Bản Ngã Tâm Linh

04/04/202616:37(Xem: 311)
Bản Ngã Tâm Linh

 

 phat a di da

Bản Ngã Tâm Linh

 

Lời nói đầu:

 

Đây có thể  là một bản văn sám hối mà người viết thấy mình đã lạc vào mê cung của một sự kiêu mạn vi tế và đã sưu tầm nhiều tài liệu kể cả tham vấn AI, và sau cùng tìm được lời đáp cho chính mình khi đọc Ba Bước Tỉnh Thức của  Osho,

 Dù trước đây, người viết thường được  các bậc minh sư thườnh nhắc nhở rằng: “Có một “cái tôi” rất đặc biệt — nó không khoe khoang tiền bạc, không tranh hơn thua, không ồn ào… nhưng nó lại đứng rất khẽ trong bóng tối của tâm, thì thầm: “Mình đã hiểu rồi… mình khác rồi…”

Nó thích sự im lặng — nhưng là để nghe chính mình trở nên “sâu sắc”.

Nó không phán xét — nhưng lại âm thầm thấy mình “cao hơn người còn phán xét”.

Nó nói về buông bỏ — nhưng lại giữ rất chặt hình ảnh “người đã buông”.

Các bậc thầy đã nhấn mạnh và chỉ ra “Cái ngã này không cần được công nhận công khai nhưng nó chỉ cần một cảm giác rất nhẹ: “mình đang đúng, đang tỉnh, đang đi trước.”

Nó có thể đọc kinh, thiền định, nói về vô ngã, nói về từ bi…nhưng sâu bên trong, nó vẫn tồn tại như một người đang sở hữu tất cả những điều đó.

Chỉ đến khi có một khoảnh khắc rất lặng —không còn ai muốn đúng, không còn ai muốn hiểu, không còn ai muốn “trở thành” —thì cái ngã tâm linh ấy… tự nhiên không còn chỗ đứng, và cũng có thể không cần đánh bại nó mà chỉ cần thấy nó — mà không đứng về phía nó

Kính trân trọng,

Huệ Hương

 

 

Bản Ngã Tâm Linh

Bản ngã có thể tinh vi và khó nhận diện nhất khi chúng ta cố gắng dập tắt kiêu mạn.

Kiêu mạn, một loại bản ngã được gọi là “Bản ngã tâm linh” (Spiritual Ego) trong tâm linh, sợ nhất là bị nhìn thấy và thừa nhận.

Chỉ khi nào một cá nhân có sự  thành thật tuyệt đối  nhận ra mình đang “diễn vai” của  người đang tu tập hoặc người có trình độ, thì lớp mặt nạ mới bắt đầu nứt vỡ.

 

Giai đoạn này đánh dấu bước ngoặt lớn nhất trong việc nghiên cứu bản ngã. Mà trong nhiều năm trước đây Osho và nhiều bậc thầy khác thường cảnh báo về “Bản ngã tâm linh” vì những lý do sau:

 

1. Bản ngã “mượn áo” người đang tu tập.

 

Bản ngã rất tinh ranh. Khi chúng ta bắt đầu buông bỏ những thứ vật chất như tiền bạc và địa vị để bước vào con đường tu học chuyển hóa tâm linh, bản ngã không hề biến mất mà nó “chuyển nhà”.

 Nó tìm một nơi trú ngụ mới trong sự hiểu biết, sự tinh tấn, và những trải nghiệm định.

 Dấu hiệu cho thấy chúng ta đang rơi vào lầm lạc là khi cảm thấy mình “cao cấp” hơn những người chưa biết quan sát bản thân, hoặc cảm thấy mình đang đi đúng hướng còn người khác thì không.

Đó chính là sự kiêu mạn vi tế.

 

2-Bản ngã cũng núp dưới định kiến về “Người có trình độ”.

 

Khi chúng ta cho rằng một người nghiên cứu hay người tu phải “thế này, thế kia” (điềm đạm, hiểu biết, không sai lầm…), chúng ta vô tình tạo ra một nhà tù mới cho chính mình.

Bản ngã bắt đầu gồng mình để phù hợp với khuôn mẫu đó, che giấu đi những phần “không tu” bên trong như sự giận dữ, ham muốn, và ganh tị vì chúng không phù hợp với hình ảnh “người có trình độ”.

Chính sự khôn ngoan che giấu này tạo ra những mặt nạ của bản ngã.

 

 Giải pháp để mặt nạ cởi bỏ dần: Quan sát “Ai đang kiêu mạn”

 

Thay vì cố gắng dập tắt sự kiêu mạn (vì kẻ muốn dập tắt cũng là bản ngã), hãy thử một cách tiếp cận khác từ Ba Bước Tỉnh Thức (1)

 

- Chấp nhận toàn bộ: Hãy nhìn thẳng vào sự kiêu mạn đó và nói: “À, đây là sự kiêu mạn. Nó đang làm mình cảm thấy quan trọng”.

- Đừng phán xét nó: Đừng ghét bỏ sự kiêu mạn, vì ghét bỏ cũng là một hình thái của định kiến. Hãy coi nó như một đám mây đang bay qua bầu trời tâm trí bạn.

- Tự mỉm cười với chính mình: Osho thường khuyên chúng ta nên biết cười vào chính mình. Khi thấy mình đang “diễn” vai người cao siêu, hãy cười và nhận ra đó chỉ là một trò chơi của tâm trí. Khi bạn cười được vào bản ngã, nó lập tức mất đi sức mạnh.

---------------------

(1)Tìm hiểu Tác phẩm Ba Bước Tỉnh Thức của Osho

Ba bước tỉnh thức” là quyển nối tiếp cuốn “Bản ngã” của OSHO nhưng chưa phải điểm cuối cùng.

Ba bước tỉnh thức, theo quan điểm của Osho trong tác phẩm cùng tên, là hành trình chuyển hóa nội tâm bao gồm:

 

1) Sự tự do của tâm thức - nhận biết không phán xét,

 (2) Sự đơn giản của tâm trí - buông bỏ sự phức tạp,

và (3) Sự rỗng lặng của tâm hồn - đạt đến trạng thái tĩnh tại tuyệt đối.

 Đây là quá trình quan sát mọi chuyển động nội tâm và ngoại cảnh để sống trọn vẹn từng khoảnh khắc.

 

Dưới đây là chi tiết Ba Bước Tỉnh Thức theo tác phẩm

 

Bước 1: Sự tự do của tâm thức (Nhận biết): Tập trung vào việc quan sát hành động, cảm xúc và suy nghĩ của bản thân mà không phán xét. Nhận biết rõ ràng những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài, chẳng hạn như khi ăn biết rõ mình đang ăn, khi đi biết rõ mình đang đi.

 

Bước 2: Sự đơn giản của tâm trí (Buông bỏ): Loại bỏ những suy nghĩ phức tạp, lo âu và định kiến để tâm trí trở nên sáng suốt, bình thản hơn. Đây là quá trình quay về với sự đơn giản, giúp tâm trí bớt bị xao nhãng bởi các tác động bên ngoài.

 

Bước 3: Sự rỗng lặng của tâm hồn (Tĩnh tại): Đạt đến trạng thái tâm hồn tĩnh lặng, không còn bị chi phối bởi dòng chảy của ham muốn hay nỗi sợ. Đó là lúc tâm trí hoàn toàn yên tĩnh, nhận thức được bản chất thật của chính mình

 

 

Lời kết:

 

Sau vài tháng suy ngẫm và đọc đi đọc lại tã phẩm này người viết học được điều cốt lõi như sau: Quá trình khám phá sự thật và con người bên trong sẽ không dừng lại chỉ vì vài lần vỡ lẽ hay những khoảnh khắc bạn “giác ngộ” chân lý nào đó. Mà chính  nhân  cách chúng ta mới  là tấm gương tuyệt vời phản ánh nhân sinh quan của ta, hoặc diễn đạt theo  cách khác để có thể biểu hiện hoàn hảo những kỳ vọng, những tác động xung quanh vào bộ não chúng ta, buộc não ta phải thích nghi như thế.

 

Điều còn lại của bản ngã chính là định kiến. Mà định kiến đích thị là một ảo ảnh thành nếp trong não

 

Thay vì cố gắng “thực hành” một cách căng thẳng, mời bạn thả lỏng và nhâm nhi những dòng thơ này để  “CÁI TÔI “tự soi gương và mỉm cười tan đi, bạn nhé!!


 

 

Mặc áo người tu tập

Soi gương thấy mình cao

Tay cầm thước đo đời,

Phân thấp với phân cao

 

Tưởng mình là thông tuệ

Chữ nghĩa chất đầy kho,

Dưới bụi mờ, che lấp

Nẻo tâm mãi so đo,

 

Bản ngã khôn ngoan núp

 Dưới lớp vỏ khiêm nhường,

Nuôi  cái “TA” bên trong

Bên ngoài vẻ thiện lương

 

Ngày ngày mượn kinh kệ,

Tự hào đã về nhà.

Khuyên người nên miên mật

Bờ giác sẽ không xa

 

Nhưng có biết đâu...

khi thấy mình “đang tiến”,

 Chính là lúc  đang lùi

Với trò chơi tâm trí,

Khiến bản ngã cười vui.

 

Thôi đừng làm người giỏi.

Hãy tỉnh thức, cần chi TÊN

 Xin đừng mang mặt nạ,

Cũng đừng diễn “người hiền.”

 

Hãy làm một đứa trẻ,

Ngơ ngác giữa lòng thiền.

Chấp nhận  là đất cát,

Kiêu mạn còn  “cửa riêng”.?

 

Tự tan đi sức mạnh

Vai diễn không còn gồng

Để thấy mình quan trọng,

Ồ  … ra đã hiểu thông.!

 

Sống chỉ là hơi thở.

Cởi bỏ lớp hào quang,

 Mượn vay từ định kiến,

Chỉ còn lại…

hạt bụi giữa hư không!.

 

Huệ Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/10/2010(Xem: 3591)
Trong thế giới loài người có một vị Bồ tát ai cũng có thể biết như một vị cứu tinh. Ngài có trái tim yêu thương và hiểu biết, luôn mở rộng tấm lòng nhân ái chẳng nỡ bỏ một ai đau khổ. Ngài chính là Bồ tát Quán Thế Âm. Khi nghe ai trong khốn khổ, khó khăn, tuyệt vọng tâm niệm đến Ngài thì Ngài liền ra tay cứu giúp và nâng đỡ.
22/10/2010(Xem: 8523)
Một trong những phương pháp nghiên cứu mới nhất do Daniel Overmyer đề xướng (1998) trong lãnh vực khoa học nhân văn hiện đang được các nhà học giả áp dụng được gọi là « THF » (Text, History & Field Work), tức là phối hợp sử dụng các sử liệu và văn bản kèm theo với việc đi khảo sát thực tế. Áp dụng phương pháp này, và xem đó như là một phương cách hữu hiệu trong việc nghiên cứu lịch sử tôn giáo Trung Quốc, GS/TS. Chun Fang Yu (Vu Phương Quân), Khoa Trưởng Phân Khoa Tôn Giáo Đại Học The State University of New Jersey, HK, trong một tác phẩm mới nhất của bà, nhan đề « Quán Âm » đã cống hiến cho chúng ta một công trình nghiên cứu xuất sắc và đầy đủ nhất từ trước đến nay liên quan đến Bồ Tát Quán Thế Âm.
21/10/2010(Xem: 6445)
Sau khi thành đạo, Đức Phật đã phổ biến con đường giác ngộ cho nhiều người. Giác ngộ là vô cùng quí báu vì đó là con đường đưa đến sự giải thoát tối thượng của Niết bàn.
03/10/2010(Xem: 4044)
Mọi người Phật tử khi nhắc đến Đức Quán Thế Âm (Avalokites) nghĩa là lắng nghe tiếng kêu của cuộc đời , người Việt Nam dù là Phật tử hay chưa phải là Phật tử đều có một khái niệm chung là vị Bồ tát hay cứu khổ cứu nạn cho mọi người, điều này đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người và Quán Thế Âm trở thành một biểu trưng cho lòng từ bi của Phật giáo. Quán Thế Âm dân gian ta gọi tắt là Quán Am, nhìn chung Ngài là vị Bồ tát thể hiện lòng Bi, một trong hai đức của Phật tánh: Văn Thù biểu trưng cho trí tuệ thì Quán Thế Âm biểu trưng cho đức từ bi của Phật. Đã từ lâu, Đức Quán Thế Âm được nhiều người Việt Nam tôn kính và thờ phụng tin tưởng rất phổ biến , nhất là trong lúc gặp khó khăn hoạn nạn đều hướng về Ngài như là một vị cứu tinh vì danh hiệu Ngài là "Cứu khổ cứu nạn". Những năm gần đây, niềm tin này lại được bộc lộ qua việc thờ Quán Thế Âm ở tại tư gia nhất là" lộ thiên" (ngoài trời nơi sân thượng). Việc thờ Quán Thế Âm là một niềm tin mang tinh thầnTừ bi của Đạo Phật nó còn là biể
03/10/2010(Xem: 4460)
Hành Trì Pháp Quán Thế Âm
26/09/2010(Xem: 11282)
Sự tích 16 vị La-hán được chép trong sách Pháp Trụ Ký. Sách này do vị Đại A-la-hán Nan Đề Mật Đa La (Nandimitra) trước thuật và Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang (600-664) dịch ra chữ Hán. Ngài Nan Đề Mật Đa La (còn có tên là Khánh Hữu) người Tích Lan, ra đời khoảng năm 800 năm sau Phật Niết bàn. Theo Pháp Trụ Ký (Fachu-chi), thì Ngài chỉ lược thuật lại kinh Pháp Trụ Ký do Phật thuyết giảng mà thôi...
22/09/2010(Xem: 23019)
Nói đến Phật giáo, người ta nghĩ ngay đến đạo Từ bi cứu khổ.Mà hình ảnh cứu khổ tiêu biểu tuyệt vời nhất thiết tưởng không ai khác hơn làđức Bồ tát Quan Thế Âm, hay Mẹ hiền Quan Âm. Vì vị Bồ tát này có đầy đủ phẩmchất của một người mẹ trong tất cả những người mẹ. Hình như trong mọi trái timcủa những người con Phật thuần thành nhất là giới Phật tử bình dân không ai làkhông không có hình ảnh đáng tôn kính của vị Bồ tát giàu lòng bi mẫn này...
21/09/2010(Xem: 4987)
Chúng ta nhìn thấy trên đây bức hình của pho tượng Bồ Tát Quan Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt bằng gỗ sơn son thiếp vàng, cao 3 mét 60 đang được tôn trí tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật, Hà Nội, Việt Nam. Pho tượng nầy đã được phục chế theo mẫu của pho tượng Quan Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt đang được trân quý và giữ gìn tại Chùa Ninh Phúc còn gọi là Chùa Bút Tháp tại tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Những đường nét tinh tế, điêu luyện và sự bố cục cân đối trong tư thế ngồi rất hùng tráng của pho tượng đã đạt đến đỉnh cao mỹ thuật của Phật giáo Việt Nam vào thế kỷ thứ 17. Đã nhiều lần, pho tượng đã được đem đi ra ngoại quốc để triển lãm. Hiện nay, pho tượng nầy đã được dùng làm tượng mẫu để điêu khắc hàng nghìn pho tượng lớn nhỏ khác nhau bởi nhiều điêu khắc gia tài ba lỗi lạc đã được thỉnh về tôn trí rất nhiều nơi trong nước cũng như rất nhiều chùa viện tại hải ngoại. (Hình trên là pho tượng Quan Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt (cao 3.60 mét) đang được tôn trí tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật, Hà Nội)
17/09/2010(Xem: 7118)
Tôn giả A Nan (Ananda) là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, người được mệnh danh là rất uyên thâm trong nhiều lĩnh vực và có trí nhớ siêu phàm (đa văn đệ nhất).
17/09/2010(Xem: 7457)
Muốn thành một vị Bồ Tát, Hành giả phải trải qua 50 ngôi vị tu tập và đạt đạo gọi là Bồ Tát Giai Vị. Bồ Tát Giai Vị nghĩa là ngôi vị thứ bậc của Bồ Tát. Theo Kinh Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp, 50 Ngôi vị tu tập của Bồ Tát gồm có: Thập Tín Vị, Thập Trụ Vị, Thập Hạnh Vị, Thập Hồi Hướng Vị và Thập Địa Vị.