Đôi mắt hiếu đạo (thơ)

01/08/201407:07(Xem: 20257)
Đôi mắt hiếu đạo (thơ)

muc-kien-lien
THƠ TẬP 3
 
ĐÔI MẮT HIẾU ĐẠO
THƠ: LIỄU NGUYÊN



 

ĐÔI MẮT LIỄU NGUYÊN

Tôi sinh ra đôi mắt chẳng bình thường
Mỗi sáng sớm mặt trời mới tinh sương
Người người mở mắt nhìn được ánh dương
Riêng mình tôi nước mắt ướt lệ nhòa.

Khóc cả tiếng đôi mắt mới hé mở
Càng muốn mở nước mắt càng ứa nhòa
Đau buốt lắm nhưng không muốn mù lòa 
Mở được mắt Mẹ mừng cũng muốn khóc.

Tôi cảm nhận tình thương khi Mẹ khóc
Mẹ muốn thay nỗi đau, tình mẫu tử
Muốn cho con mắt sáng mãi không từ
Nhưng kiếp người nghiệp quả có ai hiểu.

Cũng may gặp phước Ba thường biểu
Con theo Ba lau đèn cúng Phật nhiều
Chăm bò xong, chiều lễ Phật kính yêu
Suốt hai năm phước lành rồi cũng đến.

Một bà lão trong làng thật trìu mến
Nhận chít lễ đôi mắt thật êm đềm
Dăm ba bữa mắt sáng như sao đêm
Ngủ một giấc mặt trời thức liền thấy.

Thấy Ba Mẹ tươi cười như áng mây
Thấy ánh dương ban mai nắng rực hồng
Thấy từng ngọn lá, ngàn hoa trổ bông
Nước mắt vơi chảy, tình thương ngập lòng.

Nguyện cầu: Những ai đang bị như tôi từng bị, hãy thường phát tâm lau đèn cúng Phật, sẽ được rất nhiều phước đức. Rồi gặp được bác sĩ giỏi và thuốc tốt thì bệnh lành và có lại đôi mắt sáng. Cầu mong mọi người, mọi loài không ai bị cảnh mù lòa, để được nhìn thấy nhau trong tình yêu thương.

 

muc-kien-lien

 

CON HỎI MẸ

Sinh ra Cha Mẹ trao tình thương
Ra đi chỉ nhường đó lên đường
Hỏi Mẹ loài người từ đâu đến
Lúc chết cái gì động miên trường?

 

ÂN CHA NGHĨA MẸ
Rằm tháng 7 mùa Vu Lan: 2013
Kính dâng Cha ở cỏi Phật, Mẹ ở phương trời xa

Ngàn hoa đẹp nhất đóa hồng
Dâng lên Cha Mẹ muôn lòng thiết tha
Thế gian hai chử tình Cha
Trên đôi vai ấy biết bao la tình.

Công lao núi bể nghĩa tình
Biển Đông mực cạn khó trình tả nên
Ơn Cha nghĩa Mẹ, hai bên 
Suốt đời báo hiếu mới nên thân người.

Trong dòng máu đỏ, hai người
Tình thương là Mẹ, trí ngời là Cha
Lời ru tiếng hát khúc ca
Nuôi con khôn lớn bao la biển trời.

Công lao sánh tợ biển khơi
Ngàn năm đạo hiếu sách trời có ghi
Phật đã dạy đạo từ bi
Lời ru Mẹ kể hài nhi năm nào!

Núi cao khó vượt công lao
Bao la biển rộng không sao sánh bằng
Hiếu đạo Phật pháp một đằng
Là nhân Thánh quả, phước đẳng hà sa.

 

ƠN NGHĨA SINH THÀNH

Ngàn năm một bóng hình Cha
Trên đôi vai ấy bao la tình người
Công ơn vượt cả núi trời
Biển đông mực cạn không lời tả nên.

Muôn đời hiếu đạo trước tiên
Công danh sự nghiệp xây trên thân này.
Mang thai giọt máu chưa đầy
Là duyên mẫu tử từ đây bắt đầu.

Chín tháng thai nghén quá lâu
Bên ngoài Cha Mẹ bao lâu cũng chờ
Chờ khi sanh được ước mơ
Hoe hoe tiếng khóc, Cha mừng Mẹ mong.

Cuộc đời chưa phải thong dong
Niềm vui có đó nổi lo càng nhiều
Lo toan đủ cả mọi đều
Lo sao kiếm đủ nhiều tiền nuôi con.

Lo từng giọt sửa cỏn con
Lo từng áo lạnh khi đông gió về.
Lo sao cho đủ muôn bề
Đêm nằm thao thức bảo bề con thơ.

Đến khi biết nói ngu ngơ
Dỏi mắt Cha dạy nhớ ơn thành người
Công danh sự nghiệp với đời
Là lúc Cha Mẹ dặm trời chiều thu.

Tóc sương mưa nắng bạc đầu
Lá vàng lác đác tóc sương hai màu
Thân khô lá rụng đông sầu
Tình Cha Nghĩa Mẹ biển đâu sánh bằng.

 

NHỚ MÃI LỜI CHA

Theo cha học đạo tổ sư
Những lời cha dạy in như ngày nào
Thân người khó được biết bao
Gắng siêng học đạo, đạo cao sau này.

Trên chiếc xe đạp trăm cây
Chở thêm bao gạo đó đây khắp cùng
Mùa đông mưa lạnh muôn trùng
Hè về nắng cháy miền Trung gió Lào.

Thương con chẳng ngại núi cao
Ngàn cây cũng vượt để vào thăm con
Dành tiền mua sách cho con.
Xe đò từ chối chút tiền vẫn còn.

Biết Cha mê sách giống con
Đại thừa kinh tụng cha con cùng đọc.
Cha đã mướn hết sách học
Chép rồi trả lại cho con ngày nào.

Trên trời sáng muôn vì sao
Cha là sáng nhất bao la ngập lòng
Thế gian vô vàn ước mong
Riêng con Cha được thong dong Liên trì.

Nhớ về những năm ở chùa Kim Tiên, theo học 
cơ bản Phật học ở chùa Báo Quốc - 
Huế sau 
khi Ân sư viên tịch (1995)


muc-kien-lien-03

 

 HIẾU TÂM ĐỘNG THẤU ĐẤT TRỜI

Noi theo Địa Tạng Bồ Tát
Phát lời đại nguyện bát ngát từ bi
Mẫu thân nay biết đường đi
Tam đồ thoát khổ khắc ghi Đại thừa.

Mục Liên nối gót Tam Thừa
Thần thông cứu Mẹ không vừa lệ rơi
Hiếu tâm động thấu đất trời
Phật cùng thương xót dạy lời vàng son.

Thế gian dù có hao mòn
Ơn Cha nghĩa Mẹ vẫn còn nguyên trinh

Vu Lan kinh Phật khắc in
Truyền trao đạo hiếu như kinh lời vàng.

Phụng dưỡng Cha Mẹ mọi đàng
Hướng dẫn Cha Mẹ một đằng chuyên tu
Niệm Phật tinh tấn công phu
Cầu cho Cha Mẹ đầy đủ Tịnh bang.

Bỏ thân ngũ uẩn được sang
Tây phương tịnh độ hào quang an lành
Bố thí, trì giới, phóng sanh
Hồi hướng Cha Mẹ phước lành an vui.

 
hoa_hong (2)

THẮP SÁNG

Vu Lan thắp sáng đèn hiếu hạnh
Quá cố Phụ Mẫu vãng Tây phương.

 

CHIM OANH VŨ HIẾU THẢO

Ngày xưa trên núi tuyết sơn
Có chim Oanh Vũ nhớ ơn sinh thành
Phụng dưỡng Cha Mẹ ân cần
Bởi vì Cha Mẹ mắt lần mù đôi.

Thương Cha thương Mẹ không lời
Trên đôi cánh nhỏ dặm trời kiếm ăn
Tuổi thơ muôn vàn khó khăn
May gặp Trưởng Giả lòng sẳn thí cho.

Cảm động hiếu đạo Chim Nhỏ
Trưởng Giả phát tâm chăm lo cúng dường
Oanh Vũ Bồ Tát tấm gương
Tiền thân Phật Tổ sáng đường hiếu tâm.

Hiếu đạo Phật đạo pháp âm
Lập nên hạnh lớn hiếu Tâm sáng ngời
Truyền trao đạo hiếu muôn đời
Hoa hồng luôn nở khắp trời mười phương.

Vu lan thắp nén tâm hương 
Nguyện cho tất cả biết thương Cha Mẹ
Đại Hiếu Kiền Liên thường nghe
Vạn loài noi hướng cùng Ngài hóa thân.

Bài thơ này phỏng theo mẫu chuyện về tiền thân của đức Phật Thích Ca, lúc Ngài còn hành Bồ Tát đạo. Trong bài thơ Chim Oanh Vũ Hiếu Thảo chín là tiền thân của đức Phật, vị Trưởng Giả bố thí thức ăn là đệ tử đức Phật… Ngày nay những Phật tử nhỏ tuổi vào học đạo cũng được khoác trên mình chiếc áo Oanh Vũ trong thậdễ thương là để noi theo hạnh hiếu của chưPhật vậy. (Liễu Nguyên cũng nhiều năm được khoác chiếc áo Oanh Vũ rất hạnh phúc trước khi chưa xuất gia. Tri ân những anh chị Huynh trưởng GĐPT khuôn An Giạ đã nhiều năm hướng dẫn).

 

 hoa_hong (10)

HỒN TÔI MỘT ĐẠO SĨ

Hồn tôi phảng chút thơ ca
Người ta ngỡ tưởng tôi là thi nhân
Đồi thông thổi sáo thơ ngâm
Có người thầm nghỉ tôi là nghệ nhân.

Lúc đi dạy học ân cần
Học trò tinh nghịch nhiều lần thầy la
Nhớ Bố hát khúc tình Cha
Nhiều phen thông cảm cùng ca tình người.

Mỗi khi có người qua đời
Hai tay chuông mõ tán lời Phật kinh
Bao kỷ niệm mới như in
Hôm nay nhìn lại giật mình thời gian.

Đường đời gió tuyết mưa ngàn
Tả tơi chiếc áo vẫn an trong lòng
Thân mang chiếc áo nâu sồng
Tâm luôn có Phật lòng còn như xưa.

Kinh văn sáng tối sớm trưa
Gió mây Lục Độ hương đưa khắp cùng
Tùy duyên hóa độ muôn trùng
Một thân muôn dặm ung dung nẻo về.

 

THƠ TĂNG BÒ VÀNG NĂM XƯA

Tám tuổi làm kiếp chăn bò
Hạnh phúc có được chẳng so bây giờ
Người ta thường nói bò khờ
Sao tôi không thấy bò ngơ chút nào.

Bò Vàng cống hiến công lao
Ngày thì cày ruộng đêm bảo con thơ
Có lần Vàng đẻ con thơ
Không may chú nghé ngây thơ qua đời.

Thương con không nói nên lời
Nước mắt Vàng chảy có trời mới hay
Buồn bả không ăn mấy ngày
Ai hay mẫu tử tình này thiêng liêng.

Bò vàng không những rất siêng
Mà còn che chở chủ riêng thân người
Có lần sét đánh vang trời
Cả đàn bỏ chạy Vàng thời bình an.

Dùng thân che chở chủ nhân
Hôm nay thơ tặng nhớ ân ngày nào
Bỏ Vàng chắc đã lên cao
Nguyện cho Vàng được sanh vào Tịnh bang.
hoa-Hong

Bài thơ viết về một chú Bò Vàng khác thường gần như có được tình người, đã từng che chở cứu mang Tác giả (Liễu Nguyên)  khi một cơn sét đánh giữ dội vào thập niên 80 làm nhiều người dân nơi đây chết và bị thương…
Liễu Nguyên cũng bị té ngã xuống từ trên lưng nó. Cả đàn tán loạn bỏ chạy hoảng hốt, riêng Vàng đứng bình tĩnh che chắn cho chủ nhân, có thể nó sợ những con bò khác dập đạp lên Liễu Nguyên.

Ân tình đó hôm nay Liễu Nguyên xin làm tặng Vàng bài thơ này. Bò Vàng  sau đó sống  đến già yếu nên qua đời, cầu cho bò Vàng được sanh vào cảnh giới an lành.

Trích tư: LIỄU NGUYÊN – GIÓ MÂY HÓA KIẾP – Tuyển tập thơ

Quý Phật Tư cần có CD thơ nhạc Phật Giáo
Liên lạc Liễu Nguyên: (213) 210 5860
863 S. Berendo St, Los Angeles CA 90005
Email: [email protected]

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/08/2011(Xem: 6871)
LTS: Thời gian trước, một số vị phật tử lớn tuổi, am hiểu cổ học, đưa ra ý kiến nói rằng, người xuất gia không hoặc khó làm đầy đủ câu hiếu để đối với song đường (bố mẹ). Vậy điều đó đúng không? Nếu đúng, thì hàng đệ tử xuất gia của đức Phật có đủ tư cách làm người hướng đạo cho cư sỹ tại gia cũng như mọi giới chăng? Nếu nhận thức trên của các phật tử là chưa thấu đáo, nguyên nhân do đâu?
11/08/2011(Xem: 7171)
Vu lan, tiếng Phạn gọi là Ullambana, còn được biết đến như là ngày lễ “Xá tội vong nhân” hay là ngày “Báo hiếu”, là một trong những lễ hội Phật giáo quan trọng của tín đồ theo đạo Phật ở Á châu. Theo truyền thống Phật giáo Đại thừa, lễ Vu lan được tổ chức vào ngày rằm tháng Bảy âm lịch. Ngày lễ Vu lan bắt nguồn từ sự tích ngài Mục Kiền Liên, một trong mười vị đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca, nhờ vào phước đức cúng dường phẩm vật lên chư Tăng trong ngày Tự tứ và sức chú nguyện của Tam bảo mà mẹ của ngài thoát được kiếp khổ ngạ quỷ, sinh về thiên giới.
11/08/2011(Xem: 6130)
T rước 1975, nơi thị xã Nguyên ở, hằng năm cứ vào đầu tháng 7 âm lịch, trên các góc đường của ngã tư lại thấy xuất hiện các anh chị trong Gia Đình Phật Tử làm công tác cài hoa lên áo cho dân phố, nhân mùa Vu Lan về.
11/08/2011(Xem: 10308)
Mùa Vu lan lại trở về, gợi nhắc chúng ta nhớ đến tình thương vô bờ bến của cha mẹ đã dành cho mình. Và đối với người Việt Nam, hiếu thảo là truyền thống quý báu được đặt lên hàng đầu. Tất cả chúng ta đều nhớ như in bài học vỡ lòng đã được dạy dỗ từ tấm bé: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
10/08/2011(Xem: 12705)
Hiếu thảo với cha mẹ là một đức tính tốt đẹp được mọi người ca tụng, đức tính ấy được coi như một nền tảng cho mọi đức hạnh, là nhân tố quan trọng để xây dựng đời sống hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội. Đối với đạo Phật, thực hành hiếu thảo là con đường giải thoát của chánh pháp, là con đường của người Phật tử. Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể gọi là một người Phật tử chân chính được. Bởi vì người Phật tử thì phải thực hành các thiện pháp mà trong kinh "Nhẫn nhục" nói rằng: "Điều thiện tối cao là chí hiếu, điều ác cực ác là bất hiếu". Vì vậy, báo hiếu là bản chất của người Phật tử và đã trở thành truyền thống tốt đẹp của người Phật tử Việt Nam nói riêng, Á Đông nói chung. Quan niệm về hiếu đạo của đạo Phật được thể hiện rõ nét qua hai cuốn kinh phổ biến là Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ, kinh mà không người Phật tử nào không biết, thường được đọc tụng vào dịp tháng bảy, lễ Vu Lan.
10/08/2011(Xem: 7851)
Chứng được sáu phép thần thông, nhớ mẹ Mục Liên Tôn Giả xuống A Tỳ tìm cứu mẫu thân. Phật dạy nương oai thần Tự Tứ, thiết trai cúng dường, đảo huyền thọ khổ chúng sanh được siêu thoát. Lại một lần nữa Đại Lễ Vu Lan Báo Hiếu lại trở về với người con Phật trên khắp năm châu bốn bể, tâm hiếu nguyện cầu lan tỏa bao trùm cả đại địa thời không.
09/08/2011(Xem: 7977)
Rằm tháng Bảy theo tục lệ nhân gian Việt Nam gọi là ngày xá tội vong nhân. Ngày rằm tháng Bảy có nhiều ý nghĩa: Thứ nhất, ngày Phật hoan hỷ. Ngày rằm tháng bảy gọi là ngày đức Phật hoan hỷ, bởi lẽ trong thất chúng đệ tử của Phật, chúng Tỷ-kheo là chúng đệ tử gần gũi nhất, chúng thừa đương Phật pháp để truyền bá giáo hóa cho chúng sinh, chúng mang hình dáng của Phật làm gương mẫu ở thế gian, chúng mà trong ba tháng an cư kiết hạ đã viên măn và kết thúc vào ngày rằm tháng bảy âm lịch. Thông thường, khi chư Tăng thọ giới pháp xong là tu niệm
09/08/2011(Xem: 12119)
Về phương diện đền ơn cha mẹ, Đức Phật có dạy: "Dù là tại gia hay xuất gia, dù là Thanh Văn hay chư Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ. Vì tâm hiếu là tâm Phật".
09/08/2011(Xem: 10390)
Tôn giả Xá Lợi Phất xuất thân từ giai cấp Bà la môn, nổi tiếng thông tuệ từ khi còn thơ ấu. Ngài là niềm tự hào, là hy vọng của gia đình, dòng tộc và nhất là mẹ ngài, bà Xá Lợi...
09/08/2011(Xem: 13651)
“Ầu ơ…….. Ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi, Khó đi Mẹ dắt con đi Con đi trường học, Mẹ đi trường đời” Đó là lời hát ru con mà tôi thường hò để dỗ con vào giấc ngủ trong những ngày tháng khi chúng còn trẻ thơ và rồi ngày mỗi ngày lời ru ấy thấm dần, thấm dần đến tận tâm can của tôi! Tôi thật sự đã ngỡ ngàng và bàng hoàng khi phát hiện ra sự khác biệt qúa chênh lệch giữa “Trường học” và “Trường đời”. Có lẽ chỉ những người có thiên chức làm mẹ mới hiểu được rạch ròi về vạn lần đắng cay của “trường đời”.