Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Luật Học Tinh Yếu

03/07/201301:21(Xem: 5420)
Luật Học Tinh Yếu

Luật Học Tinh Yếu

HT. Thích Phước Sơn

luat-hoc-tinh-yeu

Xem bản pdf [Phần Nội Dung] [Phần Phụ Lục]

Chương 1: GIỚI BẢN CỦA TỲ-KHEO

I. KHÁI QUÁT VỀ GIỚI LUẬT

1. Dẫn nhập

2. Luật tạng được truyền dịch sang Hán văn

2.1. Các bộ quảng Luật

2.2. Năm bộ luận của Luật

3. Phân tích nội dung Luật bộ

3.1. Nội dung Luật Tứ Phần

3.2. Nội dung Luật tạng Pàli

II. LỊCH SỬ TRUYỀN THỪA LUẬT TỨ PHẦN

1. Việc xiển dương Luật Tứ Phần tại TQ

2. Việc xiển dương Luật học tại Việt Nam

Chương 2: CÁC PHÁP YẾT-MA

I. KHÁI QUÁT VỀ YẾT-MA.

1. Định nghĩa Yết-ma

2. Phân loại Yết-ma.

3. Những yếu tố cần thiết cho pháp Yết-ma.

4. Các giai đoạn tiến hành Yết-ma.

5. Các yếu tố để thành tựu Yết-ma.

6. Già Yết-ma.

7. Phi tướng của Yết-ma.

II. THIẾT LẬP CƯƠNG GIỚI

1. Các loại cương giới

1.1. Cương giới tự nhiên.

1.2. Cương giới pháp định.

2. Thể thức kết và giải các cương giới

2.1. Kết và giải giới trường

2.2. Kết và giải tịnh trù (tịnh địa)

2.3. Kết và giải đại giới có giới trường.

2.4. Kết và giải giới không mất y trong….

2.5. Kết và giải giớùi không lìa y thông…

2.6. Kết và giải tiểu giới…

III. TRUYỀN GIỚI, THỌ GIỚI

1. Bước đầu xuất gia

1.1. Thành phần đệ tử của Phật.

1.2. Tư cách làm thầy.

1.3. Yết-ma súc chúng.

1.4. Thế phát xuất gia, thọ giới Sa-di

1.5. Ngoại đạo xuất gia.

2. Tổng quát về giới Cụ túc.

2.1. Ý nghĩa của giới Cụ túc.

2.2. Vấn đề đắc giới:

2.3. Điều kiện của giới tử:

2.4. Tư cách của giới sư:

2.5. Các điều kiện cần thiết để Yết-ma….

3. Tiến hành tác pháp

3.1. Thỉnh giới sư

3.2. Yết-ma sai Giáo thọ.

3.3. Giáo giới giới tử.

3.4. Bạch Tăng dẫn giới tử vào.

3.5. Giới tử bạch Tăng xin giới.

3.6. Yết-ma hỏi các chướng pháp.

3.7. Hòa thượng khai đạo giới tử.

3.8. Bạch tứ Yết-ma truyền giới Cụ túc.

3.9. Truyền pháp tứ khí.

3.10. Truyền pháp tứ y

3.11. Giáo giới giới tử.

4. Ni xuất gia và thọ giới

4.1. Vấn đề Thức-xoa-ma-na.

4.2. Những dị biệt giữa Ni và Tăng….

IV. BỐ-TÁT TỤNG GIỚI

1. Duyên khởi về sự Bố-tát.

2. Vấn đề sám hối trước khi Bố-tát.

3. Triển hạn thuyết giới.

4. Những quy định liên quan đến Tỳ-kheo…

5. Thuyết giới cho Sa-di.

6. Người chưa thọ Cụ túc không được nghe…

7. Trường hợp Ni chúng cầu thầy Giáo thọ.

8. Vấn đề gởi dục và thuyết tịnh.

9. Trường hợp Tỳ-kheo mắc bệnh cuồng si

10. Linh động thuyết giới khi gặp nạn duyên.

V. AN CƯ VÀ TỰ TỨ

1. An cư

1.1. Lý do An cư.

1.2. Thời gian An cư.

1.3. Tác pháp An cư.

1.4. Ra ngoài cương giới.

2. Tự tứ

2.1. Ý nghĩa Tự tứ

2.2. Tác pháp Tự tứ

VI. TẠP SỰ

1. Y Ca-thi-na

1.1. Nguyên nhân Phật chế Y Ca-thi-na.

1.2. Định nghĩa Y Ca-thi-na.

1.3. Lợi ích của Y Ca-thi-na

1.4. Thời gian hiệu lực của Y Ca-thi-na.

1.5. Người giữ y Ca-thi-na cần có 5 đức tính.

1.6. Những người không được hưởng….

1.7. Y Ca-thi-na mất hiệu lực trong…

1.8. Trường hợp không biết cách thọ y….

2. Phân vật

2.1. Phân loại Tăng vật.

2.2. Nguồn gốc của Tăng vật.

Chương 3: THỂ THỨC SÁM HỐI VÀ TRỪNG PHẠT

I. PHẠM TỘI VÀ SÁM HỐI

1. Khái quát về ngũ thiên thất tụ

2. Sám hối tội Ba-la-di

2.1. Trường hợp phạm tội mà che giấu.

2.2. Trường hợp phạm tội mà phát lồ.

2.3. Trường hợp tái phạm.

3. Sám hối tội Tăng tàn

3.1. Định nghĩa khái quát ( )

3.2. Hành phú tàng hay hành biệt trú.

3.3. Hành Ma-na-đỏa.

3.4. Xuất tội hay giải tội

3.5. So sánh cách xử trị giữa Tăng và Ni

4. Sám hối tội Thâu-lan-giá

4.1. Định nghĩa và phân loại:

4.2. Thể thức sám hối.

5. Sám hối tội Xả đọa

5.1. Thể thức xả vật và sám hối

5.2. Thể thức trả lại vật

6. Sám hối tội Ba-dật-đề

6.1. Thể thức thẩm sát các tội tùng sinh

6.2. Thể thức thỉnh vị chủ sám tội…

6.3. Thể thức sám hối tội Tùng sanh…

6.4. Chính thức sám hối tội căn bản…

7. Sám hối tội Ba-la-đề Đề-xá-ni

7.1. Phân biệt tướng của tội.

7.2. Thể thức thỉnh vị chủ sám hối tội…

7.3. Thể thức sám hối chính

8. Sám hối tội Đột-cát-la

8.1. Thể thức thỉnh vị chủ sám hối

8.2. Phép sám hối tội do cố ý

8.3. Sám hối tội do vô ý

II. VI PHẠM VÀ TRỪNG PHẠT

1. Pháp Yết-ma khiển trách

2. Pháp Yết-ma tẫn xuất

3. Pháp Yết-ma y chỉ

4. Pháp Yết-ma cấm đến nhà cư sĩ

5. Pháp Yết-ma cử tội không nhận tội

6. Pháp Yết-ma cử tội, có tội mà không…

7. Pháp Yết-ma khuyên người bỏ ác kiến

8. Pháp Yết-ma can người phá Tăng

9. Pháp Yết-ma khiển trách đệ tử

10. Pháp khuyên và đuổi Sa-di tà kiến

11. Pháp Yết-ma can Tỳ-kheo-ni theo…

12. Pháp Yết-ma cảnh cáo Tỳ-kheo của Ni…

13. Pháp Yết-ma phú bát (tẩy chay)

14. Pháp Yết-ma công nhận học gia

Chương 4: GIỚI BỒ-TÁT

I. KINH ĐIỂN CĂN BẢN CỦA GIỚI BỒ-TÁT

1. Bồ-tát anh lạc bản nghiệp kinh

2. Phạm Võng kinh Bồ-tát giới bản

3. Du-già sư địa luận Bồ-tát giới bản

4. Bồ-tát địa trì kinh

5. Bồ-tát thiện giới kinh

6. Ưu-bà-tắc giới kinh

II. NỘI DUNG CÁC GIỚI BẢN

A. Giới bản Phạm Võng

B. Giới bản Du-già

C. Giới bản Ưu-bà-tắc

III. KHỞI NGUYÊN CỦA GIỚI PHÁP BỒ-TÁT

1. Giới Bồ-tát Phạm Võng của ngài Cưu-ma…

2. Địa Trì Giới Bổn của Tam tạng…

IV. ĐIỀU KIỆN TRUYỀN THỌ GIỚI BỒ-TÁT

1. Điều kiện của giới tử

1.1. Phải có cái thiện để cảm giới:

1.2. Không có cái ác làm chướng giới:

2. Điều kiện của pháp sư

V. THỂ THỨC THỌ GIỚI BỒ TÁT

1. Thể thức tự thệ thọ giới

1.1. Lễ kính Tam Bảo:

1.2. Thọ tứ y (Tứ bất hoại tín).

1.3. Sám hối 3 nghiệp

1.4. Phát bốn thệ nguyện lớn.

1.5. Tự thệ thọ năm trọng giới.

1.6. Tán thán giới đức.

1.7. Hồi hướng.

2. Thể thức thọ giới với Pháp sư.

VI. THỂ THỨC SÁM HỐI

1. Trường hợp xả giới hay mất giới

2. Thể thức bố-tát

VII. SO SÁNH GIỚI TỲ-KHEO VÀ GIỚI BỒ-TÁT

PHẦN PHỤ LỤC

Phụ lục 1: GIỚI BẢN CỦA ĐẠI TỲ-KHEO THUỘC…

Phụ lục 2: ĐỐI CHIẾU CÁC BỘ LUẬT…

Phụ lục 3: NGHI THỨC TRUYỀN GIỚI BỒ-TÁT…

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI NÓI ĐẦU

Muốn qua sông phải nhờ thuyền bè, muốn vượt bể khổ sinh tử phải nương nhờ Giới pháp. Có thể nói, Giới pháp là kim chỉ nam, là những nguyên tắc sinh động để hướng dẫn đời sống của Tăng sĩ từ tục đến chân, từ phàm đến Thánh, từ cõi mê mờ đến chân trời giác ngộ. Tập sách này gồm những phần giáo trình về môn Luật học dùng để hướng dẫn Tăng Ni của lớp cử nhân Phật học thuộc Học Viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua. Giờ đây, cơ duyên đã hội đủ, chúng tôi sắp xếp lại, in chung thành một tập, lấy tên là Luật học tinh yếu, và được chia làm 4 chương:

Chương I, đề cập đến giới bản của Tỳ-kheo: khái quát về lịch sử truyền dịch và nội dung của các bộ Luật, chủ yếu là bộ Luật Tứ Phần.

Chương II, đề cập đến các pháp Yết-ma: những quy định về việc thiết lập các cương giới; việc truyền giới, thọ giới; việc tụng giới; cách thức An cư, Tự tứ v.v. Đó là những nguyên tắc rất chặt chẽ, dùng làm cương lĩnh cho mọi sinh hoạt thường nhật của Tăng chúng.

Chương III, đề cập đến việc phạm giới và sám hối: trình bày về các trường hợp vi phạm giới pháp; cách thức sám hối những tội đã phạm; các trường hợp vi phạm đối với những quy định khác, và các biện pháp sửa trị cũng như chế tài.

Chương IV, đề cập đến giới pháp của Bồ-tát: trình bày sơ lược về lịch sử của giới Bồ-tát; những kinh điển dùng làm cơ sở, nội dung của các giới bản; thể thức truyền thọ giới Bồ-tát, cũng như việc tụng giới và sám hối.

Kinh Di giáo tường thuật rằng trước lúc xả huyễn thân, trở về cõi đại tịch diệt, vĩnh viễn chia tay với các đệ tử thân yêu, Đức Đạo sư đã để lại những lời giáo huấn tối hậu, cực kỳ thống thiết: “Này các thầy Tỳ-kheo, sau khi Ta diệt độ, các thầy phải trân trọng tôn kính tịnh giới, như mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết, tịnh giới là đức Thầy cao cả của các thầy. Nếu Ta ở đời thì cũng chẳng khác gì tịnh giới ấy.” Thế nên, khi chúng ta may mắn được tiếp xúc với Giới pháp thì cũng chẳng khác gì được diện kiến trực tiếp với bậc Thầy tôn kính của mình. Vì vậy có thể nói, bao giờ Giới luật còn được phổ biến rộng rãi, các đệ tử của Đấng Giác ngộ còn tinh tấn thực hành những di huấn cao quý của thầy mình, thì bấy giờ được xem là một bằng chứng hưng thịnh của Tăng bảo và Chánh pháp đang được xương minh tốt đẹp.

Thiền viện Vạn Hạnh ngày 15/ 11/ 2006 – PL. 2550.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/07/201606:37(Xem: 5010)
1. Lời ngỏ. Ban Biên Tập 2. Diễn Văn Khai Mạc Khóa An Cư kỳ 17. TT Thích Tâm Phương 3. Hình ảnh Chư Tôn Đức Tăng Ni 4. Hình ảnh quý Phật tử tùng hạ 5. Bài kệ của Bồ Tát Di Lặc. HT Thích Huyền Tôn 6. Tuyết điểm đầu non. HT Thích Bảo Lạc 7. Hai hình ảnh một chuyến đi (thơ). HT Thích Tín Nghĩa 8. Con đường đi đến giải thoát sanh tử. HT Thích Như Điển 9. Thực hành Bồ Tát Hạnh. HT Thích Trường Sanh 10.Thơm danh Quảng Đức (thơ). HT Thích Giác Lượng 11.Còn mãi ánh trăng. HT Thích Minh Hiếu 12.Tăng trưởng lòng từ bi. TT Thích Nguyên Trực 13.Tri ân Đức Trưởng Lão HT Thích Huyền Tôn. TT Thích Tâm Phương 14.Ngắm Trăng Lăng Già. TT Thích Nguyên Tạng 15.Sức mạnh của Tăng Già. ĐĐ Thích Phổ Huân 16.Nghịch duyên trui rèn. ĐĐ Thích Viên Thành 17.Năm phương pháp diệt trừ phiền giận. ĐĐ Thích Đạo Nguyên 18.An Cư, mùa nạp năng lượng nhiều phước đức. Thích Thị Kỉnh
13/07/201320:16(Xem: 5502)
Kỷ Yếu Trường Hạ Minh Quang 2013
29/07/201308:27(Xem: 11218)
1:- Quá trình hình thành và phát triển: - Nguồn gốc Tự viện, ngày tháng thành lập PHV, người tiếp quản ban đầu. - Thành phần Ban Giám Viện, Ban Giáo Thọ, Hội Đồng Chứng Minh, số lượng Học Tăng, nhà Trù, cơ sở vật chất v.v… các thời kỳ, trước 1963, sau 1963 đến 1975
06/01/201617:04(Xem: 6330)
Có thể nói Phật giáo Việt Nam trong tình hình phát triển hiện nay tuyệt đại bộ phận do sự tác động mạnh mẽ của bảy dòng thiền chính, trong đó bốn dòng trực tiếp kế thừa các dòng thiền từ Trung Quốc và bốn dòng được phát sinh tại đất nước ta. Bốn dòng từ Trung Quốc, nếu dựa vào thứ tự truyền nhập vào Việt Nam là các dòng Bút Tháp của Viên Văn Chuyết Công (1590 – 1644), dòng Thập Tháp của Siêu Bạch Thọ Tông (1648–1728), dòng Quốc Ân của Nguyên Thiều Hoán Bích (1648–1728), cả ba dòng này đều thuộc phái Lâm Tế và dòng Hòe Nhai của Thủy Nguyệt thuộc phái Tào Động. Ba dòng còn lại thì đều xuất phát tại Việt Nam hoặc do kết hợp một dòng từ Trung Quốc như Bút Tháp với một dòng tồn tại lâu đời tại Việt Nam như Trúc Lâm, mà điển hình là dòng Long Động của thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647–1726) hoặc do các vị thiền sư người Việt Nam hay Trung Quốc hành đạo tại Việt Nam xuất kệ thành lập dòng mới, cụ thể là các dòng thiền Chúc Thánh của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670–1746) và Thiên Thai
22/12/201622:42(Xem: 3370)
Lợi ích của thiền hành Hòa thượng U Silananda Trong các khóa thiền tập của chúng ta, các thiền sinh phải tập chú niệm trong cả bốn tư thế đi, đứng, ngồi, nằm. Họ phải duy trì chánh niệm trong mọi thời khắc, ở mọi tư thế của họ.
27/12/201606:58(Xem: 2526)
Hôm nay, ngày 10 tháng 03 năm Ất Hợi, tức là ngày 09 tháng 04 năm 1995, đại chúng đã có duyên về nơi núi Thúy Vân này. Nơi đây có Bảo tháp, có chùa Thánh Duyên. Ngôi chùa Thánh Duyên là tên do vua Minh Mạng sắc phong. Trong bia ký, vua Minh Mạng có ghi rằng: “Phật tức là Thánh, Thánh tức là Phật.
31/05/201718:54(Xem: 5347)
Lời Pháp Tỉnh Lòng Mê – HT Thích Thái Hòa – 2016
01/04/201312:14(Xem: 5426)
Lời trối trăng của Đại Đế A Lịch Sơn
01/01/201217:38(Xem: 4372)
Tập sách Lối về Sen Nở bao gồm những bài viết, bản dịch, bài tham luận trong các kỳ hội thảo, đăng rải rác trên các tạp chí, nguyệt san Phật giáo mấy thập niên qua. Nội dung chủ yếu nói về nhân cách của bậc Đạo sư, giáo pháp của Ngài và lợi ích thiết thực khi thực hiện những lời dạy ấy. Tất cả các bài viết được trình bày một cách giản dị, mạnh lạc, rõ ràng, nhằm giới thiệu nội dung Phật học cơ bản được trích dẫn từ một số kinh điển Bắc truyền và Nam truyền.
17/07/201818:13(Xem: 2547)
LỜI GIỚI THIỆU “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” của Ni sư Thích Nữ Giới Hương đã được ra mắt lần đầu vào năm 2008, và sau gần 10 năm đã được tái bản 4 lần và lần thứ 5, năm 2018 được tái bản cùng một lúc ở hai nơi, trong nước do NXB Hồng Đức xuất bản và ở hải ngoại do NXB Ananda Viet Foundation xuất bản phát hành trên mạng Amazon toàn cầu.
07/07/201820:29(Xem: 3267)
LUÂN HỒI TRONG LĂNG KÍNH LĂNG NGHIÊM Thích Nữ Giới Hương Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn [Xem ấn bản tiếng Anh: Rebirth Views in The Śūraṅgama Sūtra]
17/08/201421:33(Xem: 8693)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/201420:21(Xem: 8483)
Tín đồ Phật giáo tin rằng có một con người thật được tôn xưng là đức Phật, hay Đấng Giác Ngộ, đã nhận ra được trí huệ sáng suốt xa xưa, hay nói đúng hơn là từ vô thủy, của con người. Và ngài đã làm được điều này ở Bihar, Ấn Độ, vào khoảng từ năm 600 cho đến 400 trước Công nguyên – thời gian chính xác không được biết.