Vô Thường Là Lẽ Thật

3/30/202607:53(View: 409)
Vô Thường Là Lẽ Thật

Phat thich ca (2)


VÔ THƯỜNG LÀ MỘT LẼ THẬT
Bài viết của NS Tâm Vân
do Phật tử Diệu Danh diễn đọc




Buổi sáng yên tĩnh, khi tiếng chuông chùa vang lên trong không gian, ta chợt dừng lại một chút và nhận ra rằng có một bài pháp rất lớn mà ta thường bỏ quên. Bài pháp đó không nằm trong kinh sách hay nơi giảng đường, mà chính là cuộc đời mà ta đang sống mỗi ngày, là từng hơi thở đang diễn ra ngay trong hiện tại.

Đức Phật dạy rằng toàn bộ hành trình sinh tử của con người gắn liền với khổ đau. Không ai trong chúng ta có thể đứng ngoài quy luật đó. Dù cuộc sống có những niềm vui, nhưng niềm vui ấy không kéo dài; những nỗi buồn cũng vậy, đến rồi đi. Những người ta gặp trong đời, dù thân hay sơ, đều mang đến cho ta những bài học. Nếu nhìn sâu, ta sẽ thấy tất cả đều là “Pháp” – là những điều giúp ta hiểu hơn về chính mình và về cuộc đời.

Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng nhận ra điều đó. Khi tâm còn rối loạn, ta chỉ thấy vui buồn, hơn thua, được mất. Chỉ khi tâm lắng lại, ta mới có thể nhận ra ý nghĩa sâu hơn phía sau mỗi trải nghiệm.

Có thể nói, cuộc đời chính là một bài pháp sống động nhất. Tu không phải là một điều gì tách rời cuộc sống, mà chính là cách ta sống mỗi ngày. Khi sống đúng, sống có chánh niệm, có hiểu biết, thì đó đã là tu. Và khi nhìn cuộc đời bằng con mắt tỉnh thức, ta sẽ thấy rằng cuộc đời chính là một đạo tràng rộng lớn, nơi mỗi hoàn cảnh đều có thể giúp ta trưởng thành.

Có những sự việc xảy ra trong đời khiến ta bừng tỉnh rất mạnh. Ví dụ như một người mẹ nhận tin con mình qua đời vì tai nạn. Trong khoảnh khắc đó, mọi thứ dường như sụp đổ. Người mẹ không còn kiểm soát được cảm xúc của mình, không còn là chính mình nữa. Những biến cố như vậy cho thấy rõ ràng rằng cuộc sống này rất mong manh, không có gì chắc chắn.

Từ đó, ta cần nhìn lại mục đích sống của mình. Nhiều người dành cả đời để theo đuổi danh tiếng, địa vị, tài sản. Những điều đó không sai, nhưng nếu xem đó là mục tiêu chính thì chưa đủ. Điều quan trọng hơn là nội tâm của ta có trưởng thành hay không, có trở nên tốt đẹp hơn hay không. Khi đối diện với cái chết, điều còn lại không phải là những gì ta sở hữu bên ngoài, mà là những gì ta đã nuôi dưỡng trong tâm.

Trong thực tế, ai cũng cần một cuộc sống ổn định, đầy đủ về vật chất. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ tồn tại trong phạm vi của đời này. Dù ta có tích lũy bao nhiêu đi nữa, khi hơi thở dừng lại, ta không thể mang theo bất cứ điều gì. Điều còn lại chính là những giá trị tinh thần, những hành động thiện lành mà ta đã tạo ra.

Cuộc đời con người nhìn thì dài, nhưng thực ra chỉ kéo dài vài chục năm. Tuy vậy, nó không phải là vô nghĩa. Nếu ta biết sống đúng, biết tu dưỡng, thì cuộc đời đó có giá trị rất lớn. Ý nghĩa của cuộc sống không nằm ở việc đạt được bao nhiêu thành tựu bên ngoài, mà là ở việc ta có thể chuyển hóa tâm mình đến mức nào.

Ngay từ nhỏ, chúng ta đã được dạy những điều căn bản như không nói dối, không làm hại người khác, không ích kỷ. Nhưng trong đạo Phật, điều quan trọng không phải là sợ bị quả báo, mà là hiểu rõ nhân quả và chủ động sống đúng. Khi ta sống có đạo đức, có từ bi, thì tự nhiên ta sẽ tạo ra những kết quả tốt đẹp.

Khi những suy nghĩ ích kỷ giảm xuống, ta sẽ thấy khổ đau cũng giảm theo. Nhiều khi cuộc sống không thay đổi nhiều, nhưng cách ta nhìn và phản ứng thay đổi, thì cảm nhận của ta cũng khác đi. Từ đó, cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn, bớt căng thẳng và bớt những xung đột không cần thiết.

Một điểm quan trọng khác là ta cần hiểu rõ về vô thường. Vô thường không phải là một khái niệm xa vời, mà là điều đang diễn ra từng ngày. Mỗi buổi sáng thức dậy, nếu ta còn thở, còn khỏe mạnh, còn nhìn thấy người thân, thì đó đã là một điều rất đáng quý. Nhưng vì quen thuộc, ta thường xem đó là chuyện đương nhiên.

Thực tế, không ai có thể chắc chắn rằng mình sẽ còn sống vào ngày mai. Mạng sống rất mong manh. Chỉ cần một sự cố nhỏ, một thay đổi bất ngờ, mọi thứ có thể chấm dứt. Nhìn như vậy không phải để bi quan, mà để ta sống có ý thức hơn.

Khi hiểu được vô thường, ta sẽ không trì hoãn những điều quan trọng. Ta sẽ biết trân trọng những người xung quanh hơn. Ta sẽ dễ dàng tha thứ hơn, vì biết rằng thời gian không chờ đợi. Ta cũng sẽ chú ý hơn đến việc tu tập, vì hiểu rằng cơ hội không phải lúc nào cũng có.

Trong các mối quan hệ, đặc biệt là với người thân, ta thường gặp nhiều khó khăn. Ta dễ giận người nhà hơn người ngoài, vì ta có kỳ vọng. Nhưng nếu nhìn theo nhân quả, ta sẽ thấy những mối quan hệ đó không phải ngẫu nhiên. Có thể đó là những duyên nghiệp từ trước, nay có cơ hội để giải quyết.

Nếu chỉ nhìn vào hành vi hiện tại, ta dễ sinh bực bội. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, ta sẽ thấy mỗi người đều đang mang theo những nghiệp riêng. Khi hiểu như vậy, ta sẽ dễ khởi tâm thông cảm hơn.

Người thân không phải lúc nào cũng mang lại niềm vui. Có khi họ chính là người khiến ta khó chịu nhất. Nhưng nếu biết nhìn lại, ta sẽ thấy chính những hoàn cảnh đó giúp ta học được sự nhẫn nhịn, sự bao dung và lòng từ bi. Nếu không có những thử thách đó, ta khó có cơ hội để rèn luyện.

Khổ đau trong cuộc sống cũng vậy. Khi gặp khó khăn, phản ứng tự nhiên của ta là muốn tránh né hoặc tìm cách giải quyết nhanh. Nhưng nếu dừng lại và quan sát, ta sẽ thấy mỗi khổ đau đều có nguyên nhân. Nếu không hiểu và không chuyển hóa, thì những vấn đề đó sẽ lặp lại.

Vì vậy, việc quán chiếu vô thường rất quan trọng. Không phải để sợ hãi, mà để tỉnh thức. Khi biết rằng mọi thứ đều thay đổi, ta sẽ bớt bám chấp. Khi bớt bám chấp, ta sẽ bớt khổ.

Đức Phật đã từ bỏ cuộc sống đầy đủ để đi tìm sự thật, bắt đầu từ việc nhìn thẳng vào sinh, già, bệnh, chết. Điều đó cho thấy vô thường là một sự thật mà không ai có thể tránh khỏi, dù là người bình thường hay người có địa vị cao.

Khi ta thực sự thấy rõ vô thường, cách sống của ta sẽ thay đổi. Ta sẽ sống cẩn trọng hơn, chân thành hơn và có trách nhiệm hơn với từng suy nghĩ, lời nói và hành động của mình.

Và khi tâm dần trở nên trong sáng, nhẹ nhàng, thì cuộc sống này, dù vẫn còn những biến động, cũng trở nên an ổn hơn rất nhiều.

Nam Mô A Di Đà Phật
Viết tại Tu Viện Quảng Đức 30/3/2026
Thích Nữ Tâm Vân


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
8/20/2018(View: 7006)
Đọc “Đường vào luận lý” (NYÀYAPRAVESA) của SANKARASVAMIN (Thương Yết La Chủ), Cầm quyển sách trên tay độ dày chỉ 290 trang khổ A5 được nhà xuất bản Hồng Đức tại Việt Nam in ấn và do Thư Viện Huệ Quang ở Sài Gòn phát hành, lại chính do Giáo Sư Lê Tự Hỷ ký tặng sách giá trị nầy cho chúng tôi vào ngày 14 tháng 7 năm 2018 nầy, nên tôi rất trân quý để cố gắng đọc, tìm hiểu cũng như nhận định về tác phẩm nầy.
8/15/2018(View: 12908)
Nếu chúng ta từ phương diện thư tịch nhìn về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam, cho thấy số lượng kinh sách trước tác hay dịch thuật của người Việtquá ư khiêm tốn,nội dung lại thiên về thiền họcmang đậm nét cách lý giải của người Hoa về Phật học Ấn Độ, như “Khóa Hư Lục”, “Thiền Uyển Tập Anh” (禪苑集英), “Thiền Tông Chỉ Nam”, “Thiền Tông Bản hạnh”…Điều đó minh chứng rằng, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu nặng cách lý giải Phật học của người Hoa. Nguyên nhân nào dẫn đến sự ảnh hưởng này, theo tôi ngoài yếu tố chính trị còn có yếu tố Phật giáo Việt Nam không có bộ Đại tạng kinh bằng Việt ngữ mang tính độc lập, để người Việt đọc hiểu, từ đó phải dựa vào sách của người Hoa, dẫn đến hiểu theo cách của người Hoa là điều không thể tránh. Nếu thế thìchúng ta nghĩ như thế nào về quan điểm độc lập của dân tộc?Tôi có cảm giác như chúng ta đang lúng túng thậm chí mâu thuẫngiữa một thực tại của Phật giáo và tư tưởng độc lập của dân tộc.
8/13/2018(View: 6085)
Nếu “lá sầu riêng„ chúng ta ví biểu tượng của sự hy sinh, kham nhẫn, nhịn nhục, chịu sầu khổ riêng mình không muốn hệ lụy đến ai, thì Lá Sầu...Chung, một giống lá mới trồng hôm nay phát sinh từ lòng nhỏ nhen, ích kỷ sẽ đem sầu khổ chung cho bao người. Đó là nội dung của vở bi kịch sau đây qua sự diễn xuất của hai mẹ con. Kính mời Quí vị thưởng thức. Đây, bi kịch “Lá Sầu Chung„ bắt đầu.
8/11/2018(View: 20037)
Bà hiện còn khỏe, minh mẫn, sống ở Nha Trang. Bà thành hôn với nhà văn B.Đ. Ái Mỹ 1940, cuộc tình sau 47 năm (tức năm phu quân mất 1987), bà sinh hạ 14 người con: 7 trai, 7 gái. Tất cả 14 người con của bà đều say mê âm nhạc, thích hát và hát hay, nhất là người con thứ ba - Qui Hồng. Hơn ½ trong số này cầm bút, làm thơ, viết văn, vẽ, điêu khắc và dịch thuật. Người có trang viết nhiều nhất là người con thứ 10: Nhà văn Vĩnh Hảo, với 13 đầu sách đã phổ biến… Bà là nữ sĩ nổi tiếng không những về thơ ca mà còn cả thanh sắc, thêm vào tính tình hiền diu, đằm thắm nên được văn thi hữu thời bấy giờ quí trọng. Bà là nữ sĩ nổi danh từ thập niên 30 vế cả ba mặt Tài, Sắc và Đức.
8/9/2018(View: 13084)
Nghĩ Về Mẹ - Nhà Văn Võ Hồng, Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ. Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Tựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả. Mẹ bảo Vương: "Nhữ chiêu xuất nhi vãng lai" mày sáng đi mà chiều về, "tắc ngô ỷ môn nhi vọng" thì ta tựa cửa mà trông. "Mộ xuất nhi bất hoàn" chiều đi mà không về, "tắc ngô ỷ lư nhi vọng" thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.
8/9/2018(View: 9529)
sáng hôm nay, chúng tôi vào lớp đựơc nửa giờ thì đoàn Thanh niên Phật Tử kéo đến đóng cọc chăng dây chiếm nửa sân trường. Tiếp tới, họ chia nhau căng lều đóng trại. Tôi thì thầm hỏi Nhung: --Không nghỉ lễ mà sao họ cắm trại? Nhung che miệng - sợ thầy ngó thấy - nói nhỏ: --Ngày rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan. Tôi mừng quá: ngày mai được nghỉ lễ.
8/6/2018(View: 11113)
Miền đất võ Bình Định cũng là miền đất Phật, miến “Đất LànhChim Đậu”, được nhiềuchư thiền Tổ ghé bước hoằng hóa và chư tôn thiền đức bản địa xây dựng mạnh mạch Phật đạo từ trong sâu thẳm, qua nhiểu giai đọan, thời gian, đã xây dựng nên hình ảnh Phật giáo Bình Định rạng rở như ngày hôm nay. Đặc biệt trước tiên có thể kề đến Tổ Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 ), Hòa thượng Thích Phước Huệ ( 1875 – 1963 ), Hòa Thượng Bích Liên-Trí Hải ( 1876 – 1950 ), v…v…Nêu chúng ta tính từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần ( 1619 – 1682 ), khi Tổ Nguyên Thiều từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang An Nam và an trú ở Quy Ninh (tức Bình Định ngày nay) vào năm Ất Tỵ (1665 ) và kiến tạo chùa Thập Tháp Di Đà , thí Phật giáo Bình Định đã thực sự bước vào trang sử chung trong công cuộc hoằng hóa của Phật giáo Việt Nam. Hơn thế nữa, Tổ Nguyên Thiều còn là cầu nối giữa Phật giáo hai nước An Nam và Trung Hoa, trao đổi nhiều kinh điền có giá trị để cùng nhau tu học. Điều này cho thấy, lý tưởng Từ Bi và con đường hoằng
8/5/2018(View: 5207)
Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà đã mấy chục năm theo bốn mùa thay lá thay hoa và đời riêng của mỗi người có quá nhiều đổi thay. Ngồi nhớ lại những kỷ niệm thời còn đi dạy trường Sương Nguyệt Anh, biết bao nhiêu vui buồn lẫn lộn ngập tràn làm xao xuyến cả tâm tư! Hình ảnh buổi lễ bế giảng năm học 1978 bỗng rõ lên trong ký ức tôi như một đóm lửa nhóm trong vườn khuya. Năm đó tôi dạy tới ba bốn lớp 12, lớp thi nên cả Thầy trò mệt nhoài. Không đủ giờ ở lớp nên nhiều khi tôi phải vừa dạy thêm vào sáng Chủ Nhật, vậy mà các em vẫn đi học đầy đủ. Tới ngày bế giảng Cô trò mới tạm hoàn tất chương trình, như trút được gánh nặng ngàn cân ! Hôm đó, tôi lại được Ban Giám Hiệu phân công trông coi trật tự lớp 12C1, có nghĩa là phải quan sát bắt các em ngồi ở sân trường phải yên lặng chăm chú theo dõi chương trình buổi lễ, nghe huấn từ của ban Giám Hiệu.
8/3/2018(View: 5871)
ĐA TẠ VÀ TRI ÂN Những nhà dịch thuật kinh sách Nam Tông, Bắc Tông và Mật Tông Không hiểu từ bao giờ khi đã bước vào thế giới triết học, khoa học và tôn giáo của Đạo Phật, mặc dù nghe rất nhiều pháp thoại đủ mọi trình độ tôi vẫn không tin có THỜI MẠT PHÁP. Vì sao vậy? Có lẽ lý do tôi biện minh sẽ không được nhiều người chấp nhận, nhưng theo thiển ý của tôi, từ khi nền công nghệ văn minh vi tính hiện đại phát triển, ta không cần chờ đợi một quyển sách được in ra và chờ đợi có phương tiện thích nghi để giữ nó trong tủ sách gia đình, ta vẫn có thể theo dõi qua mạng những bài kinh luật luận được dịch từ tiếng Pali hay Sankrit hoặc những bản Anh Ngữ, Pháp ngữ mà người đọc dù có trình độ học vấn vào mức trung trung vẫn không tài nào hiểu rõ từng lời của bản gốc.
8/3/2018(View: 22441)
Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 – từ trần ngày 11 tháng 11 năm 1940 là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên – Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của