Vài ý nghĩa biểu trưng trong Phật Giáo Bắc Truyền

21/09/202508:29(Xem: 1727)
Vài ý nghĩa biểu trưng trong Phật Giáo Bắc Truyền


Quan Am Bo Tat-10

VÀI Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG
TRONG PHẬT GIÁO BẮC TRUYỀN


Khi Phật giáo truyền đến phương Bắc, Trung Hoa là điểm quan trọng và chủ yếu của nhánh này. Sự phát triển của Phật giáo làm ảnh hưởng đến sự độc tôn của Nho – Lão, vì thế xảy ra những mâu thuẫn và xung đột không thể tránh được. Các pháp sư phải linh hoạt quyền biến phương tiện để hoằng hóa. Măc khác tín ngưỡng địa phương, văn hóa, nghệ thuật bản địa lại tác động đến Phật giáo. Các pháp sư phải linh hoạt chấp nhận sự giao thoa và cũng lợi dụng các yếu tố đó để dẫn dụ. Dần dà Phật giáo Bắc truyền mang màu sắc Trung Hoa rất đặc thù và khác biệt với dòng Nam truyền. Hai hình tượng rất đặc biệt trong Phật giáo Bắc truyền ấy chính là Quán Thế Âm Bồ Tát và Phật Di Lặc. Từ đây truyền rộng sang Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn…Mấy ngàn năm nay, hình tượng hai ngài phổ biến sâu rộng trong quần chúng, in sâu vào tâm thức mọi người…

Quán Thế Âm Bồ Tát là vị Bồ Tát phát mười hai đại nguyện độ chúng sanh, cứu khổ cứu nạn, căn cứ vào phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa. Ngài có năng lực không thể nghĩ bàn. Phật giáo Bắc truyền tạc tượng, vẽ tranh ngài dưới hình tướng một người nữ. Đây là ý nghĩa biểu trưng cho tình thương bao la vô bờ bến của người mẹ hiền đối với đàn con thơ dại. Việc kiến tạo hình tượng và tôn thờ hình tượng ngài Quán Thế Âm Bồ tát chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ mẫu từ văn hóa bản địa. Người Hoa tin tưởng và thờ Thiên y thánh mẫu, Thiên Hậu, Nương nương, mẫu Diêu Trì…Người Việt thờ mẫu Thượng Ngàn, mẫu Liễu Hạnh, mẫu Tứ phủ…Từ đó người Hoa tạo tượng, vẽ tranh Quan Âm tống tử, Quan Âm với Thiện Tài – Đồng Tử - Ngọc Nữ…Người Việt ta tạo tác Quan Âm thiên thủ thiên nhãn. Pho tượng Quan Âm thiên thủ cổ nhất hiện được thờ ở chùa Bút Tháp (Hà Bắc). Đây là một kiệt tác nghệ thuật của người Việt và là hình tượng Quan Âm phổ biến cùng với những hình tượng Quan Âm bạch y, Quan đứng trên đầu rồng, Quan Âm cầm canh dương rảy nước cam lộ…hầu như ai cũng biết, ai cũng tin tưởng và lễ bái.

Quan Âm thiên thủ thiên nhãn tượng trưng cho năng lực và từ bi của ngài. Ngàn con mắt là biểu trưng cho trí huệ vô biên không thể nghĩ bàn, là vô tri vô sở bất tri, không có gì mà không thể không biết. Ngàn cánh tay biểu trưng cho năng lực bất khả tư nghị của ngài, vô năng vô sở bất năng, không có gì là không thể không làm được! Mắt trí huệ quán sát nỗi thống khổ trầm luân trong ba ngả sáu đường của chúng sanh. Ngàn cánh tay ban vui cứu khổ, vớt chúng sanh đang chìm đắm trong bể khổ sanh tử luân hồi. Cành dương và cam lộ là Phật pháp, pháp là phương chước đưa người ra khỏi khổ, ra khỏi vô minh để đi đến an vui, niết bàn tịch tịnh. Ngàn mắt ngàn tay là ý nghĩa biểu trưng, thật ra thì vô lượng mắt, vô lượng tay vì chúng sanh vô lượng, nỗi thống khổ vô lượng kia mà. Ngoài hình tượng ngàn mắt ngàn tay ra còn có những hình tượng Quan Âm bốn tay, sáu tay, tám tay và mỗi tay cầm một loại pháp khí khác nhau… Tất cả đều là ý ngĩa biểu trưng.

Trong Phật giáo Mật tông, Quán Thế Âm Bồ Tát là vị bổn tôn rất quan trọng. Hình tượng ngai được tạc dưới nhiều kiểu: Mã Đầu Quan Âm, Thập nhất diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm…Không phải chỉ ở Việt nam mới có tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn. Phật giáo Trung Hoa, Tây Tạng đều có cả, mỗi dông truyền thừa có cách tạo tác khác nhau nhưng chung quy cũng đều tôn kính năng lực, trí huệ và lòng đại bi không thể nghĩ bàn của ngài.

Khi đọc tụng kinh Phổ Môn ta thấy yếu tố: Niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì dao gậy kẻ ác sẽ gãy, vào lửa không cháy, xuống nước không chìm, gặp ác thú không bị hại, bị thuốc độc được vô sự…Tất cả những điều ấy cũng là ý nghĩa biểu trưng. Khi mình đọc tụng kinh hay niệm danh hiệu Bồ Tát sẽ có công năng hóa giải tam độc: lòng tham tài, sắc, dục.. vô hạn của chúng ta; sự sân hận như lửa cháy, như thuốc độc… vô cùng nguy hiểm; sự si mê mê mờ như người quờ quạng trong đêm trường, trong đường hiểm nạn…mà không biết đâu chánh - tà…Những điều này vừa mang ý nghĩa biểu trưng vừa có yếu tố tín ngưỡng dân gian. Người dân dốc lòng tin vào thần thông quảng đại, cứ một lòng cầu nguyện sẽ được độ, sẽ được như ý…

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm là một phương pháp tu bằng tín tâm để định tâm, tịnh tâm. Là phương tiện để đưa người về với ngôi nhà Phật giáo, dẫn dụ người bỏ ác làm thiện, tu tập từng bước để đi đến giải thoát. Niệm bất cứ danh hiệu Bồ Tát hay danh hiệu Phật nào cũng đều hữu dụng, tuy nhiên vì căn cơ, vì nhân duyên, vì niềm tin, vì sở thích mà mọi người chọn lấy danh hiệu vị nào hợp với mình. Phật và Bồ Tát vốn vô ngã, không có Ta – người, không có phân biệt chẻ chia… chẻ chia ấy là chính chúng ta. Niệm danh hiệu Bồ Tát hay Phật chính là để buông bỏ, hóa giải tam độc để tịnh hóa tâm mình. Thay vì tâm mình chìm đắm trong tham, sân, si giờ mình niệm Phật hay Bồ Tát tức là thay cái niệm tam độc bằng niệm thanh tịnh. Niệm tức là nghĩ, nhớ, tưởng và từ đó hành theo.

Trong các kinh, Phật gọi Bồ Tát Quán Thế Âm là ông nhưng hình tượng của ngài ngoài đời là nữ nên nhiều người thắc mắc, Quán Thế Âm Bồ Tát là nam hay nữ? Phật và Bồ Tát vô tướng, chẳng còn nam hay nữ. Các ngài có thể hiện ra vô lượng tướng, tùy theo tâm niệm chúng sanh, tùy theo hoàn cảnh nhân duyên hóa độ. Kinh cũng nói rõ ngài Quán Âm có thể hiện ra thân Đế Thích, Thiên Vương, Tỳ Sa Môn, trưởng giả, cư sĩ, tể quan, thân đồng nam, đồng nữ, quỷ thần… thậm chí chiếc lá, âm thanh…Tâm chúng sanh thiên sai vạn biệt, căn tánh bất đồng vì vậy mà Phật và Bồ Tát vô tướng có thể hiện ra vô lượng tướng chứ không chỉ là tướng nam hay nữ.

Nhìn chung thì tạo hình nghệ thuật tranh, tượng Bồ Tát Quán Thế Âm đều thể hiện dáng dấp từ bi, ban vui cứu khổ, tự tại… với mọi tư thế: đứng, ngồi, chế phục rồng dữ, rảy cam lộ, thõng chân…đều là những đặc tính biểu trưng chung của các pho tượng Quán Thế Âm của các nền văn hóa Hoa, Nhật, Hàn, Việt. Riêng hình tượng ngai Quán Thế Âm của người Champa (Chiêm Thành) lại hoàn toàn khác, rất giống với hình tượng thần Vishnu và Shiva vì văn hóa Champa chịu ảnh hưởng nặng nề Ấn Độ giáo. Tượng Quán Thế Âm của Champa có tướng nam, mặc Dhoti ( một loại trang phục của tu sĩ cổ đại), đeo trang sức bắp tay, tóc búi, ngực trần, hở vai trái…Rất nhiều tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trong nền văn hóa Champa không chỉ chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo mà còn chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật tạo tác tượng Phật của Gandhara (Pakistan ngày nay). Nơi này mà một trong những địa điểm quan trọng của Phật giáo cổ đại và cũng là nơi giao thoa giữa văn minh Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại.

**

Trong kinh Di Lặc Hạ sanh, đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni có nói về sự ra đời của một vị Phật tương lai đó là ngài Di Lặc. Thời gian ngài đản sanh là một con số thiên văn, không thể nào dùng con số của người thế gian mà tính được. Đại khái là khi mà tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi và từ mười tuổi tăng lên đến 84.000 tuổi vậy, mà mỗi một 100 năm thì mới tăng hay giảm một tuổi. Còn có một cách xem xét khác là khi nào Phật pháp ở thế gian hoàn toàn biến mất thì khi ấy ngài Di Lặc mới hạ sanh, bởi vì không bao giờ có hai vị Phật giáo hóa cùng một thời gian. Tuy có khập khiễng nhưng ta có ví như nhiệm kỳ của tổng thống vậy, khi nào tổng thống cũ còn đương nhiệm thì không thể có tổng thống mới điều hành công việc.

Bồ Tát Di Lặc cũng là một hình tượng phổ biến sâu rộng và rất nổi tiếng trong Phật giáo Bắc truyền, nhất là ở Trung Hoa, Việt Nam. Bồ Tát Di Lặc còn được gọi với các danh xưng khác như: Hoan Hỷ Phật, Phật may mắn, Phật cười… Sở dĩ nhu vậy là vì hình tượng của ngài được tạc hay vẽ dưới tướng một người đàn ông mập mạp, ngồi phanh bụng, miệng cười toe toét. Bụng phệ to biểu trưng cho sự dung chứa. Người thế gian có vô số khổ đau, bất như ý đến độ không chịu đựng nổi nhưng ngài thì không sao cả. Miệng cười toe toét vì tâm rỗng rang an lạc, cười với tất cả những khổ đau mà chúng sanh không sao cười nổi, cười với vô số phiền não mà chúng sanh chịu không thấu.

Hình tượng ngài Di Lặc còn được tạc hay vẽ kèm theo sáu đứa trẻ đu bám trên thân, đứa thì móc mũi, ngoáy tai, chọc mắt, khều miệng, cù lét thân…Sáu đứa trẻ ấy tượng trưng cho sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu căn của ta chấp vào sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh ra sáu thức và từ đó vô số phiền não, hệ lụy làm chúng ta: sướng – khổ, hờn – mừng, vui – giận, thích – ghét, lấy – bỏ… Sáu đứa trẻ trên thân ngài chính là lục tặc, sáu tên giặc, sáu cánh cửa mở ra giải thoát hay sanh tử luân hồi. Kinh Lăng Nghiêm có đoạn viết mười phương chư Phật đồng thanh nói với ngài A Nan và đại chúng: “Điều khiến ông phải sanh tử luân hồi chính là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác. Khiến ông chứng vô thượng Bồ Đề cũng chính sáu căn của ông chứ chẳng phải vật gì khác”. Tu học Phật pháp chính là tu ở sáu căn của chính mình.

Thật ra thì trên hình tượng của ngài Di Lặc chúng ta chỉ thấy có 5 đứa trẻ thôi, đứa thứ 6 chúng ta không thể thấy, vì nó là biểu trưng cho ý căn. Ý căn vốn vô hình, vô tướng nên không thể vẽ hay tạc được. Phật giáo cũng như chính trị, văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ phật giáo, văn hóa, chính trị Trung Hoa. Vì vậy mà hình tượng ngài Di Lặc trong Phật giáo Việt Nam cũng từ Trung Hoa vậy.

Hình Tượng ngài Di Lặc trong Phật giáo Tây Tạng Hoàn toàn khác với Trung Hoa, Việt Nam. Hình tượng của ngài được tạc hoặc vẽ rất tôn nghiêm, dõng mãnh, tinh tấn y hệt như tôn tượng của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Hình tượng ngài Di Lặc trong Phật giáo Kim Cang thừa ngồi hoặc đứng đều thẳng lưng, tay bắt ấn, mắt mở to, ngực nở, tóc búi…Nói chung không khác mấy với hình tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Sự khác biệt này thể hiện quan điểm mỹ thuật, đặc điểm văn hóa và cách nhìn nhận vấn đề của các dân tộc khác nhau. Tâm chúng sanh vốn vô vàn sai biệt. Phật và Bồ Tát tùy tâm tánh, căn cơ của chúng sanh mà thị hiện là vậy!

Có một điều đáng chú ý là có những người Hoa, người Việt làm tượng tranh ngài Di Lặc để bán không biết là họ thiếu kiến thức hay cố tình nhập nhằng mà tạo ra những sản phẩm đánh đồng giữa ngài Di Lặc với ông thần may mắn. Những pho tượng cũng dáng dấp to béo, bụng phệ và những đứa trẻ đu bám nhưng lại thêm thoắt vô tay cầm xâu tiền hoặc thỏi vàng…Người bình dân và Phật tử sơ cơ mua về thờ cúng, khấn vái, cầu xin rất mơ hồ, chẳng phân biệt được đâu là ông thần may mắn đâu là Phật Di Lặc. Việc này đã biến một vị Phật tương lai, một vị Bồ Tát thành một ông thần may mắn, phò hộ việc mua bán, phát tài phát lộc…

Cũng có một số người thắc mắc về ngày vía của Phật A Di Đà, Quán Thế Âm, Di Lặc… Họ nói: “Phật và Bồ Tát vô ngã sao lại có ngày vía? ngày vía ở đâu?”. Thật ra đó cũng chỉ là biểu trưng mà thôi. Nói tánh không, bát nhã, vô tướng, vô ngã…thì làm sao đại chúng sơ cơ nắm bắt được. Ngày vía cũng là phương tiện, hơn nữa theo Phật giáo Bắc truyền thì ngày vía chính là ngày sinh của một vị tổ sư được cho là hóa thân của Phật hay Bồ Tát. Chẳng hạn như ngày vía Phật A Di Đà là ngày sinh của hòa thường Vĩnh Minh – Diên Thọ. Ngày vía của ngài Di lặc là ngày sinh của Bố Đại hòa thượng…Phật tử sơ cơ cần có một điểm để nắm bắt, cần có điểm tựa để tin tưởng mà thực hành… Chính vì thế mà các tổ sư mới dùng đến phương tiện thiện xảo để đưa Phật pháp đến với mọi người.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thanh, 0925



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/04/2020(Xem: 7386)
Hẳn ai trì tụng Chú Lăng Nghiêm mỗi sáng đều có tụng thêm thập chú mà Chuẩn Đè thần chú nằm vào vị trí thứ tư như sau : “Khế thủ quy-y Tô-tất-đế, Đầu diện đảnh lễ thất cu chi. Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn-Đề, Duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam-mô tát đa nẩm tam-miệu tam-bồ-đề,
24/03/2020(Xem: 6498)
Trước khi phân tích và đi sâu vào chủ đề "Lý tưởng của người bồ-tát", thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu xem Phật giáo là gì, có phải là một tôn giáo hay không? Chữ "tôn giáo" (religion) là một thuật ngữ của người Tây phương, xoay quanh ý niệm về một Vị Trời Sáng Tạo ra thế giới và cả con người. Do đó con người phải chấp thủ quy luật do vị Sáng Tạo an bài, và điều đó cũng có nghĩa là nếu muốn được "cứu rỗi" thì phải chấp hành các phán lệnh của Vị ấy. Dhamma - tiếng Phạn là Dharma - hay Đạo Pháp do Đức Phật đưa ra hoàn toàn ngược hẳn với ý niệm đó. Dhamma là cách hướng vào bên trong con người của mình để tìm hiểu các nguyên nhân quá khứ và cả trong hiện tại đưa đến sự hiện hữu của chúng ta ngay trong lúc này, và chính sự hiện hữu đó cũng luôn ở trong tình trạng chuyển động và đổi thay, bằng cách liên kết và tương tác với vô số các điều kiện khác trong thiên nhiên và vũ trụ. Tu tập Phật giáo là tìm hiểu các nguyên nhân nào đã tạo ra sự hiện hữu trói buộc đó của mình để hó
13/03/2020(Xem: 4482)
Kính lạy Đức Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Phước Đức nào con được chút thiện duyên Sức mọn tài hèn chưa thấu ngộ Uyên Nguyên , Nên Xưng tán Ngài ngữ ngôn không đạt Ý !
13/03/2020(Xem: 5499)
Hiệu Viên Thông, danh Quán Tự Tại Bồ Tát Chánh Pháp Minh Như Lai, Cổ Phật Ngài là Trụ Tây Phương Cực Lạc Phật A Di Đà Quảng phát hoằng thệ nguyện, Ta Bà thị hiện
11/03/2020(Xem: 7387)
Thơ viết giữa mùa dịch Covid-19 đang lây nhiễm hơn 100 quốc gia trên thế giới tính từ thời điểm tháng 3-2020… Đứng trước tai ương dịch bệnh đang hoành hành dữ dội này…Chúng ta, những người con Phật đồng nhất tâm tịnh niệm Bồ Tát Quán Thế Âm hướng về ngày 19 tháng 2 năm Canh Tý - 2020 với tất cả lời nguyện cầu thiết tha: NIỆM BỈ QUAN ÂM LỰC. Để chúng ta niệm danh hiệu: NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI CỨU KHỔ CỨU NẠN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Với giọt nước cam lồ trong bình tịnh thủy sẽ rưới lên khắp cõi UẾ TRƯỢT TA BÀ dập tắt tai ương dịch bệnh của muôn loài chúng sanh không còn lo âu sợ sệt nữa…
29/11/2019(Xem: 8129)
DẪN NHẬP Phật giáo có hai hệ là Theravada và Phát-Triển. Hệ Theravada quan niệm quả vị cao nhất mà hành giả có thể đạt được là quả vị A-La-Hán. Vì thế đường tu quan trọng của họ là A-La-Hán đạo. Khi đạt được quả vị này thì các ngài nhập Niết-Bàn. Khi còn thân, thì gọi là Hữu-Dư-Y-Niết-Bàn. Trong thời gian này các ngài đi giáo hoá chúng sanh. Khi bỏ thân, thì nhập Vô-Dư-Y-Niết-Bàn không tái sanh nữa.
24/10/2019(Xem: 10601)
Bài viết này để trả lời một câu hỏi: Làm thế nào để ngộ? Ngộ đây là ngộ tông chỉ Thiền, tức ngộ tông chỉ Phật. Người viết không dám trả lời minh bạch, vi bản thân tu và học đều chưa sâu, nơi đây chỉ trình bày qua nhiều kinh luận để giúp độc giả tham khảo.
29/09/2019(Xem: 41079)
Video: Hành Trình Khám Phá về Sự Thật Xá Lợi của Đức Phật (Rất hay, rất cảm động khi xem, quý vị nên tranh thủ vào xem liền, chân thành cảm ơn nhà văn, nhà khảo cô người Anh Charles Allen đã thực hiện cuốn phim tài liệu công phu và độc nhất vô nhị để tôn vinh và tìm ra sự thật về xá lợi của Đức Thế Tôn sau 26 thế kỷ, from Thích Nguyên Tạng, chủ biên trang nhà Quảng Đức)
31/08/2019(Xem: 5690)
Những bài giảng về Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát thì rất nhiều trong các trang mạng, nhưng khi thấy ghi: “Kinh Địa Tạng Vương là một loại kinh mê tín của Đại thừa giáo ...” thì con cũng mở xem trang
13/08/2019(Xem: 4544)
Sáng nay nhìn lên lịch bổng nhiên tôi mới thấy có sự trùng hợp giữa ngày vía của Đức Đại Thế Chí Bồ Tát 13/7 âm lịch và Lễ Vu Lan( rằm tháng 7 ) tại sao chỉ cách nhau hai ngày và đều nằm trong tháng bảy , lễ báo hiếu cha mẹ ? rồi lại tự cười thầm cho sự ví von ngớ ngẩn của mình sau đó tôi đã tự chữa thẹn bằng cách biện hộ với những điều mình học....