Mưa Nguồn (tuyển tập thơ)

29/03/201321:09(Xem: 12761)
Mưa Nguồn (tuyển tập thơ)


Mua Nguon

Mưa nguồn là tập thơ đầu tay, cũng là tập thơ nổi tiếng nhất của Bùi Giáng (trung niên thi sĩ)[1].


Tập thơ này in lần đầu năm 1963 tại nhà in Sơ Khai (Sài Gòn). Cho đến nay đã tái bản lại vài lần, riêng trong lần tái bản năm 1994, tác giả có sửa chữa những lỗi ấn loát.
Theo như tác giả ghi ở trang 3, thì "Mưa nguồn" là để "tặng ba người con gái chiêm bao ở bờ cỏ Phi Châu". Tập thơ không có bài tựa, tác giả dẫn dắt người đọc vào bằng những câu thơ lục bát:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
Phần tác phẩm gồm có 139 bài, sáng tác từ thập niên 1950 tới năm 1963, bằng các thể loại: Thơ 8 chữ (nhiều nhất), thơ lục bát, thơ thất ngôn, thơ tự do:

 

  • Cỏ hoa hồn du mục
  • Những cành mai
  • Gió bão tây nam
  • Biểu tượng sơ nguyên
  • Sầu lục tỉnh
  • Ngủ dài
  • Sầu ca sĩ
  • Áo xanh
  • Hẹn ước
  • Thế kỷ
  • Không đủ gọi
  • Màu thanh thiên mở
  • Chào nguyên xuân
  • Phượng
  • Phụng hiến
  • Buổi hội
  • Mùa phượng cũ
  • Về giữa ngọ
  • Nhỏ dại
  • Mái hiên
  • Người đi đâu
  • Màu xuân
  • Bờ xuân
  • Em về
  • Bờ lúa
  • Em đi về giữa
  • Trò chuyện
  • Sẽ đi
  • Người về
  • Bỏ trần gian
  • Người xuống
  • Bờ mấy
  • Bờ nguớc lũ
  • Không bờ
  • Em quên
  • Chiều
  • Hang rừng
  • Vì bữa đó
  • Vỗ về
  • Phương hà
  • Giòng sông
  • Tiếng vọng
  • Kể chuyện
  • Xuân thu trang phượng
  • Phương tây
  • Xuân xanh
  • Trở lại
  • Thiếu phụ trở về
  • Màu trời đó
  • Một buổi trưa
  • Một buổi trưa
  • Chiêm bao
  • Nguyễn Huệ
  • Anh đi về giữa
  • Hận
  • Đi tìm
  • Hoàng hậu
  • Nausicaa
  • Judith
  • Chỗ này
  • Ngày xưa
  • Người điên
  • Ngoài trung
  • Chào thu Lục tỉnh
  • Miền Nam
  • Bên miền
  • Anh về Bình dương
  • Ruộng Bình dương
  • Xuân Bình dương
  • Giã từ Đà lạt
  • Thưa em Sài gòn
  • Tuổi trẻ
  • Lá thổi như bay
  • Mưa về phương ấy
  • Hư vô và vĩnh viễn
  • Ly tao
  • Ly tao 2
  • Ly tao 3
  • Nhan sắc hôm nay
  • Không đề
  • Khép mắt
  • Người hải nội
  • Người hải ngoại
  • Xuân thôn nữ
  • Hương bay suối cũ
  • Tặng bạn
  • Và màu xuân đó
  • Cỏ
  • Hươu
  • Tượng số
  • Tượng số 2
  • Tượng số thiên nhiên
  • Nhe răng
  • Hiện thể
  • Giòng sông trắng
  • Trời bữa đó
  • Sóng
  • Đứng lại
  • Không đề
  • Về buôn bán
  • Đổ quán
  • Thưa
  • Gái buồn
  • Ngủ yên
  • Nghe
  • Nắng buồn
  • Tiếng nói
  • Kỷ niệm
  • Chiều hôm phố thị
  • Tóc bạc
  • Thu mộng
  • Ca dao
  • Bỏ hai chân
  • Mở cây cối
  • Mọc cỏ
  • Mở hai hàng cỏ
  • Không đề
  • Nỗi lòng Tô Vũ
  • Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
  • Tàn nhẫn
  • Mắt buồn
  • Nhìn cổ lục
  • Bữa trước
  • Bữa nay
  • Bây giờ
  • Thiếu nữ
  • Bữa hôm nay
  • Trong vườn
  • Trời nam Việt
  • Lời Hàn Mạc Tử
  • Kim Trọng tại sao
  • Thư xuân
  • Đá lạnh
  • Không nói nữa
  • Hôm qua mộng
  • Lời xuân
  • Từ kỷ niệm đầu
  • Mai sau em về



pdf-icon



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/04/2015(Xem: 19870)
Những ngày tàn xuân năm ấy, gió bấc thổi không mang theo giá lạnh mà lại thốc vào cả một luồng bão lửa nóng bức, kinh hoàng. Không ai mong đợi một cơn bão lửa như thế. Bão lửa, từ bắc vào nam, từ cao nguyên xuống đồng bằng, từ rừng sâu ra hải đảo, từ thôn quê vào thị thành… thiêu rụi bao cội rễ của rừng già nghìn năm, đốt cháy bao cành nhánh của cây xanh vườn tược. Tất cả mầm non đều héo úa, quắt queo, không còn sức sống, không thể đâm chồi, nẩy lộc. Tất cả những gì xinh đẹp nhất, thơ mộng nhất, đều tan thành tro bụi, hoặc hòa trong sông lệ để rồi bốc hơi, tan loãng vào hư không. Màu xanh của lá cây, của biển, của trời, đều phải nhạt nhòa, biến sắc, nhường chỗ cho màu đỏ, màu máu, màu đen, màu tuyệt vọng.
04/02/2015(Xem: 54053)
Ước vọng của con người luôn là những gì tốt đẹp, sung túc và dài lâu, cần phải đạt được trong một tương lai gần nhất. Nói cách thực tế theo quán tính của người bình phàm, thì đó là hạnh phúc (phước), thịnh vượng (lộc), sống lâu (thọ). Với các chính trị gia, và những nhà đấu tranh cho dân tộc, cho đất nước, thì đó là tự do, dân chủ, nhân quyền. Với đạo gia thì đó là giải thoát, giác ngộ, và niết-bàn.
07/01/2015(Xem: 20000)
Để trả lời nghi vấn của một số độc gỉa TVHS về một bức tranh đen trắng vẽ Đức Phật Thích Ca khi Ngài còn tại thế (khoảng năm 41 tuổi) do một đệ tử của Ngài là Phú Lâu Na (Purna) vẽ, chúng tôi đã liên lạc với tác giả quyển sách Mùi Hương Trầm , GSTS. Nguyễn Tường Bách, người đã đề cập đến bức tranh vẽ này trong quyển sách của ông. Tác gỉa đã gửi cho chúng tôi bài đề ngày 16-1-2003 trả lời ông Vương Như Dương Chuyết Lão, người cũng có thắc mắc tương tự.
02/12/2014(Xem: 28842)
Bản dịch tiếng Việt Ba Trụ Thiền do chúng tôi thực hiện lần đầu tiên vào năm 1985 tại Sài gòn, Việt nam, và được nhà xuất bản Thanh Văn ấn hành lần đầu tiên vào năm 1991 tại California, Hoa kỳ đã được nhiều độc giả tiếng Việt hâm mộ. Chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả quí độc giả và hành giả tu tập thiền nhiệt tình, và nhà xuất bản Thanh Văn.
01/12/2014(Xem: 19225)
“Milarepa, Con Người Siêu Việt” là bản dịch tiếng Việt do chúng tôi thực hiện vào năm 1970 và được nhà xuất bản Nguồn Sáng ấn hành tại Sài gòn vào năm 1971
24/11/2014(Xem: 20862)
Tập sách nhỏ “Du-già Tây Tạng, Giáo Lý và Tu Tập” này được dịch từ bản văn tiếng Anh có nhan đề là “Teachings of Tibetan Yoga” do Giáo sư Garma C. C. Chang – giảng sư của Tu viện Kong Ka ở miền Đông Tây Tạng khoảng trước năm 1950 – biên dịch từ Hoa ngữ, do nhà xuất bản Carol Publishing Group ấn hành năm 1993 tại New York, Hoa Kỳ.
18/08/2014(Xem: 32556)
Tập Tổng quan kinh Đại Bát Niết-bàn này được chúng tôi biên soạn như một phần trong công trình dịch thuật và chú giải kinh Đại Bát Niết-bàn và đã được in chung với bảng thuật ngữ tra cứu thành một Phụ lục đính kèm theo toàn bộ kinh, xuất bản trong năm 2009.
18/08/2014(Xem: 30914)
Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ, đức Phật ngự tại thành Tỳ-da-ly, trong vườn cây Am-la với chúng đại tỳ-kheo là tám ngàn người, Bồ Tát là ba mươi hai ngàn vị mà ai ai cũng đều biết đến, đều đã thành tựu về đại trí và bổn hạnh. Oai thần mà chư Phật đã gầy dựng được, chư Bồ Tát ấy nương vào đó mà hộ vệ thành trì đạo pháp. Các ngài thọ lãnh giữ gìn Chánh pháp, có thể thuyết pháp hùng hồn như tiếng sư tử rống, danh tiếng các ngài bay khắp mười phương. Chẳng đợi sự thỉnh cầu giúp đỡ mà các ngài tự mang sự an ổn đến cho mọi người. Các ngài tiếp nối làm hưng thạnh Tam bảo, khiến cho lưu truyền chẳng dứt.
18/08/2014(Xem: 32765)
Tôi nghe như thế này: Có một lúc đức Phật tại thành Vương Xá, núi Kỳ-xà-quật, cùng với sáu mươi hai ngàn vị đại tỳ-kheo. Các vị đều là những bậc A-la-hán đã dứt sạch lậu hoặc, không còn sinh khởi các phiền não, mọi việc đều được tự tại, tâm được giải thoát, trí huệ được giải thoát, như các bậc đại long tượng khéo điều phục. Các ngài đã làm xong mọi việc cần làm, buông bỏ được gánh nặng, tự thân đã được sự lợi ích, dứt hết mọi chấp hữu, đạt trí huệ chân chánh nên tâm được tự tại. Hết thảy các ngài đều đã được giải thoát, chỉ trừ ngài A-nan. Trong pháp hội có bốn trăm bốn mươi vạn Bồ Tát, đứng đầu là Bồ Tát Di-lặc. Các vị đều đã đạt được các pháp nhẫn nhục, thiền định, đà-la-ni. Các ngài hiểu sâu ý nghĩa các pháp đều là không và hoàn toàn không có tướng nhất định. Các vị đại sĩ như thế đều là những bậc không còn thối chuyển trên đường tu tập.
18/08/2014(Xem: 24528)
Sách Liên Tông Bảo Giám nói rằng: “Tâm thể chính là cõi Cực Lạc trải khắp mười phương. Tự tánh là đức Di-đà tròn đầy trí giác. Mầu nhiệm ứng theo thanh sắc nơi ngoại cảnh, tỏa sáng nơi tự tâm. Bởi vậy, bỏ mê vọng liền về chân thật, thẳng lìa trần ai tức là giác ngộ.” “Thuở trước ngài Pháp Tạng phát lời nguyện lớn, khai mở con đường nhiệm mầu sang Cực Lạc. Cho nên đức Thế Tôn mới chỉ về phương Tây mà dạy cho bà Vi-đề-hy biết rõ cõi diệu huyền. Khi ấy, mười phương chư Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài mà xưng tán. Nên báo trước rằng khi các kinh khác đều đã mất, sẽ chỉ riêng lưu lại bộ kinh A-di-đà.