Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần I. VÀI NÉT VỀ ĐỜI SỐNG XUẤT GIA

18/04/201317:38(Xem: 2058)
Phần I. VÀI NÉT VỀ ĐỜI SỐNG XUẤT GIA

Nghĩ về

NĂM ĐỨC CỦA NGƯỜI XUẤT GIA

(Luận văn tốt nghiệp)

GSHD: TT Thích Phước Sơn

Ni Sinh: Thích Nữ Lệ Thành

--- o0o ---

B. NỘI DUNG

Nói đến “năm đức của người hảo tâm xuất gia” tức là nói đến những nét cao đẹp trong đời sống phạm hạnh. Trước khi bàn về những nét cao đẹp này, chúng ta cũng nên sơ lược tìm hiểu những điểm đặc trưng cho đời sống phạm hạnh.

I.- VÀI NÉT VỀ ĐỜI SỐNG XUẤT GIA:

1)- NHỮNG ĐIỂM ĐẠC TRƯNG CHO ĐỜI SỐNG XUẤT GIA:

Ca ngợi về công hạnh của người xuất gia, đức Điều Ngự Giác Hoàng có lời kệ:

“Phù thế gian tối quý giả

Bất như xả tục xuất gia

Nhược đắc vi tăng,

Tiện thọ nhân thiên cúng dường

Tác Như Lai chi sứ giả

Dữ Hiền Thánh chi tôn thân” [1]

(Tạm dịch:

Thế gian, cao quý hơn người

Sao bằng xả tục, sống đời xuất gia

Làm Tăng, sứ giả Phật Đà

Trời người cung dưỡng, Thánh là Tôn thân)

Vì sao người “xả tục xuất gia” lại được xem là bậc “thế gian tối quý”? Để xứng đáng là sứ giả của Như Lai, là tôn thân của các bậc Hiền thánh, không hổ thẹn khi lãnh thọ của cúng dường, hàng xuất gia phải có một nếp sống phạm hạnh “bạt tục siêu quần” như thế nào? Vấn đề sẽ sáng tỏ khi chúng ta tìm hiểu về “những điểm đặc trưng cho đời sống xuất gia”.

a/- Ý nghĩa của việc xuất gia:

Xuất gia (Nekkhamma) có nghĩa là khước từ những điều mơ ước của thế gian để chọn lấy đời sống tu sĩ, cũng có nghĩa là tạm thời vượt qua khỏi các pháp che lấp Niết Bàn bằng cách thực nghiệm con đường Giới-Định-Tuệ. Kinh tạng Nikàya thường mô tả: Xuất gia là cạo bỏ tóc râu, đắp áo cà sa, từ bỏ gia đình sống không gia đình, sống trong pháp và luật của đức Thế Tôn. Đời sống xuất gia còn được gọi là đời sống phạm hạnh. PHẠM HẠNH ở đây chỉ cho sự cố gắng liên tục để hướng đến sự thanh tịnh tối thượng, sự đoạn tận mọi thứ bất tịnh nhiễm ô, sự chế phục đối với nhũng nhu cầu khát vọng của cuộc sống thế tục…

Theo kinh điển Đại thừa, danh từ XUẤT GIA có 3 ý nghĩa:

1 - Xuất thế tục gia: là ra khỏi ngôi nhà thế tục, từ giã lục thân quyến thuộc, xả bỏ tài sản ở đời, cạo tóc nhuộm áo theo thầy học đạo.

2 - Xuất phiền não gia: là ra khỏi căn nhà phiền não: tham, sân, si, mạn… khép mình vào nếp sống hòa hợp thanh tịnh của đoàn thể tăng già.

3 - Xuất tam giới gia: là dứt trừ những hệ phược chốn trần lao, ra khỏi nhà lửa tam giới: dục giới và vô sắc giới.

Trên đay là sơ lược về ý nghĩa 2 chữ XUẤT GIA. Cũng cần nói thêm: có một số danh từ người ta thường dung để gọi người xuất gia như là: Thích tử, Nạp tử (Nột tử), Sa môn, Tu sĩ. Ở đây, xin lược nêu ý nghĩa của các từ này nhằm làm rõ thêm ý nghĩa của việc xuất gia.

THÍCH TỬ:

Là con Phật (Phật tử), đệ tử của đức Phật Thích Ca, noi theo sự giáo hóa của bậc Thầy là Phật Thích Ca mà tu hành. Đặc biệt, chữ PHẬT TỬ ở đây nên hiểu theo nghĩa sau:

“Tùng Phật khẩu sanh - Tùng pháp hóa sanh

Đắc Phật pháp phần - Cố danh Phật tử”

(Từ miệng Phật sanh ra - Từ Pháp mà hóa sanh

Đặng pháp phần của Phật - Nên gọi là Phật tử)

Thích tử tức là: người con họ Thích, người họ Thích.

Kinh A Hàm chép: “Trăm sông chảy vào một biển, nước biển đồng một vị mặn. Bốn họ xuất gia đồng xưng Thích tử”. Điều này cho thấy” giáo đoàn của Phật không phân chia cao thấp sang hèn, đã vào “nhà Phật” thì đều được mang họ Phật.

NẠP TỬ:

Cũng gọi là: nạp tăng, nột tử; là người mặc áo nạp

Áo nạp (Nạp y) còn gọi là phấn tảo y, là áo vải thô sơ được chắp vá bằng nhiều mảnh.

Thuở xưa, Sa môn đệ tử Phật thường tu theo hạnh đầu đà, mặc áo chằm vá và khất thực độ nhật, đơn giản hóa các nhu cầu hằng ngày, dành hết thời giờ và tâm trí và việc trau giồi đời sống phạm hạnh. Danh xưng này hiện nay ít được dùng, thỉnh thoảng chỉ thấy được chép trong Thiền Lâm Bảo Huấn.

SA MÔN:

Trong các kinh Nikàya, danh từ SA MÔN thường được dùng để chỉ cho người xuất gia.

Sa môn: dịch âm từ tiếng Phạn, nói đủ là Sa-môn-na (samana) gồm có 2 nghĩa chính:

1 - Cần tức giả: “cần tức” lại có 2 ý:

+ Cần hành chúng thiện, tức diệt chư ác.

(Siêng làm các việc lành, dứt bỏ các việc ác)

+ Cần tu giới định tuệ, tức diệt tham sân si.

(Siêng tu giới định tuệ, diệt trừ tham sân si)

2 - Bần giả, bần đạo:

Người chịu nghèo, chẳng giữ của cải (an bần thủ đạo)

TU SĨ:

Là từ dùng để chỉ chung cho người tu hành ( kể cả người tu theo đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành. Đạo Hồi …). Riêng đạo Phật, TU SĨ là từ dành cho người học Phật xuất gia khác với cư sĩ cũng là người học Phật nhưng ở tại gia. Thật ra, dù là người tại gia, nếu đã dốc hết thân tâm học Phật tu theo Phật thì nào có khác gì tu sĩ (người tu hành). Tuy nhiên, vì đời sống tại gia ít nhiều cũng có những ràng buộc, chướng ngại, khó lòng sống trọn vẹn cho đạo nên ở một bình diện tương đối, người ta phân biẹt như vậy. Định nghĩa về 2 chữ TU HÀNH trong Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư có chép:

“Tu hành giả, tu cải hành vi, xả ác thủ thiện, ly tục tùng đạo dã” [2]

(Tu hành là sửa đổi hành vi, bỏ ác làm lành, lìa tục theo đạo)

Nghĩa chữ TU còn được giải thích cặn kẽ như sau: [3]

TU là một tiếng nguồn gốc từ chữ Hán, dịch nghĩa thong thường là “SỬA”. Đã gọi là SỬA thì bất luận những cái gì xấu xa hư dở đều phải sửa. Mà ở đời có cái gì là hoàn toàn không hư không dở? Nhất là đối với bản thân mỗi người chúng ta có biết bao nhiêu điều xấu xa hèn dở cần phải sửa:

• Sửa dở thành hay.

• Sửa xấu thành tốt.

• Sửa tà thànhchánh

• Sửa vọng thành chơn

• Sửa phiền não thành Bồ Đề

• Sửa sanh tử thành Niết Bàn

• Sửa phàm thành Thánh

• Sửa chúng sanh thành Phật.

Tóm lại: tu là sửa cái hư vọng dối trá trở lại CHƠN, sửa cái xấu xa tồi tệ mục nát trở lại MỸ, sửa cái tội ác tàn bạo trở thành THIỆN. Thế thì, người tu là người thực hiện một công cuộc cải cách “thánh thiện hóa thân tâm”, hướng mình đến một cõi sống hoàng kim “toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ”.

b/- Sinh hoạt của người xuất gia:

Nói đến sinh hoạt của người xuất gia, đầu tiên chúng ta phải liên tưởng ngay đến giới luật. Bởi vì: “Giới luật là thọ mạng của Phật Pháp; giới luật còn, Phật Pháp còn”. Thiếu giới luật, tăng đoàn khó mong được hòa hợp thanh tịnh. Xưa kia, khi đức Thế Tôn còn tại thế, sau 13 năm thành đạo, nhận thấy tăng chúng bắt đầu sanh hữu lậu pháp, ngài bèn chế định ra giới luật để làm tiêu chuẩn cho sự tu hành và nếp sinh hoạt cho chúng đệ tử. Sau Phật diệt độ, các bậc kỳ túc trưởng lão lần lượt góp nhat, biên soạn lại để làm kỷ cương tu hành. Đoàn thể xuất gia đều phải tuân thủ theo giới luật, tôn trọng giới luật như bậc Đại Đạo Sư ( theo lời Phật Di giáo). Tuy nhiên, vì trong khi hành trì có sự bất đồng ý kiến, các tông phái lần lượt hình thành: lại tuỳ theo phong tục quốc độ nên các văn bản về giới luật có phần sai khác hoặc chênh lệch về số lượng. Điển hình như : theo luật Tứ phần của Bắc tông thì Tỳ kheo có 227 giới. Tỳ kheo ni có 321 giới. Các giới điều tuy có sai khác nhưng chỉ khác về tiểu tiết còn đại cương thì vẫn giống nhau. Năm chúng xuất gia tuỳ theo khả năng mà lãnh thọ nhiều ít. Đã thọ giới rồi thì phải nương theo các giới diều trong giới bổn mà hành trì, lấy đó làm mực thước trong sinh hoạt hằng ngày, dè dặt chẳng để trái phạm. Bên cạnh đó, chư Tổ còn chế thêm thanh quy (như Bách Trượng thanh quy) để nghiêm chúng, lấy đó làm qui ước cho chốn Tòng lâm. Do vậy, người xuất gia cử chỉ động tĩnh đều phải noi theo phép tắc. Riêng đối với “Lục hòa kỉnh pháp”, người nào trái phạm bị xem như phá hòa hợp tăng, nếu nặng có thể bị tẩn xuất.

Trên đây là nói về thiền môn qui củ, tức tiêu chuẩn chung cho mọi sinh hoạt của người xuất gia. Về sinh hoạt cá nhân, mỗi người tự tạo cho mình một nếp sống thiểu dục tri túc, không mong cầu, không chất chứa, không chú trọng vào vật chất, chỉ lấy sự thanh đạm làm mãn nguyện “an bần thủ đạo”. Còn về thời khóa tu tập cũng như công tác hằng ngày thì tuỳ theo cách tổ chức, qui định riêng của mỗi tòng lâm mà có phần sai khác. Như: Thiền tông chú trọng về tọa thiền, Mật tông chuyên về chú quyết, Tịnh độ tông thiên về tụng kinh niệm Phật… Chú trọng phần nào thì phần ấy được dành thời giờ nhiều hơn. Trong khi hành trì, hành giả phải lấy đức tinh tấn làm đầu, chớ để một niệm buông lung giải đãi. Ngoài những thời khóa và công tác đã ấn định, thời giờ còn lại, người có lo hạ thủ công phu “ôn tầm bối diệp” v.v…Có thể nói: về sinh hoạt tinh thần cũng như vật chất, người xuất gia đều phải noi theo lời Phật dạy, lấy đó làm căn bản để tién tu; luôn luôn và lúc nào cũng ghi nhớ “vai trò trách nhiệm” của mình đẻ có lối hành xử phù hợp và thích đáng.

ĐỊA VỊ (VAI TRÒ) CỦA NGƯỜI XUẤT GIA:

+ Địa vị Trưởng tử: Người xuất gia là người đại diện Phật tuyên dương chánh pháp, đại biểu và chủ trì Phật Giáo. Cho nên trong Phật Giáo, địa vị của người xuất gia là địa vị “Trưởng tử”

+ Địa vị Chúng trung tôn: Chánh pháp của Phật là phương pháp làm cho con người xứng đáng với danh nghĩa con người (kiện toàn và hoàn thiện hóa thân cách), cải tạo con người độc ác, ngu muội, hèn nhát thành con người bi, trí dũng. Chánh pháp ấy do nơi người xuất gia truyền bá. Do vậy, trong xã hội, người xuất gia giữ địa vị “Chúng trung tôn”.

NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI XUẤT GIA: có 2 điều trọng yếu.

+ Trụ trì chánh pháp: trong việc duy trì và làm hưng thạnh mạng mạch Phật Pháp, người xuất gia không những có trách nhiệm phải hoằng pháp, hộ pháp mà đặc biệt phải “như pháp mà tu hành”.

Người tu mà phá giới phá kiến thì mạng mạch Phật Pháp sớm bị băng hoại. Đó là hiện tượng “Sư tử trùng thực sư tử nhục”.

+ Giáo hóa xã hội:

Muốn xã hội không đau khổ, được an lạc, người xuất gia phải giáo hóa mọi người bằng cả thân giáo, khẩu giáo, ý giáo.

Vai trò và trách nhiệm của người xuất gia lớn lao như vậy nên trong sinh họạt hằng ngày, người xuất gia phải nỗ lực tăng tấn hạnh giải.

c/- Con đường tu tập của người xuất gia:

Quanh quẩn trong rừng giáo điển kinh-luật-luận, đôi lúc chúng ta cảm thấy phân vân, bất quyết không biết nên thú hướng về đâu vì ngôn giáo hầu như “muôn màu muôn vẻ”. Nhưng, điều làm cho chúng ta cảm thấy an tâm là: “Rừng thiền thăm thẳm, bể luật mênh mông, chung quy không ngoài TAM VÔ LẬU HỌC”. Thật vậy, rải rác trong các kinh là vô lượng pháp môn tu tập nhưng tựu trung đều nhàm hiển bày ba môn học: Giới-Định-Tuệ. Như chiếc lưới dầu nhiều mắt vẫn có giềng mối để dễ tóm thâu, y cứ vài then chốt “Giới-Định-Tuệ” ta sẽ dễ dàng thăng tiến trên lộ trình giác ngộ giải thoát. Cổ đức đã từng hướng dẫn chúng ta:

“Buộc tâm lấy GIỚI làm dây

Vững tâm lấy ĐỊNH dựng xây đạo tràng

Rõ tâm đuốc TUỆ soi đàng

Tâm không cảnh tịnh, Niết Bàn an vui”

Tại đây, vì không thuộc phạm vi khảo sát chủ yếu nên chúng ta tạm giới thiệu tiến trình tu tập ba pháp học này dựa theo Đại kinh xóm ngựa. [4]

Trước khi tuyên thuyết ba pháp học này, đức Phật đã khuyến cáo chúng Tỳ Kheo: Này các Tỳ kheo, các ông đã được ưng là Sa môn, đã tự nhận là Sa môn thì phải tu tập như thế nào để xưng được chân chánh và sự tự nhận được như thật. Có thế thì đối với những đồ cúng dường mà các ông thụ hưởng mới có được lợi ích lớn, được kết quả lớn và sự xuất gia của các ông mới không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích.

Lần lượt sau đó, đức Phật đã giới thiệu: Pháp tác thành Sa môn có 3. Đó là: Giới học-Định học-Tuệ học.

Pháp tác thành Sa môn thuôc GIỚI HỌC: gồm 7

1)Tàm quý

2)Thân khẩu ý hành thanh tịnh.

3)Mạng sống thanh tịnh.

4)Hộ trì các căn.

5)Tiết độ trong ăn uống.

6)Chú tâm cảnh giác

7)Chánh niệm tỉnh giác.

Pháp tác thành Sa môn thuộc ĐỊNH HỌC: gồm 3

1)Tọa thiền (ngồi xếp bằng, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt)

2)Thay thế 5 triền cá bằng 5 thiền chi

• Tầm ≠ hôn trầm thuỳ mien

• Tứ ≠ nghi

• Hỷ ≠ sân

• Lạc ≠ trạo hối

• Nhất tâm ≠ tham dục.

3)Chứng và trú 4 tầng thiền

Pháp tác thành Samôn thuộc TUỆ HỌC:

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sắng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu

nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh, vị ấy dẫn tâm hướng đến:

• Túc mạng minh

• Thiên nhãn minh.

• Lậu tận trí

Từ đây, vị ấy hướng tâm đến thắng trí, chứng được tâm giải thoát và tuệ giải

thoát; đoạn trừ và thoát ly toàn bộ các lậu hoặc, giải thoát các sanh y. Đây chính là lúc vị ấy nhận biết:

“Sanh đã tận

Phạm hạnh đã thành

Những việc đáng làm đã làm

Không còn thọ thân sau”

Trên đây đã trình bày qua 3 pháp tác thành Sa môn. Có thể nói: Cuộc sống tinh

thần của vị Sa môn sở dĩ được cao thượng là do thành tựu Giới cụ túc. Pháp hành của Sa môn sở dĩ được tiến triển là do thành tựu Định cụ túc. Nội tâm của Sa môn sỡ dĩ được minh triết, thánh thiện là do thành tựu Tuệ cụ túc. Vị Sa môn sẽ không còn dính mắc trong vòng sanh tử, sẽ đi đến mục đích giải thoát Niết Bàn khi đã cụ túc hoàn hảo về tam vô lậu học.

Các kinh thường ví tam vô lậu học như cái đãnh ba chân luôn luôn và lúc nào cũng hỗ trợ cho nhau: nhân nơi giới mà phá sinh định, nhân nơi định mà trí tuệ hiển bày. Ngược lại, nhờ có trí tuệ mà đình chỉ được vọng niệm (thành tựu định), nhờ đình chỉ vọng niệm mà trong ngoài khỏi lỗi ( thành tựu giới). Vậy nên với người cầu đạo Giải thoát không thể bỏ sót phần nào trong tam vô lậu học. Nói cách khác: con đường tu tập tất yếu của người xuất gia chính là con đường tăng tiến và kiện toàn ba môn học: Giới-Định-Tuệ

Xuyên qua 3 bước khảo sát về:

• Ý nghĩa của việc xuất gia.

• Sinh hoạt của người xuất gia.

• Con đường tu tập của người xuất gia.

Chúng ta thấy rằng: Người xuất gia chân chính là người cắt đứt mọi sợi dây trói buộc của phàm tình để sống đời phạm hạnh, một nếp sống độc thân, viễn ly, thiểu dục, tri túc nương theo giáo pháp của Phật ( chủ yếu là Giới-Định-Tuệ) để chuyển hóa và cải tạo những pháp hạ liệt, uế nhiễm ở đời (tiêu biểu là tham-sân-si). Bên trong, vị ấy tự làm cho mình được thanh tịnh, được giải thoát. Bên ngoài, vị ấy giúp cho người khác cũng như mọi loài chúng sanh đều được thanh tịnh giải thoát như mình. Giữa dòng đời xuôi ngược, chằng chịt những buộc rang, người xuất gia là hiện thân của sự thanh thoát:

“Nhứt bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Chỉ vi sanh tử lộ

Giáo hóa độ Xuân thu”

(Một bát cơm ngàn nhà

Thân chơi muôn dặm xa

Chỉ vì đường sanh tử

Giáo hóa suốt đời ta)

2.- CÁC CÁCH HỌC ĐẠO CỦA NGƯỜI XUẤT GIA:

Cùng là một hành động nghĩa hiệp “cứu người khỏi chết đuối” nhưng nhà tâm lý học dựa vào mức độ tốt xấu của động cơ mà có sự đánh giá sai khác về phẩm chất của người cứu (mức độ xấu tốt được sắp xếp theo trình tự trước sau):

• Vì biết nạn nhân con nhà giàu có, cứu để được thưởng.

• Vì biết nạn nhân là cô gái đẹp, cứu để “gieo duyên”

• Vì danh dự mình là vận động viên bơi lội cừ khôi

• Vì động cơ trách nhiệm mình là người bảo vệ hồ bơi

• Vì lòng nhân đạo, thương hại người bị nạn.

Trong thực tế, vì khó biết được động cơ của chủ thể (bản thân người làm mới biết rõ) nên người ta phần nhiều chỉ chú trọng đến kết quả, xem kết quả là chính. Dầu vậy, cũng có thể dựa vào một số biểu hiện mà suy đoán được phần nào mức độ tốt hay xấu của động cơ. Tâm lý học đã khẳng định rằng: Một hành vi thực sự có giá trị đạo đức phải là hành vi hoàn hảo cả hai khâu: động cơ và kết quả (cả hai đều tốt). Làm việc hào hiệp nhưng với động cơ vụ lợi hèn mọn vẫn bị đánh giá là kẻ thấp hèn. Hết lòng vì đại cuộc nhưng năng lực kém cỏi, “đắc thất bất minh”, chuyên làm những chuyện “dã tràng xe cát” thì dẫu khổ công nhọc sức vẫn chẳng được người tôn vinh.

Sự đời đã như vậy, lẽ đạo có khác gì chăng? Thật ra, với Phật Giáo, chân lý tuyệt đối xưa nay vốn bặt ngôn ngữ, tuyệt suy lường, không còn các tướng đối đãi: hơn-thua, cao-thấp. Khen–chê, được-mất cũng chỉ như những áng phù vân trôi nổi trên bầu trời chân tánh. Tuy nhiên, khi còn ở cửa phương tiện chúng ta cũng nên biết qua những loại hành tướng tốt-xấu, hay-dở để chọn chỗ thú hướng cho tâm của mình. Qua phần khảo sát trên (mục 1), chúng ta ai cũng biết: người xuất gia là người sống đời cao thượng vì ôm ấp một hoài bão cao thượng và cố gắng thực thi một hành động cao thượng là: “cứu chúng sanh khỏi chết đuối trong biển sanh tử luân hồi”. Song, hành động ấy có thực sự cao thượng hay không còn tuỳ thuôc vào động cơ phát tâm và thái độ tu hành của mỗi người. “Như nhân ẩm thuỷ, lãnh noãn tự tri”, phi Thánh nhân và bậc tu chứng mấy ai thấu rõ tâm nguyện của ta hơn là “mình tự biết mình”. Ở đây, chỉ xin nêu một số cách phân loại của người xưa (qua kinh điển) để mỗi hành giả tự soi rọi, đánh giá cho động cơ phát tâm cũng như thái độ tu hành của chính mình

TÁM LOẠI TÂM NGUYỆN(theo Khuyến phát Bồ Đề tâm văn)

Chúng sanh sa giới chủng loại ngàn sai nên việc phát tâm lập nguyện đương nhiên cũng có nhiều tướng dị biệt. Tâm nguyện đã có nhiều tướng dị biệt: thắng-liệt, ưu-khuyết…khác nhau, nếu không am tường thật khó tránh khỏi sự lầm đường lạc lối. Bởi vậy, muốn đi đúng vào nẻo chánh, không trái với chí nguyện xuất gia ban đầu cần phải khảo sát các ngõ ngách thông bít của việc phát tâm:

Theo Tỉnh Am đại sư, tướng trạng của tâm nguyện có 8. đó là: tà, chánh, chân, nguỵ, đại, tiểu, thiên, viên.

1)Thế nào là TÀ? - Người xuất gia chỉ một bề tu hành không chịu cứu xét tâm

tánh, chuyên lo ngoại vụ, hoặc chạy theo danh văn lợi dưỡng, hoặc ham lạc thú hiện tại, hoặc cầu quả vui vị lai.

2)Thế nào là CHÁNH? - Người xuất gia không cầu lợi dưỡng danh văn, lại

không ham quả báo dục lạc, chỉ vì mục đích thoát ly sanh tử, chứng đắc Bồ Đề.

3)Thế nào là CHƠN? - Người xuất gia niệm niệm liên tục trên mong cầu Phật

đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Nghe Phật đạo dài xa không lùi bước khiếp sợ, thấy chúng sanh khó độ không chán nản mệt mỏi. Như người trèo núi cao muôn trượng quyết lên thấu đỉnh, như lên tháp chín tầng cố lên tận nóc.

4)Thế nào là NGUỴ? - Có tội không sám hối, có lỗi không dứt trừ, ngoài sạch

trong nhơ, trước siêng sau nhác, tuy có tâm tốt nhưng phần nhiều bị danh lợi xen lẫn, tuy có pháp lành lại bị vọng nghiệp làm nhuốm bẩn.

5)Thế nào là ĐẠI? - Người phát tâm nguyện rộng lớn: “Cõi chúng sanh hết

nguyện của ta mới hết, đạo Bồ Đề thành nguyện của ta mới thành”.

6)Thế nào là TIỂU? - Người tu với tâm yếm xả: xe ba cõi như lao ngục, thấy

sanh tử như oan gia, chỉ mong tự độ, không muốn độ người.

7)Thế nào là THIỆN? - Người xuất gia ngoài tâm thấy có chúng sanh để độ, có

Phật đạo để thành, công phu không xả, thấy biết không tan.

8)Thế nào là VIÊN? - Biết tự tánh là chúng sanh nên nguyện độ thoát, tự tánh

là Phật đạo nên nguyện thành tựu. Không thấy một pháp nào ngoài tâm riêng có. Đem tâm vô tướng, phát nguyện vô tướng, hành hạnh vô tướng, chứng quả vô tướng. Sau cùng, cái tướng “vô tướng” cũng xem là “bất khả đắc”.

Đối với 8 loại tâm nguyện kể trên, hành giả nào phát tâm lập nguyện ứng với 4 loại : chánh, chân, đại, viên thì được xem là người chân chánh xuất gia, chân chánh phát tâm Bồ Đề.

Có thể nói: tâm nguyện xuất gia là động cơ chính, giữ vai trò chủ đạo chi phối và ảnh hưởng đến thái độ tu hành của người xuất gia xuyên suốt quá trình học đạo và hành đạo. Được xem là bậc “Thiên nhơn mô phạm” hay bị xếp vào hạng “lạm xí tăng luân” là tuỳ thuộc vào mức độ tốt hay xấu của động cơ này. Thế nên, dưới đây hình thức tuy phân nhiều loại khác nhau; kỳ thực, bản chất của việc phân chia đều y cứ vào cácloại tâm nguyện.

BỐN LOẠI XUẤT GIA(theo Pháp Uẩn túc luận) :

1)Thân xuất gia, tâm tại gia: thân vào chùa học đạo làm đạo nhưng tâm vẫn còn

lưu luyến thế tục.

2)Thân tại gia, tâm xuất gia: tuy vẫn có gia đình nhưng tinh tấn tu học, không

bị vọng tình thế gian làm đam mê nhiễm trước.

3)Thân tâm đều xuất gia: tâm không còn lưu luyến đối với các dục cảnh, kính

mộ Tam Bảo, giữ giới thanh tịnh, quyết dứt bỏ các phiền não, quyết tâm đác quả Bồ Đề.

4)Thân tâm đều chẳng xuất gia: thọ dụng ái dục, đam nhiễm rất sâu. Hình

thức là người xuất gia nhưng thực chất thì không khác gì người thế tục. (Thân trụ không môn, tâm hành trần tục). Sa di luật giải gọi đây là Húc cư sĩ (cư sĩ trọc)

Trong 4 loại trên, được như loại thứ 3 là quý nhất.

BỐN LOẠI SA MÔN(theo Du Già luận và Câu Xá luận) :

1)Thắng đạo Sa Môn: bẩm sinh mến mộ Phật mà xuất gia, có khả năng diệt trừ

phiền não và chứng thắng đạo

2)Thuyết đạo Sa Môn(Thị đạo Sa môn): chuyên dứt trừ mê hoặc, chứng ngộ

chân lý, có khả năng tuyên giảng chánh pháp, khiến cho chúng sanh vào với Phật Giáo.

3)Hoại đạo Sa môn(Ô Đạo Sa môn): phạm giới cấm, làm điều ác, làm hoen ố

cửa Thiền, hư hoại mạng mạch Phật Pháp. (Sư tử trùng thực sư tử nhục).

4)Hoạt đạo Sa môn(Mệnh đạo Sa môn): có khả năng chế phục phiền não, siêng

năng tu hành thiện pháp khiến cho mệnh căn trí tuệ ngày càng phát triển.

Trong 4 loại này, loại thứ 3 là loại nên tránh

BỐN CÁCH THỌ DỤNG(theo Thanh tịnh đạo luận):

Riêng xét về mặt giới hạnh, ngài Buddhaghosa chia hàng xuất gia ra làm 4 loại:

1)Một người không đủ giới đức, sử dụng 4 vật dụng được cúng dường, ngay

cả sự có mặt trong tăng chúng cũng gọi là dùng NHƯ KẺ TRỘM

2)Một người có giới mà không chân chánh giác sát trong khi dùng 4 vật thực

cúng dường gọi là dùng NHƯ MẮC NỢ

3)Một người sử dụng 4 vật cúng dường để đạt được Bảy bậc Hữu học (4 đạo, 3

quả) thì gọi là dùng NHƯ HƯỞNG GIA TÀI CỦA TỔ TIÊN. (Vì họ là những người con của Như Lai, họ dùng những vật dụng như thừa hưởng gia tài của cha để lại)

4)Một vị đã đoạn trừ hết phiền não, không còn bị các dục sai sử, vị này dùng các

vật cúng dường NHƯ NGƯỜI CHỦ.

Đối với 4 loại này, cách dùng tốt nhất là dùng như người chủ.

BỐN LOẠI THỪA GIỚI(Theo Hoa Nghiêm tuỳ sớ):

1)Thừa cấp giới hưỡn: người tu học trong chánh pháp của Phật vì ham chuộng

danh xưng dưỡng, hoặc vì muốn mau thành tài để phụng sự Phật Pháp nên chuyên tâm để ý đến việc trau giồi tài năng học lực. Ngoài thời giò học hỏi này, không còn tha thiết gì đến sự trau giồi giới hạnh.

2)Giới cấp thừa hưỡn: người xuất gia chuyên lo trau giồi giới hạnh, không một

phút nào lơ đãng. Tuy nhiên, lòng vị này không ưa thích nghe pháp cũng không ưa học hỏi.

3)Thừa giới câu cấp: ngưới xuất gia học đạo lúc nào cũng cố gắng vừa học hỏi

vừa thi hành đúng như lời Phật dạy. Suốt đời chuyên tâm trau giồi nghiên cứu giáo lý sâu nhiệm để phát minh tâm địa, hạnh giải tương ưng.

4)Thừa giới câu hưỡn: người xuất gia kém thiếu năng lực học tập, cũng kém

thiếu tâm chí hướng thượng nên trọn năm mãn tháng lếu láo qua ngày. Cuộc đời người này thức như kẻ say, ngủ như người chết, không có gì đáng lưu lại cho người sau, cũng không có phước duyên để tạo thành quả giải thoát.

Người xuất gia học đạo nên thú hướng vào loại thừa giới thứ 3.

NĂM LOẠI TĂNG(Theo Hiển Tông luận):

1)Vô sĩ tăng: những người huỷ phạm cấm giới, chẳng giữ chơn phong giải thoát

của đạo quả vô thượng. Hình dạng tuy dự vào Tăng lưu mà hành vi chẳng khác kẻ thế tục. Đó là hạng không biết sĩ nhục.

2)Á dương Tăng: trong ba tạng Thánh giáo, không một mảy may hiểu biết,

giống như con dê câm, không biết những phương tiện ứng dụng trong Phật Pháp.

3)Bằng đảng Tăng: những người chỉ ưa dạo chơi, phí bỏ thời giờ quý báu. Cả

đời ưa tranh đua phải quấy, hơn thua, toan tính âm mưu, kết phe lập đảng.

4)Thế tục Tăng: những người này tuy mang danh xuất gia nhưng thật là mờ mịt

bổn phận xuất gia, luống sống qua ngày, nhởn nhơ hết buổi, lòng chỉ ham ưa sung sướng, thân hay gây tạo duyên đời.

5)Thắng nghĩa Tăng: những bực này thuộc về hàng hữu chí hữ tâm, trí tuệ có

dư, giới hạnh khẳm đủ, tài biện thuyết rành rẽ không bị ngăn ngại, tuỳ cơ diễn nói, tiếp vật lợi sanh. Cuộc đời của bậc này thật là lòng gấm miệng hoa, xứng đáng là bậc long tượng trong chốn thiền môn, là quy cảnh (khuôn phếp) cho hàng hậu học.

Để không cô phụ chí xuất gia thì nên phấn đấu theo loại thứ 5

NĂM LOẠI PHẠM HẠNH(Theo Tiểu Kinh thí dụ lõi cây):

Có năm loại nguời tu phạm hạnh ứng với năm hạng người đi tìm lõi cây:

1)Phạm hạnh cành lá: được tôn kính cúng dường sinh tự mãn khen mình chê

người không chịu tu tập thêm nữa, ví như người vào rừng chặt cành lá đem về cho là lõi cây.

2)Phạm hạnh vỏ ngoài: tự mãn không cố gắng tu tập thêm nữa sau khi đã thành

tựu giới đức, ví như người vào rừng chặt vỏ ngoài đem về cho lá lõi cây.

3) Phạm hạnh vỏ trong: tự mãn không cố gắng tu tập thêm nữa sau khi chứng định học, ví như người vào rừng cây chặt vỏ trong đem về cho là lõi cây.

4)Phạm hạnh giác cây: tự mãn không cố gắng tu tập thêm nữa sau khi chứng

được tuệ học (thành tựu tri kiến), ví như người vào rừng chặt giác cây đem về cho là lõi cây.

5)Phạm hạnh lõi cây: không tự mãn đối với những gì đã thành tựu (về sự tôn

kính cúng dường, về giới học-định học-tuệ học), cố gắng tu tập thêm, đoạn trừ các lậu hoặc, chứng được Thánh quả. Ví như người vào rừng chặt bỏ tất cả chỉ lấy lõi cây:

Trong 5 loại phạm hạnh này, chỉ có loại sau cùng (phạm hạnh lõi cây) là loại mà

Đức Phật tán than, cho đó là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh, là cái đích mà Sa môn học đạo phải gắng đạt đến.

Trên đây đã trình bày qua các cách phân loại dựa theo động cơ phát tâm và thái độ tu hành của người xuất gia. Trong đó, cách thức phân chia tuy nhiều nhưng nhìn chung có thể gom lại thành 3 loại chính:

Xứng pháp phục: hợp với đạo

Vị xứng pháp phục: chưa mấy hợp với đạo.

Bất xứng pháp phục: không hợp với đạo, trái với đạo

Riêng loại “Bất xứng pháp phục”, trong kinh còn gọi là hạng “uổng phi pháp phục” hoặc “lạm xí tăng luân” tức là những kẻ lẫn lộn vào hàng ngũ xuất gia, tăng chẳng ra tăng, tục chẳng ra tục, ví như con lừa lẫn vào trong bầy trâu, da lông tuy giống nhưng đầu sừng không đồng và tiếng kêu cũng khác.

Lời ký trong Sa di luật giải có chép:

“Chữ LẠM có nghĩa là trà trộn. Chữ XÍ là lộn lạo. Có thân năm thước mà không trí tuệ, Phật gọi là “Si Tăng” (ông thầy ngây ngây dại dại). Có lưỡi ba tấc mà không thuyết pháp được Phật gọi là “Á dương Tăng” (ông thầy như dê câm). Tục không phải tục, tăng chẳng phải tăng, Phật gọi là “điều thử Tăng” (ông thầy như chim, chuột) cũng gọi là “Húc cư sĩ” (cư sĩ trọc đầu). Phật nói: Thế nào là đứa giặc? Mượn y phục của ta, lén bán chánh pháp Như Lai, tạo đủ thứ tội. Đây chính là đứa giặc xen lôn trong cửa Thiến vậy” [5]

Ngạn ngữ phưong Tây cũng có câu: “Không phải cái gai bên đường làm chân anh đau mà chính hạt sạn trong giày anh mang”.

Người có lòng hiếu kính Phật, thiết tha với chánh pháp suy gẫm những lời này há chẳng đau lòng sao?

Là một trong những người hảo tâm xuất gia, có thể chúng ta không đến đỗi như những kẻ mượn đạo tạo đời, thân trụ không môn tâm hành trần tục. Tuy nhiên, nếp sống an tịnh thanh thoát chốn thiền môn dễ thường làm cho ta có cảm giác mình là người đã thực sự ly triền thoát phược, xứng đáng dự hàng “Chúng trung tôn”. Như một dũng sĩ mải mê đem kính chiếu yêu và bảo kiếm giúp đời trừ tà diệt bạo, chợt một ngày nọ rọi mạo ma quái của chính mình”. Với danh nghĩa “Như Lai sứ giả”, là chỗ quy ngưỡng của chúng sanh, ta hăng hái khuyến hóa thế nhân (nhất là Phật tử tại gia) dứt ác làm lành, viễn ly trần cấu, loại bỏ ái thủ…Nhưng, khi rà soát lại công huân tu tập của chính mình (dựa vào các cách phân loại trên), ta sẽ giải thích ra sao nếu như mình rơi vào loại “uổng phi pháp phục”? Than ôi:

“Vọng tình dị tập

Chí đạo nan văn

Bạt tục siêu quần

Vạn trung vô nhất” [6]

(Vọng tình dễ tập nhiễm

Chỗ chí đạo khó nghe

Vượt tục hơn phàm tình

Muôn người không được một)

Bậc cổ đức là người đạo cao đức trọng mà hãy còn thốt lời than như vậy. Chúng ta là hạng người nào mà không lấy đó làm điều răn dè, lo “hồi quan phản tỉnh” để kịp thời chỉnh đốn lại những thói hư dở còn tồn tại nơi chính mình?! Phạm hạnh chưa tròn, vọng tình chưa dứt thì chớ vội tự hào là trang Thích tử!


[1]Chép theo nguyên văn bản đánh máy Bài giảng của TT. Thích Minh Thành.

[2]Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư bài thứ 6

[3]Dựa theo “Bản đồ tu Phật” của HT. Thích Thiện Hoa. Thành Hội Phật Giáo TP. HCM xb. 1990

[4]Trung Bộ Kinh tập 1, HT. Thích Minh Châu dịch, Viẹn nghiên cứu PHVN xb. 1992.

[5]Sa Di Luật Giải, HT. Thích Hành Trụ dịch, Thành hội PGTPHCM xb. 1992, trang 526

[6]Sa Di Luật Giải, (Sđd), trang 30

--- o0o ---


Vi tính: Đồng Thanh Phước Liên
Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn