Từ Đây Đến Giác Ngộ (PDF)

09/07/202515:05(Xem: 7637)
Từ Đây Đến Giác Ngộ (PDF)

TỪ ĐÂY ĐẾN GIÁC NGỘ

TỪ-ĐÂY-ĐẾN-GIÁC-NGỘ-000

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Phần tiếng Anh: Guy Newland
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 2014


Contents

Lời Người Dịch. 3

Lời Người Biên Tập Và Hiệu Đính. 8

Lời Nói Đầu. 11

Chương 1: Sự Nối Kết Thâm Sâu. 16

Chương 2: Giá Trị To Lớn Của Giáo Huấn Này. 29

Chương 3: Trái Tim Của Đạo Phật. 44

Chương 4: Đạo Phật Trả Lời Những Câu Hỏi Lớn. 55

Chương 5: Bốn Chân Lý Cao Quý. 64

Chương 6: Thực Tập Như Thế Nào. 79

Chương 7: Ý Nghĩa Của Đời Sống Loài Người 88

Chương 8: Giải Thoát Và Từ Ái 98

Chương 9: Tinh Thần Giác Ngộ. 118

Chương 10:  Bi Mẫn Trong Hành Động. 130

Chương 11: Tĩnh lặng. 139

Chương 12: Mục Tiêu Chân Thực Của Tánh Không. 152

Chương 13: Thực Tại Và Duyên Sinh. 162

Chương 14: Tìm Ra Trung Đạo. 175

Chương 15: Hướng đến Quả Phật. 194

Tự Tiến Bộ Qua Sáu Hoàn Thiện. 198

Bốn Pháp ấn Của Đạo Phật. 214

VÀI NÉT VỀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA.. 235

 


Lời Người Dịch

 

Năm năm trước đây (2009) Tuệ Uyển đã dịch quyển Bừng Sáng Con Đường Giác Ngộ (Illuminating The Path To Enlightenment) một quyển sách ghi lại sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma căn cứ trên Tiểu Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim (Bồ đề thứ đệ tiểu luận) của Tổ sư Tông Khách Ba Và Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ (Bồ đề đạo đăng luận)của Tổ sư Atisa. Năm nay (2014) Tuệ Uyển lại có cơ hội để chuyển ngữ Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim (Bồ Đề Thứ Đệ Đại Luận) của Tổ sư Tông Khách Ba cũng do sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ và được giảng rộng trong Những Giai Tầng Của Con Đường Tiệm Tiến Đến Giác Ngộ đưa ra ba hạng người với ba năng lực và ba giai tầng tu tập:

- Người có năng lực nhỏ: tu tập để đạt sự tái sanh may mắn ở những cõi hạnh phúc trong tương lai.

- Người có năng lực vừa: tu tập để đạt sự giải thoát cá nhân khỏi vòng luân hồi sanh tử khổ đau.

- Người có năng lực lớn: tu tập để đạt sự Giác Ngộ của một Đức Phật vì lợi ích của tất cả chúng sanh.

Chúng ta thấy trong Thanh Tịnh Đạo Luận một trong những bộ luận căn bản của Phật Giáo Therevada cũng có ba hạng người tương tự như vậy.

Kệ đắp Đại Y Tăng Già Lê của Tỳ kheo là:

Thiện tại giải thoát phục
Vô thượng phước điền y
Phụng trì Như lai mạng,
Quảng độ chư quần sanh.

Tuy quyển sách này giảng về Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim nhưng chúng ta thấy có những giáo lý rất căn bản như quy y tam bảo, tứ đế, 12 nhân duyên, vô thường, vô ngã,… mà như Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng nếu không có những giáo lý căn bản này thì Đại Thừa không đứng vững, và sự thực tập Kim Cương thừa sẽ không thành tựu.

Những giáo lý căn bản này sẽ là nền tảng cho sự thực tập của người có năng lực nhỏ và vừa. Như Đức Đạt Lai Lạt Ma nói trong Ba Phương Diện Chính Của Con Đường Giác Ngộ là viễn ly, tâm bồ đề, và tánh không, thì viễn ly và tánh không là giáo lý căn bản của Phật Giáo, Đại Thừa chỉ thêm vào tâm bồ đề.

Tâm bồ đề quy ước liên hệ đến sự ngưỡng vọng đạt đến Quả Phật vì lợi ích của tất cả chúng sanh. Tâm bồ đề cứu kính là sự thực chứng tánh không của Bồ tát, thực tại cứu kính. Quán chiếu tâm bồ đề quy ước và cứu kính chúng ta có thể thấy tương tự với một câu trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát thấy chúng sanh là như huyển nhưng vẫn phát tâm để độ chúng sanh.

Cũng vậy việc thực tập của người có năng lực lớn thì thêm tâm bồ đề và 6 ba la mật. Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nói rằng định và tuệ trong 3 vô lậu học là sự thực tập của người có năng lực vừa để giải thoát sanh tử cho cá nhân, còn người có năng lực lớn thì là thiền định và trí tuệ trong 6 ba la mật.

Quyển sách này mang tên là Từ Đây Đến Giác Ngộ, trong quyển sách này chương 11 tĩnh lặng (thiền định) Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đưa ra một câu hỏi, Chúng ta đi từ đây đến Quả Phật như thế nào? Khi đọc đến chương này chúng ta sẽ có câu trả lời chi tiết cho câu hỏi này do Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng dạy. Nhưng đối với tôi thì Từ Đây Đến Giác Ngộ hay Chúng ta đi từ đây đến Quả Phật như thế nào? Là một câu  hỏi mà mỗi Phật tử chúng ta dù tại gia hay xuất gia phải tự hỏi mình để xác định, như chúng ta được biết trong Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ và được giảng rộng trong Những Giai Tầng Của Con Đường Tiệm Tiến Đến Giác Ngộ là để hành giả khi nhìn vào biết mình đang ở vị trí nào để thực hành. Hành giả là người có năng lực nhỏ đang mưu cầu cho một sự tái sanh tốt đẹp hơn trong những kiếp sống tương lai. Hành giả là người có năng lực vừa đang mưu cầu cho một sự giải thoát cá nhân khỏi luân hồi sanh tử khổ đau. Hay hành giả là người có năng lực lớn đang có nguyện vọng đạt được Giác Ngộ tròn vẹn như một phương tiện thuận lợi nhất để hổ trợ tất cả chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Có một người đến nói Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị ấy có những giấc mơ và căn cứ vào những giấc mơ ấy thì tự cho là đã đạt đến địa vị của những Bồ tát, Đức Đạt Lai Lạt Ma từ việc ấy mà nói rằng có những người nghĩ mình có năng lực lớn nhưng trong khi không có quyết tâm để thực hiện ngay cả những sự thực hành của người có năng lực nhỏ. Ngài nói rằng sự thực hành của người có năng lực lớn phải bao hàm những sự thực hành của người có năng lực vừa và nhỏ. Và sự thực hành của người có năng lực vừa phải bao gồm những sự thực hành của người có năng lực nhỏ.

Như phẩm Dược Thảo Dụ của kinh Pháp Hoa nói một trận mưa xối xuống thì cây cỏ tùy năng lực của mình mà thấm nhuần. Cũng vậy, mỗi người tùy nhân duyên quá khứ nên có một năng lực riêng cho mỗi cá nhân, Phật Pháp bao la, nhưng người có năng lực lớn thì không thể đòi hỏi người có năng lực vừa cũng tu như mình; hay người có năng lực vừa không thể đòi hỏi người có năng lực nhỏ cũng tu như mình; và cũng thế người có năng lực nhỏ không thể muốn người có năng lực lớn cũng phải có mục tiêu tu tập như mình …? Thế nhưng trong Những Giai Tầng Của Con Đường Tiệm Tiến đến Giác Ngộ, là để hướng dẫn hành giả tu tập dần dần lên kết quả cứu kính sau cùng, chứ không phải dậm chân tại chỗ, không phải người có năng lực nhỏ thì cứ nhỏ mãi, người có năng lực vừa thì cứ như vậy mãi, vì Đức Đạt Lai Lạt Ma nói việc tu tập để thoát ly sanh tử, để giải thoát Giác Ngộ thì không chỉ tính đến một đời một kiếp mà phải tính đến thời gian vô hạn. Đừng nghĩ rằng nếu ta muốn vô sanh thì được vô sanh mà không cần phải tu tập, hoặc không tin tái sanh thì sẽ không tái sanh vì chưa chứng quả vô sanh thì sẽ tự động tái sanh theo nghiệp lực.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng nếu quy y tam bảo như để có nơi nương tựa như Phật, Pháp, Tăng gia hộ để thoát khổ thì không có gì đặc thù của Đạo Phật, các tôn giáo khác cũng có ý nghĩa tương tự như vậy như cứu khổ, cứu rổi, một sự cầu khẩn đến năng lực bên ngoài; như quy y xuất thế gian tam bảo và trụ trì tam bảo, nếu quên không quy y đồng thể tam bảo thì không khác gì ngoại đạo. Quy y Phật là để thành Phật tử, con Phật để sau này trở thành một Đức Phật. Quy y Pháp là để có phương pháp tu tập để sau này trở thành một Đức Phật. Quy y Tăng là để có đoàn thể tu tập hổ trợ để cùng nhau trở thành Phật thì mới đúng ý nghĩa đặc thù của Đạo Phật.

Như Đức Đạt Lai Lạt Ma nói trong quyển sách này ở chương cuối: " Cuối cùng mục tiêu của chúng ta là kinh nghiệm chân thành của lòng vị tha vô hạn và sự thấu hiểu tròn vẹn về thực tại cứu kính. Như những Phật tử mục đích sau cùng của chúng ta là Quả Phật. Tuy nhiên, xa xăm như thế nào đi nữa, thì chúng ta hãy bắt đầu ngay bây giờ vì mục tiêu tối hậu ấy."

HÀNH trình mục tiêu đúng
TRANG bị tâm bồ đề
GIÁC tánh uyên nguyên hiện
NGỘ Phật đạo lối về.

Dĩ nhiên như giáo huấn Những Giai Tầng Của Con Đường Tiệm Tiến Đến Giác Ngộ, mỗi chúng ta có thể đọc và suy nghiệm và tự xác định mình đang ở vị trí nào để tự xác địnhlại mục tiêu đến với Đạo Phật và mục tiêu của sự thị hiện tại thế gian của Đức Phật để có một phương hướng tu tập thực tiển.

Thành kính dâng quyển sách này lên Đức Đạt Lai Lạt Ma, chư vị thầy tổ và tất cả những ân nhân, cầu nguyện cho tất cả đạt được " mục đích sau cùng của chúng ta là Quả Phật." Xin thành tâm sám hối vì những yếu kém!

Nam mô A Di Đà Phật

Tuệ Uyển
Thích Từ Đức
pdf-download
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/07/2014(Xem: 41122)
Ngôi tu viện Phật giáo vùng Tây Bắc của tiểu bang Victoria được Thượng tọa Thích Tâm Phương khai sơn từ năm 1990. Ban đầu tu viện tọa lạc ở vùng Broadmeadows. Đến năm 1995, tu viện vận động mua lại ngôi trường tiểu học Fawkner cũ có diện tích 8.000 m2 và xây dựng thành ngôi phạm vũ trang nghiêm mang tên Bồ tát Thích Quảng Đức từ năm 1997 đến năm 2003. Công trình xây dựng do kiến trúc sư Nguyễn Kiển Thành thiết kế, kiến lập theo kiểu chữ “Công” mang dáng dấp kiến trúc cổ kính Á Đông. Đại lễ khánh thành được tu viện tổ chức trọng thể vào các ngày 10, 11 và 12-10-2003. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm thờ tôn tượng đồng đức Phật Thích Ca thiền định. Tượng cao 2,50m, nặng khoảng 1,5 tấn. Phía trước và hai bên, tu viện đặt thờ nhiều tượng Phật, Bồ tát, Hộ Pháp Già Lam. Đến năm 2008, tu viện xây Tăng xá và Bảo tháp Tứ Ân. Bảo tháp 4 tầng, cao 14m, rộng 5m, trên nóc tôn trí tượng đức Phật A Di Đà cao 1,2m. Trong bảo tháp tôn thờ Xá Lợi Phật, tượng chư Phật, Bồ tát và linh cốt của Phật tử q
21/03/2014(Xem: 33883)
Những câu kệ, lời văn, tư tưởng, ý nghĩ trong suốt 365 trang giấy của quyển sách nhỏ này là tinh hoa, là kinh nghiệm tu tập, là trải nghiệm cuộc sống từ nhiều nguồn tư tưởng, hệ phái, pháp môn khác nhau, là suối nguồn tư duy, là hạnh nguyện, là sự hành đạo và chứng đạo của những bậc Lạt Ma Phật giáo Tây Tạng, những Tăng sĩ Miến Điện, những vị Thiền sư, những đạo sĩ Ấn Độ giáo, những cư sĩ học giả Đông Tây, và ngay cả những thi sĩ, văn hào, nghệ nhân trên thế giới, tuy nhiên, như nước trăm sông đều chảy xuôi về biển rộng, dù khác nhau trên mặt văn từ, ngôn ngữ hay hình thái diễn đạt, những nguồn tư tưởng tâm linh này đều nhắm chung về một đích hướng là “Yêu thương đời, giác ngộ người trong Từ Bi, Trí Tuệ và An Lạc.”
27/10/2013(Xem: 17366)
¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ DÒNG SUỐI TỪ (thơ Hạnh Cơ), trang 7 ¨ CẦU NGUYỆN CAO ĐĂNG PHẬT QUỐC (HĐGP & HĐĐH GHPGVNTNHK), trang 8 ¨ THÔNG TƯ VỀ LỄ TƯỞNG NIỆM ĐLHT THÍCH CHÍ TÍN (HT. Thích Tín Nghĩa), trang 9 ¨ SƠ LƯỢC TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH CHÍ TÍN (Môn đồ pháp quyến),trang 10 ¨ NHỚ LẠI ÂN XƯA (Nguyên Siêu),trang 11 ¨ DUYÊN LÀNH HỌC PHẬT (ĐLHT. Thích Thắng Hoan), trang 12 ¨ HỌC PHẬT (HT Thích Tín Nghĩa), trang 13
27/08/2013(Xem: 20034)
Thiền tông truyền sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI, do Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma). Đến thế kỷ thứ VII, Thiền tông truyền sang Việt Nam, do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci). Thế là, Thiền tông có mặt ở Việt Nam sau Trung Hoa một thế kỷ. Đến thế kỷ thứ XII, Thiền tông mới truyền vào Nhật Bản. So Việt Nam với Nhật Bản, Thiền tông truyền bá ở Việt Nam trước Nhật Bản đến năm thế kỷ. Song ở Trung Hoa, Nhật Bản về sử liệu Thiền tông rất dồi dào, còn ở Việt Nam thật là nghèo nàn đáo để. Sự nghèo nàn ấy, không phải Thiền tông Việt Nam truyền bá kém cỏi hơn các nước Phật giáo bạn. Bởi vì nhìn theo dòng lịch sử, từ thế kỷ thứ VII cho đến thế kỷ thứ XIV, chúng ta thấy Thiền tông đã nắm trọn vẹn tinh thần truyền bá Phật giáo và cả văn hóa dân tộc Việt Nam. Những sách vở của người Việt Nam sáng tác hoặc ghi chép lại, không kém gì các nước Phật giáo bạn. Nào là Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, Liệt Tổ Truyện, Nam Minh Thiền Lục, Thánh Đăng Thực Lục, Liệt Tổ Yếu Ngữ, Kế Đăng Lục, Tam Tổ T
14/08/2013(Xem: 61203)
Muốn ngồi thiền, trước chúng ta phải biết lý thuyết, sau mới thực hành được. Tại sao chúng ta phải ngồi thiền? Phật dạy trong bốn oai nghi chúng ta đều tu được hết. Bốn oai nghi là đi, đứng, nằm và ngồi.
29/07/2013(Xem: 32073)
1:- Quá trình hình thành và phát triển: - Nguồn gốc Tự viện, ngày tháng thành lập PHV, người tiếp quản ban đầu. - Thành phần Ban Giám Viện, Ban Giáo Thọ, Hội Đồng Chứng Minh, số lượng Học Tăng, nhà Trù, cơ sở vật chất v.v… các thời kỳ, trước 1963, sau 1963 đến 1975
17/07/2013(Xem: 18693)
Đọc hết 93 trang của Phúc trình A/5630, lại được xác nhận bởi Kết luận của Biên bản Buổi họp thứ 1280 của Đại Hội đồng LHQ, rồi sau đó được Giáo sư Roger Stenson Clark tham chiếu trong tác phẩm A United Nations High Commissioner For Human Rights của ông, ta có thể khẳng định rằng Phúc trình A/5630 không hề kết luận rằng chính phủ Diệm "không có đàn áp tôn giáo" như cái thế lực đã thù nghịch với Phật giáo từ thời Cố đạo Alexandre de Rhodes gọi Phật Thích Ca bằng “thằng” trong Phép Giảng Tám Ngày, tìm cách xuyên tạc tài liệu để mạo hóa lịch sử từ mấy năm nay.
13/07/2013(Xem: 11300)
Kỷ Yếu Trường Hạ Minh Quang 2013
03/07/2013(Xem: 14685)
Muốn qua sông phải nhờ thuyền bè, muốn vượt bể khổ sinh tử phải nương nhờ Giới pháp. Có thể nói, Giới pháp là kim chỉ nam, là những nguyên tắc sinh động để hướng dẫn đời sống của Tăng sĩ từ tục đến chân, từ phàm đến Thánh, từ cõi mê mờ đến chân trời giác ngộ.
29/06/2013(Xem: 22536)
1963 – 2013! Năm mươi năm đã trôi qua… Một nửa thế kỷ là khoảng thời gian đủ dài để có thể soát xét và suy nghiệm xem từ biến cố đó ta rút ra được những bài học lịch sử gì.