Giới Đàn Tăng (sách)

29/03/201317:55(Xem: 14547)
Giới Đàn Tăng (sách)

Gioi Dan Tang
GIỚI ĐÀN TĂNG
 

Soạn dịch: H.T THÍCH THIỆN HÒA

(Nguyên bản chữ Hán)

 

MỤC LỤC

Phần 1

1. Nghi thức thọ Quy giới

2. Nghi thức thọ Ngũ giới

3. Phép thọ giới Bát quan trai

4. Nghi lễ xả giới Bát quan trai

5. Phép truyền thọ giới Sa Di

6. Nghi thức thọ giới Tỳ kheo

7. Khoa tiết truyền giới Bố Tát

8. Nghi thức của Giới sư ni đem Giới tử Ni đến chùa Tăng thọ giới

9. Vài điều cần yếu trong khi truyền giới Tỳ Kheo Ni

10.  Phép lễ cầu thầy truyền giới

 

Phần 2

 

11.  Phép bạch lễ tạ

12.  Văn phục nguyện (sau khi truyền giới xong)

13.  Phép kiết giới tràng và đại giới

14.  Phép kiết giới không mất y

15.  Phép giải đại giới

16.  Phép kiết tiểu giới để thọ giới

17.  Phép giải tiểu giới để thọ giới

18.  Phép kiết giới tịnh trù

19.  Phép giải giới tịnh trù

20.  Phép kiết giới tịnh khổ

 

Phần 3

 

21.  Vài điều cần khi kiết và giải các giới

22.  Kiết hạ an cư

23.  Sắp đến ngày an cư

24.  Phép Thượng tọa đối thú an cư

25.  Phép đại chúng an cư

26.  Phép hậu an cư

27.  Phép tâm niệm an cư

28.  Phép thụ nhựt ra ngoài giới

29.  Phép thụ bảy ngày ra ngoài giới

30.  Phép thọ ngày còn dư ra ngoài giới

 

Phần 4

 

31.  Phép thọ ra ngoài giới nửa tháng hoặc một tháng

32.  Phép tự tứ

33.  Phép sám hối

34.  Phép chính tự tứ

35.  Phép bốn người trở xuống lần lượt tự tứ

36.  Phép một người tâm niệm tự tứ

37.  Phép tu tiến hành đạo và thêm ngày tự tứ

38.  Phép cho cạo tóc thọ giới

39.  Phép cho cạo tóc

40.  Phép cho xuất gia trao giới Sa Di

 

Phần 5

 

41.  Phép cho ngoại đạo cùng ở

42.  Phép cầu xin y chỉ

43.  Nghi thức thế phát (cạo tóc)

44.  Phép Tỳ Kheo Ni nuôi chúng

45.  Phép Ni chúng trao giới cho Thức Xoa Ma Na Ni

46.  Phép tự tứ của Ni chúng

47.  Phép Ni sai người tự tứ đến trong Đại Tăng

48.  Ngày rằm tự tứ

49.  Phép gởi dục

50.  Thọ dục rồi chuyển trao gởi dục cho vị khác

51.  Phép thuyết dục

52.  Đi bái tuế

53.  Ni chúng sắp đến ngày an cư

54.  Thỉnh Tam Sư Thất chứng

55.  Có các nạn sự duyên không cho thọ giới

56.  Nghi thức truyền thọ Thập thiện

 




LỜI TỰA

            Nguyên bộ Giới Đàn này đã ra đời không biết từ thời nào. Đến đời Tự Đức (1847 – 1881) năm thứ 34, có Ngài Tỳ kheo Phổ Tấn học thông kinh luật, thấy bộ Giới Đàn này còn thiếu văn Yết ma, nên Ngài bạch lên Tổ Vĩnh Nghiêm xin nghiên cứu bộ Huyền Ty và bộ Yết Ma Chỉ Nam thêm vào cho đủ để người sau dễ thực hành. Bộ sách này bằng chữ Hán, từ trước đến nay chưa ai phiên dịch ra Việt văn.

Đến nay Hán học làn kém, nếu không phải là người tham học kinh luật uyên thâm, thì không làm sao mà đường được.

Muốn bớt chỗ khó cho đời sau, chúng tôi chẳng thẹn tài hèn, nguyện dịch bộ Giới Đàn ra chữ Việt, để cho sự truyền thọ giới pháp khỏi phải mất nhiều công nghiên tìm tham khảo. Tuy thế, nhưng cần phải thấy làm qua, hay có giải thích mới hiểu biết tường tận.

Trong bản chữ Hán, Ngài Phổ tấn đã sắp xếp lại rất công phu và đối với thời trước cũng rất thích hợp; nhưng đến đời nay xét kỹ lại thấy còn nhiều chỗ thừa, cần phải bớt ra, những chỗ thiếu cần thêm vào. Để cho việc Yết ma truyền thọ được dễ làm dễ hiểu.

Trong bản dịch này, còn nhiều chỗ cần phải để nguyên văn chữ Hán, để khi xướng lễ kêu gọi mới linh động.

Chương sau có đặt để câu văn tác bạch, vấn đáp sẵn sàng, giới tử sẽ tùy phương tiện mà châm chước và lời huấn thị của Giới Sư cũng sẽ tùy thời cơ mà khyến tấn.

Bộ Giới Đàn này có đủ nghi thức trao Tam quy, Ngũ giới, Bát Quan Trai giới, Sa Di giới, Tỳ Kheo giới, Bồ Tát giới và Tỳ Kheo Ni giới.

Việc dịch và sắp đặt lại bộ Giới Đàn này là cả một vấn đề khó khăn, vì phải so trước xét sau và phải trải qua nhiều năm kinh nghiệm mới dám hoán cải.

Tuy vậy chúng tôi còn mong các bậc cao minh, thấy chỗ nào còn thiếu sót chỉ bảo thêm cho, để bộ Giới Đàn này càng được hoàn bị hơn.

 

CẨN CHÍ

THÍCH THIỆN HÒA









Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/04/2015(Xem: 19853)
Những ngày tàn xuân năm ấy, gió bấc thổi không mang theo giá lạnh mà lại thốc vào cả một luồng bão lửa nóng bức, kinh hoàng. Không ai mong đợi một cơn bão lửa như thế. Bão lửa, từ bắc vào nam, từ cao nguyên xuống đồng bằng, từ rừng sâu ra hải đảo, từ thôn quê vào thị thành… thiêu rụi bao cội rễ của rừng già nghìn năm, đốt cháy bao cành nhánh của cây xanh vườn tược. Tất cả mầm non đều héo úa, quắt queo, không còn sức sống, không thể đâm chồi, nẩy lộc. Tất cả những gì xinh đẹp nhất, thơ mộng nhất, đều tan thành tro bụi, hoặc hòa trong sông lệ để rồi bốc hơi, tan loãng vào hư không. Màu xanh của lá cây, của biển, của trời, đều phải nhạt nhòa, biến sắc, nhường chỗ cho màu đỏ, màu máu, màu đen, màu tuyệt vọng.
04/02/2015(Xem: 54032)
Ước vọng của con người luôn là những gì tốt đẹp, sung túc và dài lâu, cần phải đạt được trong một tương lai gần nhất. Nói cách thực tế theo quán tính của người bình phàm, thì đó là hạnh phúc (phước), thịnh vượng (lộc), sống lâu (thọ). Với các chính trị gia, và những nhà đấu tranh cho dân tộc, cho đất nước, thì đó là tự do, dân chủ, nhân quyền. Với đạo gia thì đó là giải thoát, giác ngộ, và niết-bàn.
07/01/2015(Xem: 19997)
Để trả lời nghi vấn của một số độc gỉa TVHS về một bức tranh đen trắng vẽ Đức Phật Thích Ca khi Ngài còn tại thế (khoảng năm 41 tuổi) do một đệ tử của Ngài là Phú Lâu Na (Purna) vẽ, chúng tôi đã liên lạc với tác giả quyển sách Mùi Hương Trầm , GSTS. Nguyễn Tường Bách, người đã đề cập đến bức tranh vẽ này trong quyển sách của ông. Tác gỉa đã gửi cho chúng tôi bài đề ngày 16-1-2003 trả lời ông Vương Như Dương Chuyết Lão, người cũng có thắc mắc tương tự.
02/12/2014(Xem: 28828)
Bản dịch tiếng Việt Ba Trụ Thiền do chúng tôi thực hiện lần đầu tiên vào năm 1985 tại Sài gòn, Việt nam, và được nhà xuất bản Thanh Văn ấn hành lần đầu tiên vào năm 1991 tại California, Hoa kỳ đã được nhiều độc giả tiếng Việt hâm mộ. Chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả quí độc giả và hành giả tu tập thiền nhiệt tình, và nhà xuất bản Thanh Văn.
01/12/2014(Xem: 19218)
“Milarepa, Con Người Siêu Việt” là bản dịch tiếng Việt do chúng tôi thực hiện vào năm 1970 và được nhà xuất bản Nguồn Sáng ấn hành tại Sài gòn vào năm 1971
24/11/2014(Xem: 20858)
Tập sách nhỏ “Du-già Tây Tạng, Giáo Lý và Tu Tập” này được dịch từ bản văn tiếng Anh có nhan đề là “Teachings of Tibetan Yoga” do Giáo sư Garma C. C. Chang – giảng sư của Tu viện Kong Ka ở miền Đông Tây Tạng khoảng trước năm 1950 – biên dịch từ Hoa ngữ, do nhà xuất bản Carol Publishing Group ấn hành năm 1993 tại New York, Hoa Kỳ.
18/08/2014(Xem: 32550)
Tập Tổng quan kinh Đại Bát Niết-bàn này được chúng tôi biên soạn như một phần trong công trình dịch thuật và chú giải kinh Đại Bát Niết-bàn và đã được in chung với bảng thuật ngữ tra cứu thành một Phụ lục đính kèm theo toàn bộ kinh, xuất bản trong năm 2009.
18/08/2014(Xem: 30901)
Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ, đức Phật ngự tại thành Tỳ-da-ly, trong vườn cây Am-la với chúng đại tỳ-kheo là tám ngàn người, Bồ Tát là ba mươi hai ngàn vị mà ai ai cũng đều biết đến, đều đã thành tựu về đại trí và bổn hạnh. Oai thần mà chư Phật đã gầy dựng được, chư Bồ Tát ấy nương vào đó mà hộ vệ thành trì đạo pháp. Các ngài thọ lãnh giữ gìn Chánh pháp, có thể thuyết pháp hùng hồn như tiếng sư tử rống, danh tiếng các ngài bay khắp mười phương. Chẳng đợi sự thỉnh cầu giúp đỡ mà các ngài tự mang sự an ổn đến cho mọi người. Các ngài tiếp nối làm hưng thạnh Tam bảo, khiến cho lưu truyền chẳng dứt.
18/08/2014(Xem: 32760)
Tôi nghe như thế này: Có một lúc đức Phật tại thành Vương Xá, núi Kỳ-xà-quật, cùng với sáu mươi hai ngàn vị đại tỳ-kheo. Các vị đều là những bậc A-la-hán đã dứt sạch lậu hoặc, không còn sinh khởi các phiền não, mọi việc đều được tự tại, tâm được giải thoát, trí huệ được giải thoát, như các bậc đại long tượng khéo điều phục. Các ngài đã làm xong mọi việc cần làm, buông bỏ được gánh nặng, tự thân đã được sự lợi ích, dứt hết mọi chấp hữu, đạt trí huệ chân chánh nên tâm được tự tại. Hết thảy các ngài đều đã được giải thoát, chỉ trừ ngài A-nan. Trong pháp hội có bốn trăm bốn mươi vạn Bồ Tát, đứng đầu là Bồ Tát Di-lặc. Các vị đều đã đạt được các pháp nhẫn nhục, thiền định, đà-la-ni. Các ngài hiểu sâu ý nghĩa các pháp đều là không và hoàn toàn không có tướng nhất định. Các vị đại sĩ như thế đều là những bậc không còn thối chuyển trên đường tu tập.
18/08/2014(Xem: 24511)
Sách Liên Tông Bảo Giám nói rằng: “Tâm thể chính là cõi Cực Lạc trải khắp mười phương. Tự tánh là đức Di-đà tròn đầy trí giác. Mầu nhiệm ứng theo thanh sắc nơi ngoại cảnh, tỏa sáng nơi tự tâm. Bởi vậy, bỏ mê vọng liền về chân thật, thẳng lìa trần ai tức là giác ngộ.” “Thuở trước ngài Pháp Tạng phát lời nguyện lớn, khai mở con đường nhiệm mầu sang Cực Lạc. Cho nên đức Thế Tôn mới chỉ về phương Tây mà dạy cho bà Vi-đề-hy biết rõ cõi diệu huyền. Khi ấy, mười phương chư Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài mà xưng tán. Nên báo trước rằng khi các kinh khác đều đã mất, sẽ chỉ riêng lưu lại bộ kinh A-di-đà.