Vài ý nghĩa biểu trưng trong Phật Giáo Bắc Truyền

21/09/202508:29(Xem: 1730)
Vài ý nghĩa biểu trưng trong Phật Giáo Bắc Truyền


Quan Am Bo Tat-10

VÀI Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG
TRONG PHẬT GIÁO BẮC TRUYỀN


Khi Phật giáo truyền đến phương Bắc, Trung Hoa là điểm quan trọng và chủ yếu của nhánh này. Sự phát triển của Phật giáo làm ảnh hưởng đến sự độc tôn của Nho – Lão, vì thế xảy ra những mâu thuẫn và xung đột không thể tránh được. Các pháp sư phải linh hoạt quyền biến phương tiện để hoằng hóa. Măc khác tín ngưỡng địa phương, văn hóa, nghệ thuật bản địa lại tác động đến Phật giáo. Các pháp sư phải linh hoạt chấp nhận sự giao thoa và cũng lợi dụng các yếu tố đó để dẫn dụ. Dần dà Phật giáo Bắc truyền mang màu sắc Trung Hoa rất đặc thù và khác biệt với dòng Nam truyền. Hai hình tượng rất đặc biệt trong Phật giáo Bắc truyền ấy chính là Quán Thế Âm Bồ Tát và Phật Di Lặc. Từ đây truyền rộng sang Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn…Mấy ngàn năm nay, hình tượng hai ngài phổ biến sâu rộng trong quần chúng, in sâu vào tâm thức mọi người…

Quán Thế Âm Bồ Tát là vị Bồ Tát phát mười hai đại nguyện độ chúng sanh, cứu khổ cứu nạn, căn cứ vào phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa. Ngài có năng lực không thể nghĩ bàn. Phật giáo Bắc truyền tạc tượng, vẽ tranh ngài dưới hình tướng một người nữ. Đây là ý nghĩa biểu trưng cho tình thương bao la vô bờ bến của người mẹ hiền đối với đàn con thơ dại. Việc kiến tạo hình tượng và tôn thờ hình tượng ngài Quán Thế Âm Bồ tát chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ mẫu từ văn hóa bản địa. Người Hoa tin tưởng và thờ Thiên y thánh mẫu, Thiên Hậu, Nương nương, mẫu Diêu Trì…Người Việt thờ mẫu Thượng Ngàn, mẫu Liễu Hạnh, mẫu Tứ phủ…Từ đó người Hoa tạo tượng, vẽ tranh Quan Âm tống tử, Quan Âm với Thiện Tài – Đồng Tử - Ngọc Nữ…Người Việt ta tạo tác Quan Âm thiên thủ thiên nhãn. Pho tượng Quan Âm thiên thủ cổ nhất hiện được thờ ở chùa Bút Tháp (Hà Bắc). Đây là một kiệt tác nghệ thuật của người Việt và là hình tượng Quan Âm phổ biến cùng với những hình tượng Quan Âm bạch y, Quan đứng trên đầu rồng, Quan Âm cầm canh dương rảy nước cam lộ…hầu như ai cũng biết, ai cũng tin tưởng và lễ bái.

Quan Âm thiên thủ thiên nhãn tượng trưng cho năng lực và từ bi của ngài. Ngàn con mắt là biểu trưng cho trí huệ vô biên không thể nghĩ bàn, là vô tri vô sở bất tri, không có gì mà không thể không biết. Ngàn cánh tay biểu trưng cho năng lực bất khả tư nghị của ngài, vô năng vô sở bất năng, không có gì là không thể không làm được! Mắt trí huệ quán sát nỗi thống khổ trầm luân trong ba ngả sáu đường của chúng sanh. Ngàn cánh tay ban vui cứu khổ, vớt chúng sanh đang chìm đắm trong bể khổ sanh tử luân hồi. Cành dương và cam lộ là Phật pháp, pháp là phương chước đưa người ra khỏi khổ, ra khỏi vô minh để đi đến an vui, niết bàn tịch tịnh. Ngàn mắt ngàn tay là ý nghĩa biểu trưng, thật ra thì vô lượng mắt, vô lượng tay vì chúng sanh vô lượng, nỗi thống khổ vô lượng kia mà. Ngoài hình tượng ngàn mắt ngàn tay ra còn có những hình tượng Quan Âm bốn tay, sáu tay, tám tay và mỗi tay cầm một loại pháp khí khác nhau… Tất cả đều là ý ngĩa biểu trưng.

Trong Phật giáo Mật tông, Quán Thế Âm Bồ Tát là vị bổn tôn rất quan trọng. Hình tượng ngai được tạc dưới nhiều kiểu: Mã Đầu Quan Âm, Thập nhất diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm…Không phải chỉ ở Việt nam mới có tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn. Phật giáo Trung Hoa, Tây Tạng đều có cả, mỗi dông truyền thừa có cách tạo tác khác nhau nhưng chung quy cũng đều tôn kính năng lực, trí huệ và lòng đại bi không thể nghĩ bàn của ngài.

Khi đọc tụng kinh Phổ Môn ta thấy yếu tố: Niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì dao gậy kẻ ác sẽ gãy, vào lửa không cháy, xuống nước không chìm, gặp ác thú không bị hại, bị thuốc độc được vô sự…Tất cả những điều ấy cũng là ý nghĩa biểu trưng. Khi mình đọc tụng kinh hay niệm danh hiệu Bồ Tát sẽ có công năng hóa giải tam độc: lòng tham tài, sắc, dục.. vô hạn của chúng ta; sự sân hận như lửa cháy, như thuốc độc… vô cùng nguy hiểm; sự si mê mê mờ như người quờ quạng trong đêm trường, trong đường hiểm nạn…mà không biết đâu chánh - tà…Những điều này vừa mang ý nghĩa biểu trưng vừa có yếu tố tín ngưỡng dân gian. Người dân dốc lòng tin vào thần thông quảng đại, cứ một lòng cầu nguyện sẽ được độ, sẽ được như ý…

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm là một phương pháp tu bằng tín tâm để định tâm, tịnh tâm. Là phương tiện để đưa người về với ngôi nhà Phật giáo, dẫn dụ người bỏ ác làm thiện, tu tập từng bước để đi đến giải thoát. Niệm bất cứ danh hiệu Bồ Tát hay danh hiệu Phật nào cũng đều hữu dụng, tuy nhiên vì căn cơ, vì nhân duyên, vì niềm tin, vì sở thích mà mọi người chọn lấy danh hiệu vị nào hợp với mình. Phật và Bồ Tát vốn vô ngã, không có Ta – người, không có phân biệt chẻ chia… chẻ chia ấy là chính chúng ta. Niệm danh hiệu Bồ Tát hay Phật chính là để buông bỏ, hóa giải tam độc để tịnh hóa tâm mình. Thay vì tâm mình chìm đắm trong tham, sân, si giờ mình niệm Phật hay Bồ Tát tức là thay cái niệm tam độc bằng niệm thanh tịnh. Niệm tức là nghĩ, nhớ, tưởng và từ đó hành theo.

Trong các kinh, Phật gọi Bồ Tát Quán Thế Âm là ông nhưng hình tượng của ngài ngoài đời là nữ nên nhiều người thắc mắc, Quán Thế Âm Bồ Tát là nam hay nữ? Phật và Bồ Tát vô tướng, chẳng còn nam hay nữ. Các ngài có thể hiện ra vô lượng tướng, tùy theo tâm niệm chúng sanh, tùy theo hoàn cảnh nhân duyên hóa độ. Kinh cũng nói rõ ngài Quán Âm có thể hiện ra thân Đế Thích, Thiên Vương, Tỳ Sa Môn, trưởng giả, cư sĩ, tể quan, thân đồng nam, đồng nữ, quỷ thần… thậm chí chiếc lá, âm thanh…Tâm chúng sanh thiên sai vạn biệt, căn tánh bất đồng vì vậy mà Phật và Bồ Tát vô tướng có thể hiện ra vô lượng tướng chứ không chỉ là tướng nam hay nữ.

Nhìn chung thì tạo hình nghệ thuật tranh, tượng Bồ Tát Quán Thế Âm đều thể hiện dáng dấp từ bi, ban vui cứu khổ, tự tại… với mọi tư thế: đứng, ngồi, chế phục rồng dữ, rảy cam lộ, thõng chân…đều là những đặc tính biểu trưng chung của các pho tượng Quán Thế Âm của các nền văn hóa Hoa, Nhật, Hàn, Việt. Riêng hình tượng ngai Quán Thế Âm của người Champa (Chiêm Thành) lại hoàn toàn khác, rất giống với hình tượng thần Vishnu và Shiva vì văn hóa Champa chịu ảnh hưởng nặng nề Ấn Độ giáo. Tượng Quán Thế Âm của Champa có tướng nam, mặc Dhoti ( một loại trang phục của tu sĩ cổ đại), đeo trang sức bắp tay, tóc búi, ngực trần, hở vai trái…Rất nhiều tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trong nền văn hóa Champa không chỉ chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo mà còn chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật tạo tác tượng Phật của Gandhara (Pakistan ngày nay). Nơi này mà một trong những địa điểm quan trọng của Phật giáo cổ đại và cũng là nơi giao thoa giữa văn minh Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại.

**

Trong kinh Di Lặc Hạ sanh, đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni có nói về sự ra đời của một vị Phật tương lai đó là ngài Di Lặc. Thời gian ngài đản sanh là một con số thiên văn, không thể nào dùng con số của người thế gian mà tính được. Đại khái là khi mà tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi và từ mười tuổi tăng lên đến 84.000 tuổi vậy, mà mỗi một 100 năm thì mới tăng hay giảm một tuổi. Còn có một cách xem xét khác là khi nào Phật pháp ở thế gian hoàn toàn biến mất thì khi ấy ngài Di Lặc mới hạ sanh, bởi vì không bao giờ có hai vị Phật giáo hóa cùng một thời gian. Tuy có khập khiễng nhưng ta có ví như nhiệm kỳ của tổng thống vậy, khi nào tổng thống cũ còn đương nhiệm thì không thể có tổng thống mới điều hành công việc.

Bồ Tát Di Lặc cũng là một hình tượng phổ biến sâu rộng và rất nổi tiếng trong Phật giáo Bắc truyền, nhất là ở Trung Hoa, Việt Nam. Bồ Tát Di Lặc còn được gọi với các danh xưng khác như: Hoan Hỷ Phật, Phật may mắn, Phật cười… Sở dĩ nhu vậy là vì hình tượng của ngài được tạc hay vẽ dưới tướng một người đàn ông mập mạp, ngồi phanh bụng, miệng cười toe toét. Bụng phệ to biểu trưng cho sự dung chứa. Người thế gian có vô số khổ đau, bất như ý đến độ không chịu đựng nổi nhưng ngài thì không sao cả. Miệng cười toe toét vì tâm rỗng rang an lạc, cười với tất cả những khổ đau mà chúng sanh không sao cười nổi, cười với vô số phiền não mà chúng sanh chịu không thấu.

Hình tượng ngài Di Lặc còn được tạc hay vẽ kèm theo sáu đứa trẻ đu bám trên thân, đứa thì móc mũi, ngoáy tai, chọc mắt, khều miệng, cù lét thân…Sáu đứa trẻ ấy tượng trưng cho sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu căn của ta chấp vào sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh ra sáu thức và từ đó vô số phiền não, hệ lụy làm chúng ta: sướng – khổ, hờn – mừng, vui – giận, thích – ghét, lấy – bỏ… Sáu đứa trẻ trên thân ngài chính là lục tặc, sáu tên giặc, sáu cánh cửa mở ra giải thoát hay sanh tử luân hồi. Kinh Lăng Nghiêm có đoạn viết mười phương chư Phật đồng thanh nói với ngài A Nan và đại chúng: “Điều khiến ông phải sanh tử luân hồi chính là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác. Khiến ông chứng vô thượng Bồ Đề cũng chính sáu căn của ông chứ chẳng phải vật gì khác”. Tu học Phật pháp chính là tu ở sáu căn của chính mình.

Thật ra thì trên hình tượng của ngài Di Lặc chúng ta chỉ thấy có 5 đứa trẻ thôi, đứa thứ 6 chúng ta không thể thấy, vì nó là biểu trưng cho ý căn. Ý căn vốn vô hình, vô tướng nên không thể vẽ hay tạc được. Phật giáo cũng như chính trị, văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ phật giáo, văn hóa, chính trị Trung Hoa. Vì vậy mà hình tượng ngài Di Lặc trong Phật giáo Việt Nam cũng từ Trung Hoa vậy.

Hình Tượng ngài Di Lặc trong Phật giáo Tây Tạng Hoàn toàn khác với Trung Hoa, Việt Nam. Hình tượng của ngài được tạc hoặc vẽ rất tôn nghiêm, dõng mãnh, tinh tấn y hệt như tôn tượng của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Hình tượng ngài Di Lặc trong Phật giáo Kim Cang thừa ngồi hoặc đứng đều thẳng lưng, tay bắt ấn, mắt mở to, ngực nở, tóc búi…Nói chung không khác mấy với hình tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Sự khác biệt này thể hiện quan điểm mỹ thuật, đặc điểm văn hóa và cách nhìn nhận vấn đề của các dân tộc khác nhau. Tâm chúng sanh vốn vô vàn sai biệt. Phật và Bồ Tát tùy tâm tánh, căn cơ của chúng sanh mà thị hiện là vậy!

Có một điều đáng chú ý là có những người Hoa, người Việt làm tượng tranh ngài Di Lặc để bán không biết là họ thiếu kiến thức hay cố tình nhập nhằng mà tạo ra những sản phẩm đánh đồng giữa ngài Di Lặc với ông thần may mắn. Những pho tượng cũng dáng dấp to béo, bụng phệ và những đứa trẻ đu bám nhưng lại thêm thoắt vô tay cầm xâu tiền hoặc thỏi vàng…Người bình dân và Phật tử sơ cơ mua về thờ cúng, khấn vái, cầu xin rất mơ hồ, chẳng phân biệt được đâu là ông thần may mắn đâu là Phật Di Lặc. Việc này đã biến một vị Phật tương lai, một vị Bồ Tát thành một ông thần may mắn, phò hộ việc mua bán, phát tài phát lộc…

Cũng có một số người thắc mắc về ngày vía của Phật A Di Đà, Quán Thế Âm, Di Lặc… Họ nói: “Phật và Bồ Tát vô ngã sao lại có ngày vía? ngày vía ở đâu?”. Thật ra đó cũng chỉ là biểu trưng mà thôi. Nói tánh không, bát nhã, vô tướng, vô ngã…thì làm sao đại chúng sơ cơ nắm bắt được. Ngày vía cũng là phương tiện, hơn nữa theo Phật giáo Bắc truyền thì ngày vía chính là ngày sinh của một vị tổ sư được cho là hóa thân của Phật hay Bồ Tát. Chẳng hạn như ngày vía Phật A Di Đà là ngày sinh của hòa thường Vĩnh Minh – Diên Thọ. Ngày vía của ngài Di lặc là ngày sinh của Bố Đại hòa thượng…Phật tử sơ cơ cần có một điểm để nắm bắt, cần có điểm tựa để tin tưởng mà thực hành… Chính vì thế mà các tổ sư mới dùng đến phương tiện thiện xảo để đưa Phật pháp đến với mọi người.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thanh, 0925



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2022(Xem: 4674)
Thế Chí Đại sĩ, bình báu lung linh Thâu nhiếp niệm Phật thệ nguyện rộng thênh Biển cả bao la, hầu cận Di Đà Trừ mê cứu khổ thoát khỏi Ta Bà Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần).
15/07/2022(Xem: 4762)
Gần đây nhờ theo dõi thường xuyên các khoá An Cư Kiết Đông của Phật Giáo Đại thừa thường kiết giới bắt đầu từ rằm tháng tư và giải chế tự tứ vào rằm tháng 7 và một trong các thời khoá có nghi thức lạy Ngũ bách Danh Quan Thế Âm hoặc lạy mỗi chữ một lạy trong kinh Pháp Hoa mà cuối câu đều là Quán thế Âm thí dụ :
13/06/2022(Xem: 9549)
Lễ An Vị Bồ Tát Quan Âm Tam Diện Lộ Thiên tại A Di Đà Land, Taralga, NSW, Úc Châu (11/6/2022) MC: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên -Phật tử tề tựu -Cung thỉnh Chư Tôn Đức quang lâm -Giới thiệu chương trình, chư tôn đức và quý quan khách tham dự -Lời chào mừng của Đạo hữu Tony Thạch Quân Thật, pd: An Hậu -Lời đạo từ của Thượng Tọa chứng minh -Lễ tụng kinh sái tịnh an vị (TT Nguyên Tạng & NS Như Như) -Tặng quà và phát bằng tán dương công đức đến quý Phật tử đóng góp công quả cho A Di Đà land trong thời gian qua -Chụp hình lưu niệm -Thọ trai và hoàn mãn
16/04/2022(Xem: 4934)
Phật Mẫu Chuẩn Đề ngự trên đài sen Vầng hào quang ánh tỏa ra rực rỡ Phật, Pháp,Tuệ nhãn chiếu soi cứu độ Chúng sanh khỏi kiếp khổ nạn đau thương
23/03/2022(Xem: 4411)
Kính lạy Đức Bồ Tát biểu tượng cho đại hạnh thực tiễn Hình thành nội hàm tín ngưỡng tinh thần BI, TRÍ, NGUYỆN, HẠNH của Phật giáo Bắc Tông (1) Điểm đặc sắc ...Đại thừa tâm lượng rộng lớn !
20/03/2022(Xem: 4038)
Tâm Đại từ bi. Từ là năng lực đem lại an vui cho chúng sanh; Bi là năng lực dứt trừ khổ đau cho mọi loài. Từ bi có sức mạnh thể chất và tâm linh để dõng mãnh làm lợi lạc cho đời, như vậy trong từ bi đã bao hàm Trí tuệ và Hùng lực mới đủ uy đức nhiếp chúng độ sanh. Tâm Đại từ bi là tâm của bậc đã thành tựu đạo nghiệp. Nay phàm phu chúng con nghiệp dày phước mỏng nhưng cũng nguyện thực tập theo hạnh Từ bi của Bồ Tát. Nguyện cho tâm chúng con mỗi ngày một bớt giận ghét người, không sân si với hoàn cảnh mình đang sống và biết ơn với những gì mình đang có. Nguyện đem tất cả khả năng của mình để cống hiến niềm vui cho đời, giúp người bớt khổ. Nhờ vậy mà tâm chúng con ngày càng tỏa sáng tình thương yêu, hiểu biết để thể nhập vào nguồn sống dạt dào Từ Bi Hỷ Xả của chư Phật, chư Bồ Tát.
19/03/2022(Xem: 3817)
Bồ Tát có gốc là Bodhisattva. Từ Bodhi có nghĩa là " giác ngộ.", sattva có nghĩa là "chúng sanh". Bodhisattva được dịch là chúng sanh giác ngộ hoặc người giác ngộ. Sau khi đạt được giác ngộ, bằng từ bi và trí tuệ, vị Bồ Tát giúp mình và người khác vượt qua biển khổ đến bờ an lạc. An lạc chính là Niết Bàn. Trong cuộc sống hàng ngày, các vị Bồ Tát luôn có mặt quanh ta, gồm Bồ Tát xuất gia và Bồ Tát tại gia. Đó là những người bằng trí tuệ, công sức giúp mọi người bớt khổ đau trong thân và tâm. Bồ Tát làm được điều đó bởi trong tâm của Bồ Tát tồn tại một năng lượng gọi là Tâm Bồ Đề. Khi quy y Tam Bảo, ai cũng muốn có Tâm Bồ Đề. Để đạt được Tâm Bồ Đề của một vị Bồ Tát, người tu phải tự hỏi: Mình an lạc không? Mình sống chan hòa với những người xung quanh không? Người tu phải hiểu rõ cái tính Không trong cuộc sống. Hoa cũng là đất và đất cũng là hoa. Bởi khi ngộ được “Ngũ uẩn giai không” thì mới “ độ nhất thiết khổ ách” tức là vượt qua mọi khổ đau đến được bờ Niết Bàn.
01/11/2021(Xem: 9115)
Kính mừng Lễ Vía Đức Phật Dược Sư Đản Sinh 30/9 Nhân ngày lễ Đức Đông Phương Giáo Chủ cùng tìm hiểu niềm tin đối với Ngài và sự mầu nhiệm linh ứng đến với mỗi Phật Tử .... Cách đây 25 năm, lần đầu tiên sự linh ứng của Phật Dược Sư đã đến với tôi một cách bất ngờ mà sau này khi học Phật tôi mới hiểu là mình có được túc duyên mới có được một phương thuốc nhiệm mầu về tâm linh do Ngài ban tặng qua câu thần chú linh ứng như sau mà lúc ấy chưa có YouTube để nghe như bây giờ .... Thần chú Dược Sư là một trong những câu thần chú được trì tụng nhiều nhất bởi công năng bất khả tư nghì mà nó đem lại cho hành giả khi trì tụng. Không chỉ có năng lực chữa lành bệnh tự thân hành giả mà còn có công năng chữa bệnh cho người khác. Quan trọng hơn là khả năng tịnh hoá những nghiệp bất thiện trong
22/10/2021(Xem: 3978)
Kính mừng Lễ Vía Quán Thế Âm 19/9 Kính dâng Thầy bài thơ nhân ngày Lễ Vía Quán Thế Âm 19/9 âm lịch ( 24/10/2021) .Kính chúc sức khỏe Thầy Kính ngưỡng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát ... Một lần nữa, sự nhiệm mầu đã đến ! Melbourne vừa gỡ bỏ lockdown hai ngày Lễ vía Bồ Tát 19/9 sẽ cử hành ... hoan hỷ thay ! Mừng Ngài đã lắng nghe, giải cứu giúp thoát Khổ ! Sự là lòng từ bi nhân ái vị tha ...Bồ Tát Độ Lý thì chúng con tự cứu độ bản thân Bao dung, không tham đắm ái nhiễm bụi trần Bố thí, yêu thương người .. luôn giữ tâm ý sạch ! Kính nguyện : ... học ý nghĩa tên Ngài để làm tròn trọng trách, Người Phật Tử phải thể hiện được Từ Bi Nhẫn nhịn trước mọi nghịch duyên chớ khóc than chi Hiểu rõ hơn, lắng nghe hơn ... giải tỏa uẩn khúc ! Ngày Lễ Vía Quan Âm Xuất Gia 19/9 .. nguyện hứa biết tri túc ! Huệ Hương Melbourne 24/10/2021
06/09/2021(Xem: 5508)
Địa ngục là một khái niệm thuộc thế giới quan, nhằm mục đích trừng ác, răn dè hành vi của con người trong thế giới thực tại. Quan niệm về địa ngục được hình thành trên cơ sở thuyết luân hồi, luật nhân quả, thuyết báo ứng. Từ tư tưởng triết học, địa ngục được chuyển hóa thành nhiều loại hình nghệ thuật tôn giáo khác nhau, từ các dịch phẩm, khoa nghi, thơ phú, cho đến nghệ thuật tôn giáo, hội họa, bích họa, điêu khắc, phù điêu, đồ họa. Sự ảnh hưởng của kinh tạng Bắc truyền và nền nghệ thuật Phật giáo Đông Á là điều ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy. Từ triều đại Lê Thánh Tông (1442-1496) có bài “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn”, trong có đề cập đến thiên đường, địa ngục, Phong Đô, cảnh đói khát dưới chốn âm ty. Bài này dùng để răn dè 10 loại người gồm: thiền tăng, đạo sĩ, quan lại, Nho sĩ, thầy địa lý, thầy thuốc, tướng quân, hoa nương, thương nhân, đãng tử. Như vậy có thể hiểu được rằng dẫn có những tham khảo nhất định về địa ngục của Phật giáo. Bài này là để cúng xá tội vong li