Bản Ngã Tâm Linh

04/04/202616:37(Xem: 314)
Bản Ngã Tâm Linh

 

 phat a di da

Bản Ngã Tâm Linh

 

Lời nói đầu:

 

Đây có thể  là một bản văn sám hối mà người viết thấy mình đã lạc vào mê cung của một sự kiêu mạn vi tế và đã sưu tầm nhiều tài liệu kể cả tham vấn AI, và sau cùng tìm được lời đáp cho chính mình khi đọc Ba Bước Tỉnh Thức của  Osho,

 Dù trước đây, người viết thường được  các bậc minh sư thườnh nhắc nhở rằng: “Có một “cái tôi” rất đặc biệt — nó không khoe khoang tiền bạc, không tranh hơn thua, không ồn ào… nhưng nó lại đứng rất khẽ trong bóng tối của tâm, thì thầm: “Mình đã hiểu rồi… mình khác rồi…”

Nó thích sự im lặng — nhưng là để nghe chính mình trở nên “sâu sắc”.

Nó không phán xét — nhưng lại âm thầm thấy mình “cao hơn người còn phán xét”.

Nó nói về buông bỏ — nhưng lại giữ rất chặt hình ảnh “người đã buông”.

Các bậc thầy đã nhấn mạnh và chỉ ra “Cái ngã này không cần được công nhận công khai nhưng nó chỉ cần một cảm giác rất nhẹ: “mình đang đúng, đang tỉnh, đang đi trước.”

Nó có thể đọc kinh, thiền định, nói về vô ngã, nói về từ bi…nhưng sâu bên trong, nó vẫn tồn tại như một người đang sở hữu tất cả những điều đó.

Chỉ đến khi có một khoảnh khắc rất lặng —không còn ai muốn đúng, không còn ai muốn hiểu, không còn ai muốn “trở thành” —thì cái ngã tâm linh ấy… tự nhiên không còn chỗ đứng, và cũng có thể không cần đánh bại nó mà chỉ cần thấy nó — mà không đứng về phía nó

Kính trân trọng,

Huệ Hương

 

 

Bản Ngã Tâm Linh

Bản ngã có thể tinh vi và khó nhận diện nhất khi chúng ta cố gắng dập tắt kiêu mạn.

Kiêu mạn, một loại bản ngã được gọi là “Bản ngã tâm linh” (Spiritual Ego) trong tâm linh, sợ nhất là bị nhìn thấy và thừa nhận.

Chỉ khi nào một cá nhân có sự  thành thật tuyệt đối  nhận ra mình đang “diễn vai” của  người đang tu tập hoặc người có trình độ, thì lớp mặt nạ mới bắt đầu nứt vỡ.

 

Giai đoạn này đánh dấu bước ngoặt lớn nhất trong việc nghiên cứu bản ngã. Mà trong nhiều năm trước đây Osho và nhiều bậc thầy khác thường cảnh báo về “Bản ngã tâm linh” vì những lý do sau:

 

1. Bản ngã “mượn áo” người đang tu tập.

 

Bản ngã rất tinh ranh. Khi chúng ta bắt đầu buông bỏ những thứ vật chất như tiền bạc và địa vị để bước vào con đường tu học chuyển hóa tâm linh, bản ngã không hề biến mất mà nó “chuyển nhà”.

 Nó tìm một nơi trú ngụ mới trong sự hiểu biết, sự tinh tấn, và những trải nghiệm định.

 Dấu hiệu cho thấy chúng ta đang rơi vào lầm lạc là khi cảm thấy mình “cao cấp” hơn những người chưa biết quan sát bản thân, hoặc cảm thấy mình đang đi đúng hướng còn người khác thì không.

Đó chính là sự kiêu mạn vi tế.

 

2-Bản ngã cũng núp dưới định kiến về “Người có trình độ”.

 

Khi chúng ta cho rằng một người nghiên cứu hay người tu phải “thế này, thế kia” (điềm đạm, hiểu biết, không sai lầm…), chúng ta vô tình tạo ra một nhà tù mới cho chính mình.

Bản ngã bắt đầu gồng mình để phù hợp với khuôn mẫu đó, che giấu đi những phần “không tu” bên trong như sự giận dữ, ham muốn, và ganh tị vì chúng không phù hợp với hình ảnh “người có trình độ”.

Chính sự khôn ngoan che giấu này tạo ra những mặt nạ của bản ngã.

 

 Giải pháp để mặt nạ cởi bỏ dần: Quan sát “Ai đang kiêu mạn”

 

Thay vì cố gắng dập tắt sự kiêu mạn (vì kẻ muốn dập tắt cũng là bản ngã), hãy thử một cách tiếp cận khác từ Ba Bước Tỉnh Thức (1)

 

- Chấp nhận toàn bộ: Hãy nhìn thẳng vào sự kiêu mạn đó và nói: “À, đây là sự kiêu mạn. Nó đang làm mình cảm thấy quan trọng”.

- Đừng phán xét nó: Đừng ghét bỏ sự kiêu mạn, vì ghét bỏ cũng là một hình thái của định kiến. Hãy coi nó như một đám mây đang bay qua bầu trời tâm trí bạn.

- Tự mỉm cười với chính mình: Osho thường khuyên chúng ta nên biết cười vào chính mình. Khi thấy mình đang “diễn” vai người cao siêu, hãy cười và nhận ra đó chỉ là một trò chơi của tâm trí. Khi bạn cười được vào bản ngã, nó lập tức mất đi sức mạnh.

---------------------

(1)Tìm hiểu Tác phẩm Ba Bước Tỉnh Thức của Osho

Ba bước tỉnh thức” là quyển nối tiếp cuốn “Bản ngã” của OSHO nhưng chưa phải điểm cuối cùng.

Ba bước tỉnh thức, theo quan điểm của Osho trong tác phẩm cùng tên, là hành trình chuyển hóa nội tâm bao gồm:

 

1) Sự tự do của tâm thức - nhận biết không phán xét,

 (2) Sự đơn giản của tâm trí - buông bỏ sự phức tạp,

và (3) Sự rỗng lặng của tâm hồn - đạt đến trạng thái tĩnh tại tuyệt đối.

 Đây là quá trình quan sát mọi chuyển động nội tâm và ngoại cảnh để sống trọn vẹn từng khoảnh khắc.

 

Dưới đây là chi tiết Ba Bước Tỉnh Thức theo tác phẩm

 

Bước 1: Sự tự do của tâm thức (Nhận biết): Tập trung vào việc quan sát hành động, cảm xúc và suy nghĩ của bản thân mà không phán xét. Nhận biết rõ ràng những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài, chẳng hạn như khi ăn biết rõ mình đang ăn, khi đi biết rõ mình đang đi.

 

Bước 2: Sự đơn giản của tâm trí (Buông bỏ): Loại bỏ những suy nghĩ phức tạp, lo âu và định kiến để tâm trí trở nên sáng suốt, bình thản hơn. Đây là quá trình quay về với sự đơn giản, giúp tâm trí bớt bị xao nhãng bởi các tác động bên ngoài.

 

Bước 3: Sự rỗng lặng của tâm hồn (Tĩnh tại): Đạt đến trạng thái tâm hồn tĩnh lặng, không còn bị chi phối bởi dòng chảy của ham muốn hay nỗi sợ. Đó là lúc tâm trí hoàn toàn yên tĩnh, nhận thức được bản chất thật của chính mình

 

 

Lời kết:

 

Sau vài tháng suy ngẫm và đọc đi đọc lại tã phẩm này người viết học được điều cốt lõi như sau: Quá trình khám phá sự thật và con người bên trong sẽ không dừng lại chỉ vì vài lần vỡ lẽ hay những khoảnh khắc bạn “giác ngộ” chân lý nào đó. Mà chính  nhân  cách chúng ta mới  là tấm gương tuyệt vời phản ánh nhân sinh quan của ta, hoặc diễn đạt theo  cách khác để có thể biểu hiện hoàn hảo những kỳ vọng, những tác động xung quanh vào bộ não chúng ta, buộc não ta phải thích nghi như thế.

 

Điều còn lại của bản ngã chính là định kiến. Mà định kiến đích thị là một ảo ảnh thành nếp trong não

 

Thay vì cố gắng “thực hành” một cách căng thẳng, mời bạn thả lỏng và nhâm nhi những dòng thơ này để  “CÁI TÔI “tự soi gương và mỉm cười tan đi, bạn nhé!!


 

 

Mặc áo người tu tập

Soi gương thấy mình cao

Tay cầm thước đo đời,

Phân thấp với phân cao

 

Tưởng mình là thông tuệ

Chữ nghĩa chất đầy kho,

Dưới bụi mờ, che lấp

Nẻo tâm mãi so đo,

 

Bản ngã khôn ngoan núp

 Dưới lớp vỏ khiêm nhường,

Nuôi  cái “TA” bên trong

Bên ngoài vẻ thiện lương

 

Ngày ngày mượn kinh kệ,

Tự hào đã về nhà.

Khuyên người nên miên mật

Bờ giác sẽ không xa

 

Nhưng có biết đâu...

khi thấy mình “đang tiến”,

 Chính là lúc  đang lùi

Với trò chơi tâm trí,

Khiến bản ngã cười vui.

 

Thôi đừng làm người giỏi.

Hãy tỉnh thức, cần chi TÊN

 Xin đừng mang mặt nạ,

Cũng đừng diễn “người hiền.”

 

Hãy làm một đứa trẻ,

Ngơ ngác giữa lòng thiền.

Chấp nhận  là đất cát,

Kiêu mạn còn  “cửa riêng”.?

 

Tự tan đi sức mạnh

Vai diễn không còn gồng

Để thấy mình quan trọng,

Ồ  … ra đã hiểu thông.!

 

Sống chỉ là hơi thở.

Cởi bỏ lớp hào quang,

 Mượn vay từ định kiến,

Chỉ còn lại…

hạt bụi giữa hư không!.

 

Huệ Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/01/2011(Xem: 4687)
Cùng với thầy của mình là Bồ Tát Di Lặc, Vô Trước là khai tổ của Du Già Tông, hay Duy Thức Tông, một trường phái của Đại Thừa Phật Giáo. Ba người con trai lớn nhất, đều gọi là Thiên Thân (Vasubandhu), sinh ra ở Purusapura (Peshwar), là những thành viên của gia đình Kiều Thi Ca (Kausika) thuộc dòng dõi Bà La Môn, Ấn Độ. Tất cả ba người đều đã trở thành những Tỳ Kheo Phật Giáo. Người em trai út của Vô Trước được biết là Tỉ-Lân-Trì-Bạt-Bà (Virincivatsa), trong khi người em giữa được biết đơn thuần là Thiên Thân (Vasubandhu), tác giả của Duy Thức Tam Thập Tụng.
04/01/2011(Xem: 4342)
Quán Âm hay Quán Thế Âm là tên gọi của một vị Bồ Tát nổi tiếng trong hệ thống Phật giáo Bắc Truyền (vẫn được thậm xưng là Đại Thừa) khắp các xứ Trung Hoa, Hàn quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ và cả Việt Nam. Chữ Phạn của tên gọi này là Avalokitvesvara, thường được dịch sát là Quán Tự Tại. Chữ Tự Tại (Isvara) này không hề mang nghĩa thanh thản độc lập như nhiều người vẫn nghĩ. Nó là một từ tố thường thấy ngay sau tên gọi của các vị thần Ấn Độ, một chút dấu vết của Ấn Giáo, xa hơn một tí là Bà La Môn giáo thời xưa. Nói mấy cũng không đủ, với phương tiện Internet ngày nay, người muốn biết xin cứ Online thì rõ. Nãy giờ chỉ nói cái tên, cái ý nghĩa hay vai trò của khái niệm Quán Thế Âm mới là quan trọng.
19/12/2010(Xem: 7603)
Qua kinh sách thuộc truyền thống Đại thừa ta được biết mỗi vị Phật thường có hai vị Bồ tát làm thị giả. Nếu như Đức Phật A Di Đà có Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí làm thị giả thì một trong hai vị thị giả chính của Đức Phật Thích Ca là Văn Thù Sư Lợi, đại biểu cho trí tuệ siêu việt. Bồ Tát Văn Thù đã xuất hiện hầu như trong tất cả các kinh điển quan trọng của Phật giáo Đại thừa: Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma Cật,… như là một nhân vật thân cận nhất của Đức Phật Thích Ca, khi thì chính thức thay mặt Đức Thế Tôn diễn nói Chánh pháp, có lúc lại đóng vai tuồng làm người điều hành chương trình để giới thiệu đến thính chúng một thời pháp quan trọng của Đức Bổn Sư.
19/12/2010(Xem: 5830)
Từ trước đến nay, những khuynh hướng bài bác Đại Thừa -cả trong lẫn ngoài Phật giáo- thường cho rằng kinh điển Đại Thừa là ngụy tạo, từ đó họ cũng hạ bệ luôn tất cả những vị Bồ Tát đã được quần chúng Phật tử lâu đời tôn thờ kính ngưỡng -đặc biệt là Bồ Tát Địa Tạng- coi đó như là những nhân vật hư cấu, sản phẩm của đầu óc tưởng tượng phong phú của người Trung Hoa. Tuy nhiên các học giả nghiên cứu về Phật giáo cổ Ấn Độ hồi gần đây đã xác định rằng tín ngưỡng tôn thờ Bồ Tát Địa Tạng (Kshitigarbha) đã được khai sanh tại Ấn Độ rất lâu đời, có thể là vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất hoặc thứ hai sau công nguyên (C.E.), cùng một lúc với sự phát triển mạnh mẽ của khuynh hướng Phật giáo Đại Thừa, (2) mà bằng chứng cụ thể là Bồ Tát Địa Tạng và những kinh sách liên quan về Ngài đã được đưa vào chương trình học tập, nghiên cứu tại Đại học cổ điển Phật giáo nổi tiếng Nalanda xứ Ma Kiệt Đà.
14/12/2010(Xem: 4082)
Bồ Tát Quán Thế Âm đang thực sự có mặt bên cạnh chúng ta mang sứ mệnh Bồ Tát vào đời để cứu vớt nhân sinh qua cơn khổ nạn hay chỉ là một nhân vật huyền thoại tôn giáo? Với những người mang nặng tinh thần duy lý cho rằng Đạo Phật không hề đặt cơ sở trên những niềm tin mù quáng và do đó, tin vào sự cứu độ của một tha lực bên ngoài –ví dụ như Quán Thế Âm Bồ Tát- theo họ là một hình thức dị đoan mê tín, khó chấp nhận.
03/12/2010(Xem: 18925)
Ngài Sàntideva (Tịch Thiên, 691-743) viết luận này tại Học Viện Nalanda, Ấn Độ vào thế kỷ 8. Ngài diễn giảng đường tu hạnh Bồ Tát, hạnh Lục độ và tu mười đại hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát.
23/11/2010(Xem: 7295)
Hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm trong thân tướng nữ nhân, tay cầm bình tịnh và cành dương liễu, còn được gọi dưới danh hiệu PHẬT BÀ QUAN ÂM NAM HẢI, là 1 hình ảnh rất gần gũi với dân tộc Việt Nam...
20/11/2010(Xem: 4356)
Kính lạy đức Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Ngài, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu.
09/11/2010(Xem: 4808)
Bồ Tát Quán Thế Âm đang thực sự có mặt bên cạnh chúng ta mang sứ mệnh Bồ Tát vào đời để cứu vớt nhân sinh qua cơn khổ nạn hay chỉ là một nhân vật huyền thoại tôn giáo? Với những người mang nặng tinh thần duy lý cho rằng Đạo Phật không hề đặt cơ sở trên những niềm tin mù quáng và do đó, tin vào sự cứu độ của một tha lực bên ngoài –ví dụ như Quán Thế Âm Bồ Tát- theo họ là một hình thức dị đoan mê tín, khó chấp nhận.
06/11/2010(Xem: 23902)
Hành giả Bồ Tát phải tích cực hành Bồ Tát hạnh, nghĩa là mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi ý niệm đều hướng về chúng sinh, vì lợi ích chúng sinh.