Quyển Sách Hạnh Phúc (PDF)

12/07/202510:18(Xem: 9747)
Quyển Sách Hạnh Phúc (PDF)

QUYỂN SÁCH HẠNH PHÚC

 QUYỂN-SÁCH-HẠNH-PHÚC-000

Nguyên bản: The Big Book of Happiness

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma

Nhuận sắc: Renuka Singh

Chuyển ngữ: Tuệ Uyển –Thích Từ Đức

 


Contents

Lời mở đầu. 4

PHẦN MỘT. 6

BÍ MẬT CỦA HẠNH PHÚC.. 6

1- NGHỆ THUẬT HẠNH PHÚC.. 7

2- NHỮNG TRÌNH ĐỘ KHÁC NHAU CỦA HẠNH PHÚC.. 20

PHẦN HAI 39

THA THỨ VÀ TỪ BI 39

1- NĂNG LỰC CỦA THA THỨ.. 40

2- YÊU THƯƠNG TỪ BI 49

3- YÊU THƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM THƯỜNG DÂN.. 60

PHẦN BA.. 72

THỰC TẠI VÀ TUỆ TRÍ 72

1- TUỆ TRÍ CỔ XƯA VÀ TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI 73

2- THÂN KHỎE MẠNH, TÂM KHỎE MẠNH.. 86

PHẦN BỐN.. 94

HÒA BÌNH NỘI TẠI VÀ NGOẠI TẠI 94

1- HÒA BÌNH QUA HÒA BÌNH NỘI TẠI 95

2- HY VỌNG CHO MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH.. 107

3- HÒA BÌNH VÀ TỪ BI 111

PHẦN NĂM.. 125

BẤT BẠO ĐỘNG VÀ ĐẠO ĐỨC THẾ TỤC.. 125

1- ĐẠO ĐỨC CHO THIÊN NIÊN KỶ MỚI 126

2- BẤT BẠO ĐỘNG VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ TÂM LINH TRONG ẤN ĐỘ THẾ TỤC   136

3- ĐẠO ĐỨC THẾ TỤC, NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN BẢN VÀ XÃ HỘI 141

 

 


Lời mở đầu

 

ĐẠO PHẬT ĐÃ HƯỚNG ĐẠO con đường phát triển của Đức Đạt Lai Lạt Ma – cả nội tại lẫn ngoại tại – và vẫn là một sự hướng dẫn cho cội nguồn thích đáng của nhân loại. Những bài diễn thuyết bao hàm trong sự sưu tập này không đối diện trực tiếp với mục tiêu Giác Ngộ hay Quả Phật. Đúng hơn, chúng soi sáng những chủ đề phổ thông về từ bi; bất bạo động và hòa bình; chủ nghĩa thế tục; một thân thể, tâm thức, cá nhân, và xã hội lành mạnh; và tiềm năng của con người cho  hạnh phúc qua sự thực chứng nội tại. Loài người trên thế giới hiện hữu đã sẵn sàng để tiếp nhận tuệ giác xuất phát từ Phật giáo và về Phật giáo vốn trực tiếp che chở chúng ta khỏi khổ đau của chúng ta.

 

Như được đề cập trong những bài diễn thuyết, tất cả chúng ta có tiềm năng để thoát khỏi những khái niệm tri thức (sở tri chướng) và những cảm xúc tiêu cực (phiền não chướng) nhằm để tránh trải nghiệm những nhiễu loạn và khổ đau trần tục trong đời sống của chúng ta. Tuy nhiên, điều này không hàm ý rằng chúng ta không thể hay không nên cố gắng để đạt đến Giác Ngộ hoàn toàn, sự tự giải thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ hay, tối thiểu, đạt đến một thể trạng hòa bình của tâm thức.

 

Những bài thuyết pháp này cũng tượng trưng cho sự thiếu thốn tâm linh của mọi người khắp mọi nơi trên thế giới, như một minh chứng trong ý định của những lời mời thỉnh mà Đức Thánh Thiện đã nhận được từ nhiều trường đại học, tổ chức và quốc gia. Hơn thế nữa, Đức Thánh Thiện thường nhắc rằng con người, không phân biệt là họ vô thần hay hữu thần tín ngưỡng, vẫn có cốt lõi giải thoát nhân bản với tiềm năng lịch sử của họ.

 

Ở bất cứ thời điểm nào, loài người cũng đều có thể nâng cao chính họ đến thể trạng giải thoát hay rơi vào vũng bùn của không gian ngạ quỷ… Trách nhiệm chuyển hóa thân thể, lời nói, và tâm thức trong những môi trường văn hóa đa dạng là ở mỗi cá nhân. Nói cách khác, những tư tưởng và hành động đòi hỏi một loại những thứ không  mâu thuẫn và chuyển hóa ta trở thành con người đúng thật.

 

Những bài diễn thuyết khơi dậy không chỉ vấn đề con người hành động như thế nào nhưng cũng là vấn đề, qua nổ lực và kiên trì hàng ngày, thì người ta có thể khẳng định tính độc đáo của họ và tự tiến hành trong một phương pháp tốt đẹp, phù hợp với bản chất vốn có của họ, và trở thành một người tỉnh thức, một bậc Giác Ngộ để phụng sự nhân loại như thế nào. Thật là lúc cao điểm để loài người gạt bỏ những dự tính không tưởng và nghiên cứu để đối diện những sự thật bằng việc làm mạnh tính chính trực của con người. Do thế, người ta bắt buộc sống một cách nhân bản, vốn sẽ có lẽ, trở thành gốc rể của sự bình đẳng. Cũng thế, nếu chúng ta không trau dồi lòng từ bi và niềm hòa bình nội tại, thì thậm chí nền hòa bình thế giới cũng không mang cho chúng ta sự thăng bằng bên trong.

 

Chúng ta hãy kết luận với thí dụ về Richard More từ Ái Nhĩ Lan người làm việc rất gần gũi với Đức Đạt Lai Lạt Ma trong việc cải thiện đời sống của những người khác. Hoạt động của More với thiếu nhi trong những hoàn cảnh giữa những làn đạn hay xung đột và cuộc sống phi thường của ông là thật sự đáng ngưỡng mộ. Ông mất ánh sáng của đôi mắt năm 1972, sau khi bị bắn bởi những viên đạn cao su. Richard đã có hành động cao thượng để mời và mở rộng một sự chào đón ấm áp với người lính đã làm ông mù mắt với buổi nói chuyện của Đức Đạt Lai Lạt Ma tạo trường đại học Limerick trong năm 2011. Thông điệp từ bi và tha thứ của Đức Đạt Lai Lạt Ma vang dội rất sâu sắc trong hành động của Richard và không chứa chấp bất cứ sân hận hay cay đắng nào đối với Charles, người lính chịu trách nhiệm cho hoàn cảnh của ông. Nhân thể Richard và Charles đã xây dựng tình thân hữu sâu sắc với Đức Đạt Lai Lạt Ma bây giờ.

 

Tương tự thế, qua những bài diễn thuyết này, tiếp theo bởi những câu hỏi và trả lời, nhiều người đã có thể liên hệ với Đức Thánh Thiện và tuệ giác sâu sắc của ngài với sự thanh thoát lớn lao hơn.

 

LƯU Ý CỦA NGƯỜI NHUẬN SẮC

 

“TÔI LUÔN LUÔN NÓI TRONG một cung cách thân mật để bổ xung cho tiếng

Anh vụng về của tôi,” Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói như vậy trong một bài diễn thuyết trong sưu tập này. Để giữ giọng điệu sống động của ngài và hương vị của nó, chúng ta hãy để những bài nói chuyện này không thay đổi một cách tối đa.

Renuka Singh

2013


pdf-download
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/04/2011(Xem: 16932)
Duy Thức Tam Thập Tụng (ba mươi bài tụng Duy Thức) là luận điển cơ bản của Tông Duy Thức. Tông Duy Thức dựa vào luận điển này mà thành lập. Lý do cần giảng ba mươi bài tụng là vì sự thành lập và truyền thừa Tông Duy Thức từ đây mà ra. Tông Duy Thức của Trung Quốc bắt đầu từ học phái Du Già Hạnh của Phật Giáo đại thừa Ấn Độ. Nhưng khi đã nói đến học phái Du Già Hạnh không thể không tìm hiểu học phái Trung Quán. Xin lần lượt trình bày như sau:
02/03/2011(Xem: 8287)
The Buddhist Channel is pleased to present to you the last book written by the late Chief Ven. Dr K Sri Dhammananda. To fulfill the wish of the late venerable, this e-Book shall be distributed free of charge. Please help to fulfill his wish by forwarding it to as many people as you can.
19/02/2011(Xem: 30139)
Hết lòng trân quí và ghi nhớ ân đức sâu dầy của sư Sán Nhiên đã biên soạn và hiệu đính tập sách này, cũng như đã hoan hỷ cho phép Hội Thiện Đức ấn tống nhằm góp phần vào công cuộc hoằng hóa Phật pháp đem đến lợi lạc cho nhiều người. Hội Thiện Đức xin biết ơn sự ủng hộ tinh thần và tán thán sự phát tâm đóng góp tịnh tài của quý Phật tử và ân nhân cho công trình ấn tống này. Xin tri ân chị Thân Thục & anh Thân Phúc đánh máy tập sách; anh Thân Hòa trình bày sách bao gồm thiết kế bìa sách; anh Chúc Giới, anh Thiện Tánh, cùng anh Chúc Tùng cung cấp tài liệu và hình ảnh; Tâm Hân Huệ thỉnh ý sư Sán Nhiên; chị Tâm Thiện, chị Chơn Hạnh Bạch, chị Diệu Âm, Thân Hồng, cùng anh chị Lê Lộc (Lancaster, PA) phụ giúp sổ sách, liên lạc, và kêu gọi cho quỹ ấn tống.
22/01/2011(Xem: 49348)
Đại Hội Khoáng Đại kỳ 04 được tổ chức tại Chùa Pháp Hoa, Nam Úc
10/01/2011(Xem: 72849)
Website Liên Kết từ Trang Nhà Quảng Đức
13/12/2010(Xem: 21471)
Ðọc vào kinh ta nhận thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật đạo.
10/12/2010(Xem: 19641)
Tập sách này gồm 2 bài giảng của Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV, được ngài Rajiv Mehrotra – đệ tử của đức Đạt-lai Lạt-ma – trực tiếp ban cho chúng tôi cùng với 4 bài giảng khác nữa, kèm theo một văn bản cho phép chuyển dịch tất cả sang Việt ngữ và phát hành ở dạng song ngữ Anh-Việt. Phát tâm Bồ-đề là bài giảng được chúng tôi hoàn tất trước tiên và được chọn làm tựa đề cho tập sách này vì tính phổ quát của nó đối với mọi người Phật tử. Bài giảng này có nội dung khuyến khích và hướng dẫn việc phát tâm Bồ-đề, một yêu cầu tối thiết yếu đối với bất cứ ai muốn bước chân vào con đường tu tập theo Phật giáo Đại thừa.
09/11/2010(Xem: 14276)
Các Sa-di-ni thân mến, Chọn “đi tu” làm Sa-di-ni (P. Sāmaṇeri, S. Śrāmaṇeri, 沙彌尼), sau đó, làm Thức-xoa (P. Sikkhamānā. S. Śikṣamānā, 式叉摩那),[1] Tỳ-kheo-ni (P. bhikkhuni, S. bhikṣuṇī, 比丘尼), các con đang đi theo lý tưởng cao cả và hạnh nguyện độ sinh của đức Phật, các bậc Bồ-tát, các Thánh tăng trong lịch sử hơn 2.600 năm của đạo Phật. Đó là diễm phúc lớn của các con và gia đình các con ở đời này. Sa-di-ni có nghĩa đen là “Sa-môn tử” (沙門子), tức người đang tập hạnh làm Sa-môn (P. Sāmaṇa, 沙門). Các Sa-di-ni tuổi thiếu nhi được gọi là “cô tiểu” ở miền Nam, hay “cô điệu” ở miền Trung hoặc “sư bác” ở miền Bắc. Sa-môn là từ chỉ cho các tu sĩ vô thần tại Ấn Độ trong thời cổ đại, không chấp nhận đạo Bà-la-môn đa thần, không chấp nhận Thượng đế, không chấp nhận số phận, cách tu tín ngưỡng và ép xác của đạo Bà-la-môn. Đạo Phật do đức Phật Thích-ca sáng lập là một trong các trường phái Sa-môn, mở ra con đường tỉnh thức, giác ngộ và giải thoát cho nhân loại khỏi tất cả nỗi khổ và niềm đau.
08/10/2010(Xem: 7890)
Truyện thiền không những có tính tôn giáo, triết lý mà còn có giá trị văn học cao. Nó mang ý nghĩa siêu hình, với hình thức ngụ ngôn, bố cục giản lược, trào lộng, kết thúc đột ngột, lại dùng những phương pháp tu từ đặc biệt như điệp ngữ, nghịch lý, đa nghĩa, chữi để mà khen, buông thỏng nửa chừng không kết thúc, lấy câu hỏi để trả lời câu hỏi vv…Đó là đặc sắc của truyện thiền. Cho nên đọc chuyện thiền là vừa học đạo[1] vừa thưởng thức một tác phẩm văn chương kỳ thú.
20/09/2010(Xem: 11693)
ĐứcThế Tôn thường nói: “Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là 'Cái này khôngphải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã củatôi.'” Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao tư tưởng vô ngã lại được diễn đạt như là hệ quả từ thực tế khổ? Lý do để giải thích có thể rút ra từ Tiểu kinh Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta), Trung Bộ kinh... Mặc dầu hư vọng phân biệt là một khái niệm liên quan mật thiết với đối cảnh sở duyên của chỉ quán, nhưng thực ra, hư vọng phân biệt là thức và thức là duyên sinh...