì chúng sanh ác trược đời vị lai, bị ác nghiệp tội cũ sanh trong đời ngũ trược; chúng sanh như thế nếu tu hạnh đầu-đà, các thiền định đắc A-na-hàm như con mà tâm nghi đình trụ không hành thì nên tu pháp gì được lìa mé khổ?

Ðức Phật bảo A-kỳ-đạt: Hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ. Nay Như lai nhân A-kỳ-đạt, rộng vì tất cả chúng sanh đời sau nói rộng tất cả cảnh giới có bao nhiêu sự vi tế nên tự phân biệt, ở khoảng giữa từ A-na-hàm đến A-la-hán. Nếu người bịnh phong nhiều, lúc nhập định phong đại, do phong đại nên vui mà phát bịnh cuồng, nên dạy quán Phật. Dạy quán Phật là dạy quán các pháp của Như lai như: Mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng, đại từ, đại bi, tam niệm xứ (còn gọi là tam niệm trụ. Là cách gọi tắt của tam chủng tứ niệm xứ- Từ điển Phật học Hán Việt, Phân viện nghiên cứu Phật học, Hà Nội, tr. 1317). Lúc quán những pháp này, tự nhiên được thấy vô lượng sắc thân tướng tốt vi tế huyền diệu. Hoặc có chư Phật bay trên không trung làm mười tám thần biến. Hoặc có chư Phật mỗi một tướng hảo hiện khắp vô lượng trăm ngàn biến hóa. Lúc thấy việc này nên khởi tâm cung kính cúng dường, tưởng ra hoa thơm rãi khắp chư Phật. Nhiên hậu lại nên tự suy nghĩ rằng: Nay năm ấm bốn đại trong thân ta thảy đều sanh diệt vô thường không trụ. Các trói buộc sai sử cành nhánh và sai sử gốc đều vô thường. Ðiều ta niệm là niệm mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng, đại từ, đại bi của Phật. Công đức trang nghiêm sắc thân như thế giống như bình báu chứa đầy bửu châu như ý. Do lực của châu báu phản chiếu trang sức bình này. Châu vô ngã sở bình cũng vô trụ. Chúng sanh và Phật cũng như thế, không có sắc tính và sắc tượng, giải thoát thanh tịnh. Vì sao nay ta quán xét mười lực, lực biết chỗ phải trái, cho đến lực lậu tận, mười tám pháp bất cộng, đại từ, đại bi của Như lai? Vì sao lại thấy vô lượng sắc tượng? Tưởng này rồi thấy tượng chân kim đầy thế giới Sa-ba. Trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm đều thuyết pháp khổ, không, vô thường, vô ngã. Tuy thấy việc này lại nên khởi ý tưởng: Chư Phật này đều là giới định tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng, đại từ, đại bi, tam niệm xứ. Công đức chung như thế hợp thành, vì sao có sắc? Lúc tưởng này nhứt nhứt quán kỹ, khiến thân tâm của tất cả Phật vô ngại cũng không sắc tưởng. Tự thấy thân mình như mây trong hư không. Quán năm thọ ấm không có các tính tướng, hoát nhiên vui vẻ. Lại thấy thân như hoa sen tụ tập, vòng quanh đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Thấy chư Phật ngồi trên hoa của mình nói pháp không, vô ngã, vô nguyện, vô tác và mười bốn cảnh giới của Thánh Hiền rất sâu.

Ðức Phật bảo A-kỳ-đạt: Nếu có hành giả thấy việc này rồi, nên dạy tâm từ. Dạy tâm từ là dạy quán địa ngục. Bấy giờ hành giả thấy mười tám địa ngục: xe lửa, lò than, núi dao, rừng kiếm,... Chúng sanh chịu khổ đều là cha mẹ, tông thân, quyến thuộc đời trước của mình, hoặc là thầy trò và các bậc thiện tri thức. Thấy từng người bị lửa mạnh địa ngục a-tỳ thiêu đốt. Hoặc lại có người lửa đốt từng đoạn, leo lên rừng kiếm, giẫm trên núi dao, ném vào vạc nước sôi, hoặc vào sông tro, hoặc uống nước đái, hoặc ăn hoàn sắt nóng, hoặc uống nước đồng sôi, hoặc nằm trên giường sắt nóng, hoặc ôm trụ đồng, hoặc vào rừng kiếm thân nát vô số. Hoặc vạch mắt ra, vô số ngục tốt cầm viên đồng nóng đặt trong vành mắt. Hoặc thấy ngạ quỷ thân hình to lớn vài mươi do tuần ăn lửa ăn than. Hoặc uống máu mủ biến thành nước đồng, thân thể cử động, lửa nổi dạy, đồng chảy theo chân. Hoặc thấy giữa núi Thiết Vi u ám, trong ấy đầy chúng sanh giống như la-sát lại ăn nuốt nhau. Thấy các dạ-xoa lỏa hình đen xấu, hai răng chỉa ra hướng lên, trên đầu lửa cháy, đầu như đầu trâu, ngay sừng mưa máu. Lại thấy hổ lang sư tử, các cầm thú ác ở thế gian lại ăn nuốt lẫn nhau. Lại thấy tất cả khổ của loài súc sanh. Hoặc thấy a-tu-la cắt đứt tai mũi, chịu các việc khổ. Lại thấy tất cả chúng sanh trong ba cõi bị dục sai sử đều chịu khổ não.

Quán cõi trời Vô Tưởng giống như điện như huyễn, không bao lâu sẽ đọa trong đại địa ngục. Nói tóm lại, hai mươi lăm hữu trong ba cõi, tất cả chúng sanh đều có nghiệp tam đồ khổ não. Bấy giờ hành giả quán thấy chúng sanh chịu khổ trong ba cõi, tâm sáng tỏ như quán trong bàn tay. Khởi sâu từ bi sinh lòng thương xót, thấy các chúng sanh do làm ác nghiệp xưa kia nên chịu ác báo. Thấy việc này rồi thương xót rơi lệ, muốn cứu hộ chúng sanh hết tâm lực mình mà không thể cứu tế được. Bấy giờ trong tâm rất thương xót chúng sanh, chán lo sanh tử, không nguyện ở lâu, tâm sinh kinh sợ, như thấy người cầm dao muốn lại hại mình. Thấy việc này rồi, lại khởi tâm từ bi muốn bạt khổ mà không làm sao được.

Bấy giờ gành giả trong tự tư duy: Những chúng sanh này do vô minh, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữn duyên sanh, sanh duyên lão tử, ưu bi khổ não.

Bấy giờ hành giả trong tự tư duy: Vô minh này từ nơi nào lại, mà ấp yêu sinh sản đầy khắp ba cõi. Quán vô minh này mượn địa đại mà được trưởng thành, dựa vào phong đại mà dao động được, nhờ thế cứng của địa đại không hoại, hỏa đại soi sáng nuôi nấng, thủy đại tạo thành các tính. Như thế tứ đại hoạt động như sau: Tính của gió không trụ; tính của nước trôi chảy; tính của lửa nóng thịnh; tính của đất cứng chắc. Tính của tứ đại này hai trên hai dưới, các phương cũng hai. Phương đông thì thành tính sắc ấm; phương nam thì thành tính thọ ấm; phương tây thì thành tính tưởng ấm; phương bắc thì thành tính hành ấm; phương trên thì thành tính thức ấm. Năm thọ ấm này dựa vào vô minh, có từ xúc thọ sanh. Nhân duyên thích xúc chạm, sinh các cảm thọ. Nhân duyên thọ, sanh ái thủ hữu. Có nhân duyên nên sanh ở ba cõi. Chín mươi tám sử và các kết nghiệp trói buộc chúng sanh không có kỳ hạn xuất ly. Như vậy các nghiệp từ vô minh mà có, dựa vào si và ái mà sinh. Chỗ lưu xuất của bổn tướng vô minh này từ đâu mà sinh rồi truyền khắp ba cõi, trói buộc các chúng sanh một cách tai ác. Nay ta nên quán thức tướng vô minh từ nơi nào khởi. Vô minh này là địa đại, là lìa địa đại, là hợp với địa đại, là từ địa đại sanh, là từ địa đại diệt? Tính của địa đại vốn không, xét ra địa đại là vô chủ. Vì sao vô minh khởi tưởng si ái, duyên hành mà có. Nhưng chư hành này và ái thủ hữu là từ phong khởi, là từ thủy sanh , bị hỏa chiếu. Quán kỹ nhứt nhứt bốn đại như thế, thì thấy những đại này thật vô tính tướng, đồng như thực tế (lý thể của chơn như ). Vì sao lôi kéo chúng sanh, trói buộc ở ba cõi, bị nhiều phiền não thiêu đốt. Tư duy như thế rồi, sợ sệt sanh tử, lo âu sanh về cõi trời vui thú. Quán các thiên cung như mộng như huyễn, như mốc như điện, như vang của tiếng gọi. Thấy khắp chúng sanh ba cõi giống như cái vòng chịu khổ không cùng.

Thấy việc này rồi lo rầu, không vui. Thế gian như dòng nước chảy nhanh, nên cầu đạo niết-bàn và cầu giải thoát trong từng sát-na một. Bấy giờ lại nên dạy đếm hơi thở: Từ một đến mười, từ mười đến trăm, từ trăm đến ngàn. Theo dõi hơi thở nhiều ít rồi nhiếp khí, làm cho an trụ. Bấy giờ tự thấy thân mình như trăm ngàn vạn ức hoa sen, tất cả héo giòn. Gió bốn mặt thổi lại, làm cho hoa héo biến thành lưu ly, như đồ lưu ly. Tự thấy tim mình như cây hoa lớn từ mé kim cương phương dưới cho đến ba cõi. Trên đỉnh có bốn quả. Quả vi diệu như ngọc như ý, có sáu loại ánh sáng chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Lúc hành giả thấy việc này thì thấy bờ đất kim cang cho đến đỉnh của ba cõi phương trên. Trong ấy đầy chư Phật, các đại đệ tử và quyến thuộc vây quanh. Hoặc có chư Phật bay trên hư không, trên thân xuất nước, dưới thân xuất lửa; dưới thân xuất nước, trên thân xuất lửa; đông nổi lên tây chìm xuống; tây nổi lên đông chìm xuống; nam nổi lên bắc chìm xuống; bắc nổi lên nam chìm xuống; giữa nổi lên bìa chìm xuống; bìa nổi lên giữa chìm xuống. Hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không. Lớn lại hiện nhỏ bằng hạt cải, biến hiện tự tại tùy ý vô ngại. Hoặc thấy chư Thinh văn nhập bốn đại định, trên thân lửa tụ. Những ngọn lửa ngay giống như ống đồng đầy nước nhiều màu. Lại thấy thân mình như người đó nhập định. Bấy giờ nên dạy hành giả mà bảo rằng: Chỗ thấy của ông tuy là nhiều Phật và chư Thanh văn, nay ông nên quán chư Thế tôn này là thân vô tướng, là đại giải thoát, là quả vô học. Phải nên khéo nhiếp tâm ông và đếm hơi thở như trước. Phép đếm hơi thở này có mười sáu khoa, không nói hết được.

Bấy giờ hành giả đã đếm hơi thở rồi, tâm ý điềm đạm vắng lặng không thấy. Lại nên dạy quán hoa sen ở tim giống như cây hoa. Trên cây có quả như ngọc ma-ni, hiện sáu loại ánh sáng, ánh sáng rực rỡ. Từ đỉnh của tam giới chiếu xuống mé đất kim cang phương dưới. Thấy cây hoa ở tim héo rủ sắp chết, nhưng sâu vô lượng.

Bấy giờ nên quán pháp thân của chư Phật. Pháp thân của chư Phật do sắc thân mà có. Sắc thân như bình vàng. Pháp thân như ngọc ma-ni. Phải nên quán kỹ mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng, đại từ, đại bi, vô ngại giải thoát, thần trí vô lượng, cảnh giới tuyệt diệu, chẳng phải chỗ mắt thấy, chẳng phải chỗ tâm nhớ, tất cả các pháp vô lai vô khứ, không trụ không hoại, đồng như lý thể của chân như, kẻ phàm phu ngu si bị giặc lớn già chết truy đuổi, vọng thấy điên đảo. Vì điên đảo nên đọa lạc vào tam đồ, rơi vào trong sông ái dục, bị dòng nước cuốn trôi chìm đắm trong ba cõi. Nay ta vì sao đồng kẻ phàm phu làm việc vọng tưởng thấy Phật. Ðại Hòa thượng của ta là Ðức Phật Thích-ca-mâu-ni xưa kia đem đầu mắt tủy não, quốc thành vợ con bố thí, chịu trăm ngàn khổ hạnh để cầu pháp giải thoát. Nay đã vượt qua sanh tử, trụ ở đại niết-bàn tịch diệt rốt ráo, không sinh trở lại, như Phật pháp quá khứ trụ chỗ thường lạc. Cũng không khứ lai hiện tại, các thân tâm trí bất động điềm đạm vô vi. Trí tuệ làm thành tựu thân, nên có tưởng nào, vì sao biến động. Nay ta thấy từ vọng tưởng hiện, thuộc các nhân duyên, nên là pháp của sắc tướng điên đảo. Lúc tư duy như thế, tất cả chư Phật và chư Hiền Thánh vắng bặt ẩn thân, không hiện trở lại, chỉ còn một Ðức Phật có bốn đệ tử lớn làm thị giả.

Bấy giờ Ðức Thích-ca-mâu-ni Thế tôn vì hành giả lại nói pháp quán tứ đại thanh tịnh. Bảo rằng: Này pháp tử, chư Hiền Thánh ba đời trong quá khứ lúc quán hành này, tự nhiên đều quán pháp quán phong đại. Quán phong đại là trước quán trong thân, từ cây hoa nơi tim sanh một làn gió nhẹ. Gió nhẹ như thế dần dần tăng trưởng biến khắp thân thể. Ðầy thân thể rồi từ lỗ chân lông xuất, đầy trong một phòng. Ðầy một phòng rồi thấy gió nhẹ này đầy trong một sân. Ðầy một sân rồi, lại thấy dần dần đầy một trăm mẫu đất. Ðầy một trăm mẫu rồi lại tăng rộng thêm đầy một do tuần. Ðầy một do tuân rồi đầy hai do tuần. Ðầy hai do tuần rồi đầy ba do tuần. Ðầy ba do tuần rồi đầy bốn do tuần. Ðầy bốn do tuần rồi đầy năm do tuần. Ðầy năm do tuần rồi như thế dần dần rộng lớn đầy mười do tuần. Gió nhẹ mới động dần dần rộng lớn đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới, trên đến đỉnh tam giới, dưới đến mé kim cương, biến khắp các nơi này rồi trở lại từ đỉnh đầu vào, khiến cây ở tim tất cả hoa lá dần dần héo rụng. Tự thấy thân mình như gương pha lê trong ngoài chiếu suốt.

Bấy giờ lại nên dạy quán thủy đại. Quán thủy đại là trước quán cây hoa ở tim trong thân chảy ngay ra một dòng nước nhỏ, như khí lưu ly. Dần dần rộng thêm giống như mây sắc trắng đầy khắp trong thân. Ðầy trong thân rồi, từ sáu căn chảy ra, trên đỉnh vọt ra, nhiễu thân bảy vòng như mây trắng bay. Mưa nhỏ từng giọt. Nước mềm mại đầy cả một giường. Ðầy một giường rồi dần dần rộng lớn đầy trong một phòng. Ðầy một phòng rồi đầy trong một sân. Ðầy một sân rồi đầy trong một thành. Ðầy một thành rồi đầy 1.000 mẫu đất. Ðầy 1.000 mẫu rồi đầy 10.000 mẫu. Ðầy 10.000 mẫu rồi đầy một do tuần. Sắc nước thật trắng như ánh sáng lưu ly trắng. Hơi nước vi tế hơn cảnh giới nhãn căn của phàm phu, dần dần rộng lớn đầy hai do tuần. Ðầy hai do tuần rồi đầy ba do tuần. Ðầy ba do tuần rồi đầy bốn do tuần. Ðầy bốn do tuần rồi đầy năm do tuần. Ðầy năm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy mười do tuần. Ðầy mười do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy trăm do tuần. Ðầy trăm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy một Diêm-phù-đề. Ðầy một Diêm-phù-đề rồi dần dần rộng lớn đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Trên đỉnh đến tam giới, dưới đến mé kim cương. Hơi nước như thế như mây trở lại từ đỉnh đầu vào.

Thấy việc này rồi lại dạy quán hỏa đại. Quán hỏa đại là tự quán cây hoa tim trong thân, giữa các hoa lá có lửa rất nhỏ giống như ánh sáng vàng, ngay từ tim xuất, tràn khắp trong thân, xuất ra từ các lỗ chân lông, dần dần rộng lớn đầy khắp một giường. Ðầy một giường rồi đầy một phòng . Ðầy một phòng rồi dần dần rộng lớn đầy trong một sân. Ðầy một sân rồi đầy trong một thành. Ðầy một thành rồi đầy 1.000 mẫu đất. Ðầy 1.000 mẫu đất rồi đầy 10.000 mẫu đất. Ðầy 10.000 mẫu đất rồi đầy một do tuần. Sắc lửa biến thành trắng như ánh sáng chân châu, lại trắng đẹp mà núi tuyết pha lê không sánh được. Ánh sáng hồng chiếu lẫn lộn làm thành họa phẩm, dần dần rộng lớn đầy hai do tuần. Ðầy hai do tuần rồi đầy ba do tuần. Ðầy ba do tuần rồi đầy bốn do tuần. Ðầy bốn do tuần rồi đầy năm do tuần. Ðầy năm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy trăm do tuần. Ðầy trăm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy Diêm-phù-đề. Ðầy Diêm-phù-đề rồi dần dần rộng lớn đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới, trên đến đỉnh của tam giới, dưới đến mé kim cang, rồi trở về từ đỉnh đầu vào.

Thấy việc này rồi lại nên dạy quán địa đại. Quán địa đại là tự thấy các hoa của cây ở tim trong thân dần dần rộng lớn, như mây kim cang đầy khắp trong thân. Ðầy trong thân rồi lại đầy một giường. Ðầy một giường rồi đầy khắp một phòng. Ðầy một phòng rồi đầy khắp một sân. Ðầy một sân rồi đầy khắp một thành. Ðầy một thành rồi dần dần rộng lớn đầy khắp 1.000 mẫu. Ðầy 1.000 mẫu rồi đầy khắp 10.000 mẫu. Ðầy 10.000 mẫu rồi đầy một do tuần. Ðầy một do tuần rồi sắc biến thành xanh dần dần rộng lớn, đầy khắp hai do tuần. Ðầy hai do tuần rồi đầy ba do tuần. Ðầy ba do tuần rồi đầy bốn do tuần. Ðầy bốn do tuần rồi đầy năm do tuần. Ðầy năm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy trăm do tuần. Ðầy trăm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy Diêm-phù-đề. Ðầy Diêm-phù-đề rồi dần dần rộng lớn đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới, trên đến đỉnh của tam giới, dưới đến mé kim cang, rồi trờ về từ đỉnh đầu vào.

Thấy việc này rồi lại nên dạy trở về quán địa đại. Quán địa đại này lớn như mây kim cang, khó có thể vỡ nát. Vì sao diệt được? Lúc quán này thì thấy Phật Thế tôn Thích-ca-mâu-ni ngồi tòa kim cang và chư tôn đệ tử quyến thuộc 500 vị, ngồi trước hành giả, khác miệng đồng âm tán thán diệt đế. Nghe lời này rồi, nên quán địa đại từ nhân duyên khởi, được vô minh bảo trì. Nhưng vô minh vô tính, si ái vô chủ; nhân duyên hư ngụy tạm gọi là vô minh. Ái, thủ, hữu... đều thuộc tướng này. Lúc tư duy như thế, thấy ngay những cây hoa trong tim mình dần dần lửa nổi dậy đốt mây kim cang. Mây ở giữa những lá cây và lửa hợp thành một thể đầy khắp trong thân. Ðầy trong thân rồi đất lửa đều động đầy khắp một giường. Ðầy một giường rồi đầy khắp một phòng. Ðầy một phòng rồi đầy khắp một sân. Ðầy một sân rồi đầy khắp một thành. Ðầy một thành rồi dần dần rộng lớn đầy khắp 1.000 mẫu. Ðầy 1.000 mẫu rồi đầy khắp 10.000 mẫu. Ðầy 10.000 mẫu rồi đầy một do tuần. Ðầy một do tuần rồi đầy hai do tuần. Ðầy hai do tuần rồi đầy ba do tuần. Ðầy ba do tuần rồi đầy bốn do tuần. Ðầy bốn do tuần rồi đầy năm do tuần. Ðầy năm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy trăm do tuần . Ðầy trăm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy khắp Diêm-phù-đề. Ðịa đại và hỏa đại tính khác nhau, lại cổ động nhau, đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới, trên đến đỉnh tam giới, dưới đến mé kim cang, rồi trở về từ đỉnh đầu vào.

Thấy việc này rồi lại nên dạy quán phong đại. Quán phong đại là tự quán giữa cây hoa ở tim trong thân phát ra gió sắc tía. Thủy đại theo vào diệt sắc gió này, đồng thành sắc của nước. Gió động, nước vọt đầy khắp trong thân, dần dần rộng lớn đầy khắp một giường. Ðầy một giường rồi đầy trong một phòng. Ðầy một phòng rồi đầy khắp một sân. Ðầy một sân rồi đầy khắp một thành. Ðầy một thành rồi dần dần rộng lớn đầy khắp một do tuần. Ðầy một do tuần rồi, hai tính gió nước khác nhau, gió thổi nước này như bọt lưu ly, sắc chói sáng, lại cổ động nhau, đầy khắp hai do tuần. Ðầy hai do tuần rồi đầy ba do tuần. Ðầy ba do tuần rồi đầy bốn do tuần. Ðầy bốn do tuần rồi đầy năm do tuần. Ðầy năm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy trăm do tuần. Ðầy trăm do tuần rồi dần dần rộng lớn đầy khắp Diêm-phù-đề. Ðầy Diêm-phù-đề rồi dần dần rộng lớn đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới, trên đến đỉnh tam giới, dưới đến mé kim cang.

Thấy việc này rồi tự thấy thân mình, tất cả các lỗ chân lông của thân lửa nổi dậy. Ánh lửa nóng này đầy khắp ba cõi. Ra ngoài tam giới như hoa chân kim. Trên hoa có quả, quả lá nối nhau. Trong ánh sáng, quả đó diễn nói pháp độ sanh tử: Tứ đế và 12 nhân duyên. Lại thấy tất cả nước trong thân nổi lên. Nước ấm thấm đượm từ lỗ chân lông chảy ra trùm khắp tam giới. Sắc nước phát ra ánh sáng chiếu đỉnh tam giới rồi vào trong quả có ánh lửa. Lại thấy trong thân, tất cả gió nổi dậy, đầy khắp trong thân. Từ lỗ chân lông phát ra, dần dần rộng lón, gió cuốn nhanh đầy khắp ba cõi, hóa thành mây vàng, vào trong quả có ánh lửa. Lại có hơi đất rất mỏng nhẹ đầy khắp tứ đại.

Thấy việc này rồi lại nên dạy quán kỹ năm ấm. Quán sắc ấm thì thấy sắc ấm này dựa vào địa đại mà có. Nhưng địa đại bất định, từ vô minh sanh. Vô minh do duyên vọng kiến gọi là sắc. Quán sắc tướng này hư ngụy không thật, cũng không chỗ sinh, mượn nhân duyên mà hiện, nhưng nhân duyên tính không, sắc ấm cũng vậy. Thọ tưởng hành thức tính tướng đều không, trong không chắc thật. Quán năm ấm này thật không nhân duyên cũng không thọ hữu. Như thế tứ đại vì sao tăng trưởng đầy khắp ba cõi. Lúc tư duy như vậy thì thấy tất cả lửa từ tất cả lỗ chân lông phát ra đầy khắp ba cõi. Trở về từ tất cả lỗ chân lông mà vào. Lại thấy tất cả địa đại giống như mây kim cang, từ tất cả lỗ chân lông xuất sinh, đầy khắp ba cõi. Trở về từ tất cả lỗ chân lông mà vào. Lại thấy thủy đại cũng như vi trần, từ tất cả lỗ chân lông chảy ra đầy khắp ba cõi. Trở về từ tất cả lỗ chân lông mà vào. Lại thấy phong đại thế yếu nhược, từ tất cả lỗ chân lông phát ra đầy khắp ba cõi. Trở về từ tất cả lỗ chân lông mà vào. Như thế tứ đại từ lỗ chân lông xuất và từ lỗ chân lông nhập, tráo trở qua lại tám trăm lần. Thấy việc này rồi thì đếm hơi thở như trước rồi bế khí mà trụ. Qua bảy ngày, bấy giờ tự nhiên thấy địa đại này dần dần trống không. Thấy dưới một giường dần dần trống không. Thấy một phòng dần dần trống không. Thấy một phòng rồi thấy một sân đất dần dần trống không. Thấy một sân rồi thấy một thành đất dần dần trống không. Thấy một thành rồi thấy 1.000 mẫu đất dần dần trống không. Thấy 1.000 mẫu rồi thấy 10.000 mẫu đất dần dần trống không. Thấy 10.000 mẫu rồi thấy một do tuần đất dần dần trống không. Thấy một do tuần rồi thấy hai do tuần đất dần dần trống không. Thấy hai do tuần rồi thấy ba do tuần đất dần dần trống không. Thấy ba do tuần rồi thấy bốn do tuần đất dần dần trống không. Thấy bốn do tuần rồi thấy năm do tuần đất dần dần trống không. Thấy năm do tuần rồi cho đến thấy mười do tuần đất dần dần trống không. Thấy mười do tuần rồi cho đến thấy một trăm do tuần đất dần dần trống không. Thấy một trăm do tuần rồi cho đến thấy 8.000 do tuần đất của Diêm-phù-đề dần dần trống không. Thấy cõi Diêm-phù-đề rồi thấy 10.000 do tuần đất Phất-bà-đề dần dần trống không. Thấy cõi Phất-bà-đề rồi thấy 30.000 do tuần đất cõi Cù-gia-ni dần dần trống không. Thấy cõi Cù-gia-ni rồi thấy 40.000 do tuần đất châu Uất-đan-việt dần dần trống không. Thấy châu Uất-đan-việt rồi thấy núi Tu-di, nước bốn biển lớn, núi sông vách đá trong bốn thiên hạ, tất cả có bao nhiêu vật cứng chắc đều dần dần trống không.

Thấy bốn châu thiên hạ rồi tim bèn rộng lớn đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Các vật cứng chắc như đại địa, núi sông, vách đá tất cả đều trống không, tim không có chỗ nương tựa.

Bấy giờ tự nhiên thấy ngoài núi kim cang có mười bốn bánh xe kim cang. Những bánh xe kim cang tự nhiên từ dưới vọt lên lại rung chạm nhau đến trước hành giả. Bấy giờ ngay các hoa đẹp của cây ở tim tự nhiên lửa nổi dậy đốt các hoa lá, bốn quả trên cây rơi trên đỉnh đầu hành giả. Từ đỉnh mà vào trụ trong tim. Bấy giờ tim này hốt nhiên sáng tỏ, thấy chướng việc ngoài. Lại có sáu con voi sắc toàn đen giẫm nát đại địa và uống nước. Gió thổi voi chết. Tai voi phát ra lửa đốt voi hết cả. Rắn độc tứ đại trườn ngay lên cây. Thấy có một người giống đại lực sĩ nhổ cây lớn này dưới đến mé kim cang, trên đến đỉnh ba cõi, khiến cây rung động. Bốn quả minh châu trong tim hành giả lại phát ra lửa lớn đốt cây héo hết. Lúc đó cây lớn tan ra như bụi nhỏ. Hành giả thấy rồi. Nay ta quán thủy, hỏa, phong cùng với thủy đại (?), tất cả vô thường phút chốc biến diệt. Nên tự quán tứ đại trong thân mình, lửa nổi lên vô cùng, đất nước gió cũng lại như vậy. Tướng vô minh này trống không, không có sở hữu, giả ngụy điên đảo giống như hơi nước nóng, thuộc về tam giới, duyên ở si ái. Ba mươi ba pháp ức niệm sanh. Chín trăm chín mươi tướng niệm thô chuyển theo thứ tự. Chín mươi tám cành nhánh chủng tử kiết sử che khắp ba cõi . Người bị những trói buộc đó thọ sanh vô số. Hoặc đọa địa ngục lửa dữ thiêu thân. Hoặc làm ngạ quỷ uống nước đồng sôi, ăn hoàn sắt nóng. Trong trăm ngàn đời không nghe cơm nước. Hoặc làm súc sanh: lạc đà, lừa, heo, chó số không thể biết. Trong loài người chịu khổ lắm nạn không phải một. Khổ não như thế quá nhiều đều do si và ái. Nay quán tính của si và ái không có sở hữu.

Lúc tư duy như thế, Ðức Phật Thích-ca-mâu-ni phóng hào quang sắc vàng và chư Thinh văn quyến thuộc vây quanh bảo hành giả rằng: Nay ông biết không? Tướng của sắc rỗng không vắng lặng. Thọ tưởng hành thức cũng lại như vậy. Nay ông phải nên quán kỹ không, vô tướng, vô tác, vô nguyện tam-muội. Không tam-muội là quán sắc vô tính và tất cả các pháp rỗng không không có sở hữu. Những không như thế là không tam-muội. Vô nguyện tam-muội là quán tính niết-bàn tịch diệt vô tướng, quán tướng sanh tử đều đồng như lý thể của chơn như. Lúc quán này, không cầu sanh tử, không vui niết-bàn. Quán sanh tử bổn tế không tịch. Quán niết-bàn tính tướng đều đồng vào không, không có hòa hợp. Ðó gọi là vô nguyện tam-muội. Vô tác tam-muội là không thấy tâm, không thấy thân và các oai nghi có chỗ tu tập tạo tác. Không thấy niết-bàn có khởi tính tướng. Chỉ thấy diệt đế thông đạt không, không có sở hữu.

Bấy giờ hành giả nghe Ðức Phật Thế tôn nói không, vô tướng, vô nguyện tam-muội này, thân tâm vắng lặng, dạo chơi ở tam không môn. Giống như trong khoảng chàng tráng sĩ co duỗi cánh tay, liền được siệu việt chín mươi ức kiếp trói buộc trong vòng sanh tử hun hút, thành A-la-hán, không còn thọ thân sau. Phạm hạnh đã lập, biết đúng đạo chân thật. hoát nhiên ý khai mở, không còn tàn dư tập khí. Lậu hết tuệ thông tự nhiên mà được. Ngoài ra, ngũ thông phải nhờ tu mà đắc. Nghĩa lục thông nói rộng như luận tạng.

Bấy giờ Ðức Thế tôn vì A-kỳ-đạt nói về tướng không của Hiền Thánh, ứng với cảnh giới của tâm, phân biệt mười tướng nhứt thiết nhập này rồi, yên lặng an ổn nhập vô tránh tam-muội, phóng hào quang nhiều sắc chiếu khắp thế giới. Lúc đó 250 vị tỳ-kheo trong hội tâm ý khai mở thành A-la-hán. Năm mươi ưu-bà-tắc phá vỡ hai mươi ức kiếp trói buộc sâu xa thành Tu-đà-hoàn. Trời, người đại chúng nghe Ðức Phật nói đều rất vui mừng.

Bấy giờ A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy bạch Ðức Phật rằng: Thưa Thế tôn, Như lai đầu tiên vì Ca-hy-la Nan-đà nói môn bất tịnh, vì tỳ-kheo Thiền Nan-đề nói pháp đếm hơi thở, vì A-kỳ-đạt nói pháp quán tứ đại. Rất nhiều pháp môn vi diệu như thế thọ trì bằng cách nào? Nên dùng tên gì để chỉ bảo cho đời sau?

Ðức Phật bảo A-nan: Kinh này gọi là Thiền pháp bí yếu. Cũng gọi là môn quán xương trắng. Cũng gọi là chín tưởng theo thứ tự. Cũng gọi là pháp quán tạp tưởng. Cũng gọi là A-na-bát-na phương tiện. Cũng gọi là Tưởng bốn quả theo thứ tự. Cũng gọi là Phân biệt cảnh giới. Hãy thọ trì như thế, cẩn thận chớ để quên mất.

Ðức Phật bảo A-nan: Sau khi Ta diệt độ, nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức- xoa- ma-na-ni, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di muốn học Phật pháp ba đời, đoạn giống sanh tử, qua sông phiền não, tát cạn biển sanh tử, diệt chủng tử ái, dứt các dòng sai sử, chán năm dục lạc, vui niết-bàn, thì nên học pháp quán này. Công đức của pháp quán này như núi Tu-di, lưu xuất nhiều ánh sáng chiếu bốn châu thiên hạ. Người hành pháp quán này đủ quả sa-môn cũng lại như vậy.

Ðức Phật bảo A-nan: Sau khi Phật diệt độ, nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di muốn học pháp này, thì nên lìa bốn thứ ác. Thế nào là bốn? Một là tịnh trì cấm giới, oai nghi không phạm. Ðối với giới của năm chúng, nếu có phạm thì nên chí tâm sám hối thanh tịnh. Giới thanh tịnh rồi, gọi là trang nghiêm phạm hạnh. Hai là xa chỗ ồn náo, ở một mình nơi nhàn tịnh, buộc niệm một chỗ, vui pháp ít nói, tu hành mười hai hạnh đầu-đà rất sâu, tâm không chán mỏi, như cứu lửa cháy đầu. Ba là quét dọn bùn đất ở tháp, bố thí thẻ nhành dương sạch và làm các việc khổ nhọc để trừ tội chướng. Bốn là ngày đêm sáu thời thường ngồi không nằm, không thích ngủ nghỉ, thân dựa nghiêng, thường thích ở trong gò mả, dưới gốc cây, chỗ thanh vắng. Ăn như nai ăn, chết như nai chết. Nếu có bốn chúng hành bốn pháp này, nên biết người này là người khổ hạnh. Khổ hạnh như thế không lâu ắt được bốn quả sa-môn.

Ðức Phật bảo A-nan: Nếu có bốn chúng tu pháp buộc niệm cho đến quán thấy tướng xương trắng ít phần của một đốt ngón chân hay ngón tay, khiến cực sáng tỏ; và nếu thấy một ngón, nếu thấy một móng, tất cả các xương trắng, thì nên biết người này nhờ tâm mãnh lợi, nên sau khi mệnh chung chắc chắn được sanh lên cõi Ðâu-suất-đà thiên. Người này diệt được ba ác đạo và tất cả khổ hoạn. Tuy chưa giải thoát nhưng không đọa ác đạo. Nên biết người này công đức không mất, đã lìa khỏi được tam đồ khổ nạn. Huống là hành giả thấy đầy đủ những người xương trắng. Hành giả thấy người xương trắng này tuy chưa được công đức vô lậu giải thoát, nhưng nên biết người này đã khỏi tất cả hoạn nạn của tam đồ bát nạn khổ ách. Nên biết người này đời đời sinh ra đượcthấy Phật. Ở đời vị lai sẽ gặp Ðức Phật Di-lặc trong hội Long hoa đầu, được nghe pháp trước tiên và chứng đạo quả giải thoát.

Ðức Phật bảo A-nan: Nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di ở trong Phật pháp, vì lợi dưỡng nên tham cầu không chán, vì thích tiếng tăm mà giả ngụy, làm ác, thật không thể ngồi thiền, vì thân khẩu phóng dật, hành hạnh phóng dật, tham lợi dưỡng nên tự nói ngồi thiền. Lúc tỳ-kheo phạm lỗi thâu-lan-giá như thế, không nói ra không tự cải hối, chẳng bao lâu thì phạm 13 tăng tàn. Nếu qua một ngày đến hai ngày, nên biết tỳ-kheo này là giặc, là la-sát, đứng đầu hàng xôi thịt trong trời người, chắc chắn đọa ác đạo, phạm đại trong tội. Nếu tỳ-kheo-ni ma quái tà mị, muốn cầu lợi dưỡng như mèo tìm chuột, tham cầu không chán, thì thật không thể ngồi thiền. Tự nói ngồi thiền mà thân khẩu phóng dật, hành hạnh phóng dật, vì lợi dưỡng nên tự nói ngồi thiền. Lúc tỳ-kheo-ni phạm lỗi thâu-lan-giá như thế mà không nói ra, không tự cải hối thì chẳng bao lâu liền phạm 13 tăng tàn. Nếu qua một ngày đến hai ngày, nên biết tỳ-kheo-ni này là giặc, là la-sát, đứng đầu hàng xôi thịt trong trời người, ắt đọa ác đạo, phạm đại trọng tội. Nếu tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni thật sự không thấy xương trắng, tự nói thấy xương trắng, cho đến a-na-bát-na, thì tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni này lừa dối mê hoặc chư thiên long thần... dối gạt người đời. Bọn người ác này là loại Ba Tuần, vì vọng ngữ nên tự nói rằng ta đắc quán bất tịnh cho đến đảnh pháp. Người vọng ngữ này sau khi mệnh chung chắc chắn đọa vào địa ngục a-tỳ mau hơn mưa đá. Thọ mệnh một kiếp rồi từ địa ngục ra, đọa trong loài ngạ quỷ tám ngàn năm ăn hoàn sắt nóng. Từ loài ngạ quỷ ra, đọa vào trong loài súc sanh, lúc sống luôn mang chở nặng, khi chết lại bị lột da. Trải qua năm trăm đời trở lại sanh trong loài người lấy đui điếc câm ngọng tàn tật trăm bịnh làm y phục. Trải qua sự khổ cực như thế không thể nói hết. Nếu ưu-bà-tắc thật sự không ngồi thiền tự nói ngồi thiền, thật không phạm hạnh tự nói phạm hạnh, thì ưu-ba-tắc này phạm tội thất ý, bất tịnh, làm việc bại hoại mà không sửa đổi, sẽ bị đọa lạc vào hàng chiên-đà-la hèn hạ, làm bạn với điều ác, là giống hủ bại, không sanh mầm lành. Vì tham lợi dưỡng nên cầu nhiều không chán, từ một ngày cho đến năm ngày phạm tội đại vọng ngữ. Người đại ác này bị ma Ba Tuần sai sử, là chiên-đà-la, là người giết thịt, là la-sát đồng loại, chắc chắn sẽ đọa trong ba đường ác. Lúc vị ưu-bà-tắc này sắp mệnh chung, thì mười tám địa ngục xe lửa, lò than... biến hóa ra các việc ác đồng thời nghinh tiếp, chắc chắn sẽ đọa trong ba ác thú, không có nghi ngờ. Nếu ưu-ba-tắc thật sự không đắc quán bất tịnh cho đến noãn pháp mà ở trong đại chúng khởi tăng thượng mạn, rêu rao như sau: Ta được quán bất tịnh cho đến noãn pháp; nên biết ưu-bà-tắc này là giặc trong trời người, lừa dối thiên long bát bộ ở đời. Sau khi ưu-bà-tắc này mệnh chung, chắc chắn sẽ đọa vào địa ngục a-tỳ mau hơn mưa đá. Mãn một đại kiếp, tuổi thọ ở địa ngục hết, sanh trong loài ngạ quỷ trải qua tám ngàn năm ăn hoàn sắt nóng. Từ ngạ quỷ ra đọa vào trong loài súc sanh, lúc sống luôn mang chở nặng, khi chết lại bị lột da. Trải qua năm trăm thân lại sanh vào loài người lấy đui điếc câm ngọng tàn tật trăm bịnh làm y phục. Trải qua sự cực khổ như thế không thể nói hết. Nếu ưu-ba-di làm hiển lộ sự hay lạ để mê hoặc quần chúng, thật chẳng ngồi thiền bảo là ngồi thiền, thì ưu-bà-di này bị tội thất ý, kết cấu với bất tịnh bại hoại, đọa lạc vào hàng bất tịnh, làm chiên-đà-la hèn hạ. Ưu-bà-di này làm bạn với điều ác, là quyến thuộc của ma, chắc chắn sẽ đọa trong ba ác thú. Lúc ưu-ba-di này có lỗi mà không nói ra, không tự cải hối, chẳng bao lâu từ một ngày cho đến năm ngày, ưu-ba-di này tham cầu không chán, thật chẳng phạm hạnh tự nói phạm hạnh, thật chẳng ngồi thiền tự nói ngồi thiền, đấy là người đại ác, chắc chắn sẽ đọa trong ba ác thú, tùy nghiệp thọ sanh. Nếu ưu-ba-di thật không đắc quán bất tịnh cho đến noãn pháp mà ở trong đại chúng tuyên bố như thế, khởi tăng thượng mạn, tự nói ta được quán bất tịnh cho đến noãn pháp, thì ưu-ba-di này là giặc trong hàng trời người. Sau khi mệnh chung chắc chắn sẽ đọa vào địa ngục a-tỳ nhanh hơn mưa đá. Mãn một đại kiếp, thọ mạng trong địa ngục hết, sanh trong loài ngạ quỷ, trải qua tám ngàn năm ăn hoàn sắt nóng. Từ ngạ quỷ ra đọa vào trong loài súc sanh, lúc còn sống luôn mang chở nặng, khi chết lại bị lột da. Trải qua năm trăm thân, trở lại sanh trong loài người lấy đui điếc câm ngọng tàn tật trăm bịnh làm y phục. Trải qua sự cực khổ như thế không thể nói hết.

Ðức Phật bảo A-nan: Nếu tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di buộc niệm trụ ý, tâm không tán loạn, ngồi ngay chánh thọ, trụ ý một nơi đóng các giác quan, thì người này nhờ an tâm ghi nhớ định lực, nên tuy không có cảnh giới xả thân, nhưng đời sau sanh về cõi trời Ðâu-suất, gặp Ngài Di-lặc. Cùng hạ sanh xuống cõi Diêm-phù-đề với Bồ-tát Di-lặc. Trong hội Long hoa đầu tiên, được nghe pháp trước hết, ngộ đạo giải thoát.

Lại nữa, này A-nan: Sau khi Phật diệt độ, trong đời ác trược, nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-ba-tắc, ưu-ba-di thật tu phạm hạnh, hành mười hai hạnh đầu-đà để trang nghiêm thân, tâm hành niệm định, tu quán xương trắng, quán bất tịnh vào cảnh giới sâu, thì tâm nhãn sáng sắc, thông đạt pháp thiền. Tứ chúng như thế làm cho Phật pháp tăng trưởng, làm cho pháp bất diệt, nên thân khẩu ý cẩn mật. Giống như có người thân tâm bị bịnh, thầy thuốc giỏi bảo nên uống đề hồ. Bấy giờ người bịnh đến vị quốc vương cầu xin đề hồ. Nhà vua thương xót liền lấy đề hồ ra cho. Nhân đó dạy người bịnh cách uống đề hồ, nên ở chỗ kín trong nhà không có gió bụi mà lấy uống. Uống rồi ngậm miệng, điều khí tứ đại, chớ để mất sự chừng mực. Nếu tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni uống thuốc cam lồ quán đảnh này- chỉ trừ thầy giáo thọ biết pháp _ thì không được càn bậy đến người khác nói cho họ biết. Nếu đến nói với người khác thì mất cảnh giới đó. Cũng phạm 13 tội Tăng tàn. Nếu những người bạch y muốn hành thiền định, đắc 5 thần thông còn không nên đến nói với người khác rằng ta được thần thông, chú thuật của tiên; tất cả nên giữ kín, huống là người xuất gia thọ giới cụ túc. Nếu đắc quán bất tịnh cho đến noãn pháp, không được vọng động đến nói cho người khác biết. Nếu đến nói với người khác tức cảnh giới đó bị mất, và khiến cho nhiều chúng sanh ở trong Phật pháp sanh tâm nghi hoặc. Do đó, nay Ta ở trong chúng này dạy các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nếu đắc quán bất tịnh cho đến noãn pháp thì nên kín đáo tu hành khiến tâm sáng tỏ mãnh lợi, chỉ đến nói với người trí, giáo thọ sư, không được truyền rộng, nói với người khác. Nếu nói với người khác vì tâm lợi dưỡng, ngay lúc đó liền phạm 13 tội tăng tàn. Lúc có lỗi mà tâm kông sám hối, không hổ thẹn, cũng phạm tội nặng như đã nói trên.

Lại nữa, này A-nan! Sau khi Phật diệt độ, lúc không có Phật , bốn bộ đệ tử cầu giải thoát, được quán bất tịnh thì nên cất kỹ giấu kín, chớ cho người khác biết. Ví như có người nghèo cùng cô độc sinh ra đời ác trược, thuộc vua vô đạo. Người nghèo cùng đó đào đất tìm nước, do nhân duyên đời trước bỗng gặp kho tàng được nhiều trân bảo. Vì sợ vua ác nên giấu kín của báu này không cho người khác biết. Chỉ để chỗ kín, lấy trân bảo này để cung cấp cho vợ con, riêng thọ khoái lạc. Sau khi Phật diệt độ, bốn bộ đệ tử được thiền lạc cũng lại như thế, nên giấu kín nó, không được nói rộng. Nếu nói rộng thì phạm đại trọng tội.

Lại nữa, này A-nan! Ví như vị trưởng giả chỉ có một đứa con trai bị đại trong bịnh, râu mày rụng hết. Bấy giờ trong tâm trưởng giả suy nghĩ: Nay ta họa suy chỉ có một đứa con trai này mà gặp trong bịnh, nên tìm cầu lương y nơi nào. Nói lời này rồi xuất ra nhiều của báu tìm hỏi lương y. Nhờ phước đời trước bỗng trưởng giả gặp một vị thầy thuốc biết nhiều phương dược. Trưởng gia thưa rằng: Cúi xin đại sư khởi lòng đại từ bi, tôi có một đứa con bị bịnh lâu rồi, cúi xin đại sư cứu chửa bịnh này. Nay trong nhà tôi có nhiều của báu giống như Tỳ-sa-môn Thiên vương ở phương Bắc, nếu con tôi được khỏi, chỉ trừ thân tôi, tất cả xin dâng lên, không dám trái nghịch. Vị lương y đó bảo trưởng giả rằng: Nay ông phải xây bảy lớp nhà tối, khiến cực sâu kín, rồi mới có thể cho con ông uống thuốc. Uống thuốc này rồi không được thấy người, không nói cho người khác biết. Qua bốn trăm ngày đứa trẻ mới khỏi.

Ðức Phật bảo A-nan: Sau khi Phật diệt độ, bốn bộ đệ tử của Phật, nếu tu thiền định cầu giải thoát, như người bịnh nặng theo lời vị lương y dạy; nên ở chỗ yên tịnh: hoặc trong gò mả, hoặc dưới rừng cây, hoặc chỗ a-luyện-nhã, tu hành thậm thâm đạo của các Hiền Thánh, thân khẩu nên cẩn mật. Ở trong nội tâm tu bốn phạm hạnh, tu bốn niệm xứ, tu bốn chánh cần, tu bốn như ý túc, tu năm căn, tu năm lực, tu bảy giác đạo, tu tám Thánh đạo phần, tu bốn thiền, tu bốn vô lượng tâm, vào rất sâu môn vô lượng không tam-muội, cho đến được sáu thần thông, đủ loại công đức thắng diệu như thế. Chỉ nên nhất tâm kín đáo mà hành trì. Cẩn thận chớ hư vọng ở trước nhiều người nói được pháp hơn người. Nếu nói được pháp hơn người như đã nói trên, thì chắc chắn sẽ đọa đại ngục a-tỳ.

Ðức Phật bảo A-nan: Sau khi Ta bát-niết-bàn, 100 năm đầu, người hành pháp quán bất tịnh này ở Diêm-phù-đề để nhiếp thủ phóng dật thì nên quán tứ đế. Trong một ngày tu quán vô thường được giải thoát, như Ta ở đời không khác. 200 năm sau, ở Diêm-phù-đề này bốn bộ đệ tử tu quán vô thường thì một phần đệ tử trong hai phần được đạo giải thoát. Lúc 300 năm, bốn bộ đệ tử tu quán vô thường thì một phần đệ tử trong bốn phần được đạo giải thoát. Lúc 400 năm, bốn bộ đệ tử tu quán vô thường thì một phần đệ tử trong năm phần được đạo giải thoát. Lúc 500 năm Ta niết-bàn, bốn bộ đệ tử tu quán vô thường thì một phần đệ tử trong mười phần được đạo giải thoát. Lúc 600 năm, bốn bộ đệ tử tu quán vô thường thì một phần đệ tử trong 100 phần được đạo giải thoát. Lúc 700 năm, bốn bộ đệ tử tu quán vô thường, thì một phần đệ tử trong 1.000 phần được đạo giải thoát. Lúc 800 năm, bốn bộ đệ tử tu quán vô thường thì một phần đệ tử trong 10.000 phần được đạo giải thoát. Lúc 900 năm, bốn bộ đệ tử tu quán vô thường thì một phần đệ tử trong ngàn vạn phần được đạo giải thoát. Lúc 1.000 năm, bốn bộ đệ tử tu quán vô thường, thì 10 người, 100 người trong ức phần được đạo giải thoát. Qua 1.000 năm rồi, pháp quán vô thường này tuy còn lưu hành trong cõi Diêm-phù-đề nhưng ức ức ngàn vạn chúng đệ tử tu quán vô thường mà chỉ có một hai người được đạo giải thoát. 1.500 năm sau, nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di tán thán tuyên thuyết pháp quán vô thường, khổ, không, vô ngã, thì có nhiều chúng sanh ôm lòng ghen ghét, hoặc lấy dao chặt, hoặc lấy ngói đá ném, đánh. Những người đó mắng rằng: Ðồ người ngu si nơi nào ở đời có vô thường mà quán khổ, không, vô ngã. Thân người trắng sạch vô lượng, vì sao nói là bất tịnh. Ngươi là người đại ác, nên hợp lại đuổi đi. Lúc hiện tượng này xuất hiện thì trong trăm ngàn người không có một người tu quán vô thường. Lúc hiện tượng này xuất hiện thì pháp tràng băng hoại, tuệ nhựt chìm mất. Tất cả chúng sanh mù, không có mắt. Phật Thích-ca-mâu-ni tuy có đệ tử mặc cà-sa mà như cờ nơi đầu cột gỗ tự nhiên biến trắng. Các tỳ-kheo-ni giống như dâm nữ, tự bán nữ sắc để tự nuôi thân. Các ưu-bà-tắc như chiên-đà-la sát sanh vô độ. Các ưu-ba-di tà dâm vô đạo lừa dối trăm điều. Lúc hiện tượng này xuất hiện, thì chánh pháp Vô thượng của Thích-ca-mâu-ni vĩnh viễn chìm mất không còn.

Ðức Phật bảo A-nan: Ông hãy giữ gìn lời Phật, vì bốn bộ đệ tử đời vị lai mà nên tuyên nói phân biệt diệu nghĩa rộng rãi, cẩn thận chớ để quên mất.

Lại nữa, này A-nan! Ông hãy vì các chúng sanh đời sau mà nên tuyên bố lời này: Ðại pháp của Như lai không lâu sẽ phải chìm mất. Các ông ở trong Phật pháp phải siêng năng tinh tấn, nên quán các pháp khổ, không, vô thường, vô ngã.

Lúc Ðức Phật nói lời này có 8.000 Thiên tử hiểu rõ vô thường xa trần lìa cấu, được pháp nhãn thanh tịnh, 500 tỳ-kheo liền ở trên chỗ ngồi không thọ các pháp, lậu hoặc dứt hết, tâm ý mở rộng thành A-la-hán.

Bấy giờ trưởng giả A-kỳ-đạt cùng 1.250 vị tỳ-kheo, chư thiên long thần, nghe Ðức Phật nói môn quán vô thường này, tâm khai ý giải thảy đều thông đạt, hiểu khổ, không, vô thường, rồi đảnh lễ chân Phật vui vẻ phụng hành./.

Dịch xong chiều ngày 26-07 năm Bính Tý (1996)

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn