Kịch bi: Lá Sầu...Chung

13/08/201821:22(Xem: 6168)
Kịch bi: Lá Sầu...Chung
hoa hong
Kịch bi: Lá Sầu...Chung
Trần Thị Nhật Hưng
 

Hai màn:
Diễn viên: Hai mẹ con
 

Lời giới thiệu:

 

Kính thưa Quí vị.

   Nếu “lá sầu riêng„ chúng ta ví biểu tượng của sự hy sinh, kham nhẫn, nhịn nhục, chịu sầu khổ riêng mình không muốn hệ lụy đến ai, thì Lá Sầu...Chung, một giống lá mới trồng hôm nay phát sinh từ lòng nhỏ nhen, ích kỷ sẽ đem sầu khổ chung cho bao người. Đó là nội dung của vở bi kịch sau đây qua sự diễn xuất của hai mẹ con. Kính mời Quí vị thưởng thức.

Đây, bi kịch “Lá Sầu Chung„ bắt đầu.

 

*Màn 1: Trong vườn chùa

(Nhạc đệm nho nhỏ bài “Lòng mẹ”)

 

Con (lửng thửng trên sân chùa): Hôm nay là Vu Lan.Trên thế gian này bao chùa đang tưng bừng làm lễ báo hiếu mẹ, vinh danh mẹ, tưởng nhớ mẹ; là cơ hội đền đáp ơn sinh thành dưỡng dục mẹ hiện tiền và cả ngay khi mẹ đã khuất.

  Cửa chùa mở rộng chào đón mọi người làm lễ cài hoa. Hoa màu hồng sẽ được cài lên áo người may mắn còn mẹ. Hoa trắng dành cho kẻ mẹ đã khuất núi.

  Riêng tôi, tôi cài hoa gì đây, có hân hạnh được cài hoa không nữa dù là hoa trắng? Đó là câu hỏi mà từ nhiều năm rồi, kể từ khi tôi mới lọt lòng cho đến bây giờ, tôi luôn thắc mắc.    

   Cũng như bao người, lẽ đương nhiên, tôi cũng được sanh ra từ một người mẹ, nhưng mẹ tôi đã nhẫn tâm bỏ rơi tôi trước cổng chùa khi tôi mới lọt lòng còn bế ngữa. Số phận tôi như vậy đó.

  Tôi mất mẹ, không có mẹ giữa khi mẹ tôi đang còn sống. Mẹ từ bỏ tôi, chứ tôi không bỏ mẹ.

   Hôm nay, sau mấy chục năm trời, mẹ mới tìm đến tôi, chịu nhìn tôi, khi tôi đã quen rồi cuộc sống của một đứa trẻ mồ côi.

   Bà tìm tôi để làm gì chứ?!

Mẹ (xuất hiện): Hồng, con. Mẹ tìm con để tỏ lòng sám hối và muốn nói với con hai chữ “xin lỗi”! Cầu mong con... tha thứ cho mẹ!

Con: Chào...bà!

Mẹ: Mẹ chào con!

Con: Bà à, vừa rồi tôi nghe bà nói đến hai chữ “xin lỗi và tha thứ”. Chỉ hai chữ…xin lỗi thôi sao. Chỉ hai chữ…tha thứ thôi sao, để tôi và bà nhìn nhau là mẹ con?!

Mẹ: Đúng vậy. Bao năm qua, mẹ ray rứt lắm con ơi. Con hãy…từ bi tha thứ cho mẹ.

Con: Từ bi?! Bà kêu gọi lòng từ bi nơi tôi à?! Tôi xin hỏi bà. Vậy thì mấy chục năm về trước sao bà không đánh thức lòng từ bi nơi bà để nuôi nấng tôi, một đứa bé còn đỏ hỏn mới lọt lòng rất cần tình thương nơi bà, cần vòng tay ấm áp của mẹ! Bà bỏ rơi tôi một cách tàn nhẫn như vậy trước cổng chùa, khi tôi đang khát sữa, tôi cất tiếng khóc gọi bà, gọi lòng từ bi nơi bà, mà bà có nghe đâu.

Mẹ: Con ơi. Con không hiểu được lòng mẹ lúc đó. Mẹ đứt từng khúc ruột, khi phải hành động như vậy, bởi vì…mẹ thương mẹ của mẹ tức bà ngoại của con đó và bao người trong gia đình để giữ ...danh dự cho gia tộc.

    Con biết không, lúc đó mẹ còn trẻ người non dạ, chịu áp lực của bao người, mẹ đành đoạn làm những điều mà lòng mẹ không muốn. Cha con đã tử trận khi mẹ đang mang thai con. Cuộc tình vụng trộm lỡ làng ấy, đã để lại trong mẹ, chính là con đó.

Con: Danh dự à?! Danh dự của bà và danh dự của gia tộc à.Tất cả mọi người đem sinh mạng bé nhỏ của một trẻ sơ sinh để đánh đổi danh dự của gia tộc. (hét) Ích kỷ như vậy sao? Tàn nhẫn như vậy sao?!

Mẹ: Bây giờ mẹ nói gì con cũng không hiểu được nỗi lòng mẹ. Con chỉ biết là...bao năm qua, mẹ sống âm thầm trong cắn rứt, trong đau khổ, khi nhìn thấy con sờ sờ trước mắt mà không dám nhìn con. Cho đến bây giờ, khi có cơ hội thuận tiện, ông bà ngoại đã qui tiên, chồng mới của mẹ cũng qua đời, mẹ mới được quyền tìm đến con với lòng sám hối vô vàn của mẹ.

Con: Bà cũng biết đau khổ sao? Nhưng nỗi đau khổ của bà có bằng nỗi đau khổ của tôi không?

   Khi tôi khát sữa, bà biết không, tôi đã phải mút tay để thay vú mẹ. Đêm đêm tôi khóc vì cần hơi ấm của mẹ. Lúc đó bà ở đâu? Bà đang trên giường êm nệm ấm với người chồng mới.

   Rồi khi tôi vừa lớn chập chững vô trường học, nhìn các bạn có mẹ, có cha đưa đón mỗi lúc tan trường, tôi cứ thắc mắc, mẹ tôi đâu, cha tôi đâu?!

   Chúng bạn thì vô tình đùa cợt trên nỗi đau của tôi, rằng tôi là đứa trẻ mồ côi ăn cơm thí của nhà chùa. Chúng cười trên sự bất hạnh của tôi. Chúng hà hiếp tôi, mà có ai binh vực tôi đâu? Lúc đó, bà biết tôi buồn lắm không, tôi đau lắm không. Tôi chỉ lặng lẽ đứng khóc, về nhà bỏ ăn, bỏ uống, được sư bà dỗ dành rằng, tôi cũng có mẹ, mẹ chính là sư bà đó.

   Bây giờ lớn lên tôi hiểu rõ tất cả và chỉ biết ngậm ngùi thương cho số phận của mình thôi.

Mẹ: Bây giờ con nói sao cũng được. Con cứ mắng mẹ đi, nguyền rủa mẹ đi để lòng con thanh thản, vơi đi bao uất ức bấy lâu. Nhưng sau đó, mẹ cầu xin con hãy tha thứ cho mẹ. Con có tha thứ cho mẹ, và nhìn mẹ, …mẹ mới an lòng ngậm cười nơi chín suối (húc hắc ho). Mẹ già rồi và đang vướng bịnh ung thư, con ạ !

Con: Thôi, bà đừng nói nữa. Bà hãy về đi. Nhân đây, tôi cũng xin cám ơn bà, hồi đó còn có chút lương tri bỏ tôi nơi cửa chùa. Chứ không quá ác độc nhẫn tâm ném tôi vào sọt rác, ống cống hay gốc cây nào đó để cho kiến bu, ruồi đậu. Cám ơn bà, cám ơn bà nhiều lắm, để tôi còn có hình hài ngày hôm nay. Thôi, bà về đi,..bà về đi. Tôi không muốn thấy mặt bà! (nói xong, òa khóc, chạy vào trong).

Mẹ (vói theo): Con, con, con của mẹ...!

 

*Màn 2 : Tại nhà người mẹ

(Nhạc đệm nho nhỏ bài “Lòng mẹ”)

 

(Mẹ đang nằm trên giường bịnh húng hắng ho. Con chạy đến quì bên giường).

Con: Mẹ,… mẹ ơi,… con đến thăm mẹ nè. Mẹ tỉnh dậy đi, mẹ. Sư bà đã cho con hay mẹ đang hấp hối. Con đến với mẹ đây. Mẹ tỉnh dậy đi, mẹ. Con đây nè, mẹ. (lắc đầu): Mẹ tôi không dậy được nữa rồi. Mẹ…ơi!

   (Tỉ tê): Mẹ ơi, con hối hận lắm mẹ ơi. Là Phật tử mà con đã quên lời Phật dạy. Con cố chấp, thiếu lòng từ bi hỉ xả để mẹ con ta đau khổ triền miên như thế này.

   Mẹ ơi, nếu…lá sầu riêng được biểu tượng của hạnh kham nhẫn, nhịn nhục, thì lá sầu…chung xuất phát từ lòng oán hận, vị kỷ, nhỏ nhen của con, chỉ mang đau khổ cho nhau thôi.

  Nay con biết sám hối rồi mẹ, con tìm đến mẹ thì mẹ lại bỏ con đi.

Mẹ (húng hắng ho, chồm dậy): Con, Hồng đó hả con.

Con: Dạ,... con đây,… con đây.

Mẹ (thều thào): Hồng…ơi. Con, con của mẹ.

Con: Dạ, con đây, con đây.

Mẹ: Con ơi. Trong giờ phút này, trong cơn mê mệt này, mẹ được nghe tiếng con gọi  “mẹ”, là mẹ vui sướng lắm rồi. Coi như con đã tha thứ cho mẹ. Mẹ có nhắm mắt, cũng an lòng nơi chín suối.

Con: Mẹ, mẹ ơi. Mẹ đừng nói như vậy. Mẹ hãy tỉnh dậy đi mẹ, mẹ hãy sống đời với con. Con biết lỗi của mình rồi. Con ân hận lắm, mẹ ơi.

Mẹ: Con ngoan của mẹ. Mẹ rất tiếc, khi mẹ con ta tìm đến nhau thì sức mẹ đã không còn. Mẹ muốn bù đắp những chuỗi ngày còn lại cho con. Đền bù cho con tất cả. Nhưng không được nữa rồi. Mẹ mệt lắm, mẹ mệt lắm con ơi. Con,..con... ở…lại…mạnh …giỏi…(Nói xong, suôi tay nhắm mắt)

Con: Mẹ, mẹ ơi, sao mẹ lại bỏ con…! Mẹ ơi…!

Màn hạ

Trần Thị Nhật Hưng

Vu Lan 2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/08/2018(Xem: 5740)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ. Tuần trước, rừng ở quận hạt lân cận bị cháy suốt mấy ngày khiến bầu trời mù mịt khói đen, nắng không xuyên qua được, chỉ ửng lên cả một vùng trời màu vàng nghệ lạ thường. Nay thì trời trong không một gợn mây. Bầy quạ đen lại tranh nhau miếng mồi nào đó, kêu quang quác đầu hè. Rồi im. Bầy chim sẻ đi đâu mất dạng gần một tháng hè gay gắt nắng. Bất chợt, có con bướm cánh nâu lạc vào khu vườn nhỏ. Và gió từ đâu rung nhẹ những nhánh ngọc lan đang lác đác khai hoa, thoảng đưa hương ngát hiên nhà. Phép lạ đã đến. Gió đầu thu.
20/08/2018(Xem: 7071)
Đọc “Đường vào luận lý” (NYÀYAPRAVESA) của SANKARASVAMIN (Thương Yết La Chủ), Cầm quyển sách trên tay độ dày chỉ 290 trang khổ A5 được nhà xuất bản Hồng Đức tại Việt Nam in ấn và do Thư Viện Huệ Quang ở Sài Gòn phát hành, lại chính do Giáo Sư Lê Tự Hỷ ký tặng sách giá trị nầy cho chúng tôi vào ngày 14 tháng 7 năm 2018 nầy, nên tôi rất trân quý để cố gắng đọc, tìm hiểu cũng như nhận định về tác phẩm nầy.
15/08/2018(Xem: 12967)
Nếu chúng ta từ phương diện thư tịch nhìn về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam, cho thấy số lượng kinh sách trước tác hay dịch thuật của người Việtquá ư khiêm tốn,nội dung lại thiên về thiền họcmang đậm nét cách lý giải của người Hoa về Phật học Ấn Độ, như “Khóa Hư Lục”, “Thiền Uyển Tập Anh” (禪苑集英), “Thiền Tông Chỉ Nam”, “Thiền Tông Bản hạnh”…Điều đó minh chứng rằng, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu nặng cách lý giải Phật học của người Hoa. Nguyên nhân nào dẫn đến sự ảnh hưởng này, theo tôi ngoài yếu tố chính trị còn có yếu tố Phật giáo Việt Nam không có bộ Đại tạng kinh bằng Việt ngữ mang tính độc lập, để người Việt đọc hiểu, từ đó phải dựa vào sách của người Hoa, dẫn đến hiểu theo cách của người Hoa là điều không thể tránh. Nếu thế thìchúng ta nghĩ như thế nào về quan điểm độc lập của dân tộc?Tôi có cảm giác như chúng ta đang lúng túng thậm chí mâu thuẫngiữa một thực tại của Phật giáo và tư tưởng độc lập của dân tộc.
11/08/2018(Xem: 20092)
Bà hiện còn khỏe, minh mẫn, sống ở Nha Trang. Bà thành hôn với nhà văn B.Đ. Ái Mỹ 1940, cuộc tình sau 47 năm (tức năm phu quân mất 1987), bà sinh hạ 14 người con: 7 trai, 7 gái. Tất cả 14 người con của bà đều say mê âm nhạc, thích hát và hát hay, nhất là người con thứ ba - Qui Hồng. Hơn ½ trong số này cầm bút, làm thơ, viết văn, vẽ, điêu khắc và dịch thuật. Người có trang viết nhiều nhất là người con thứ 10: Nhà văn Vĩnh Hảo, với 13 đầu sách đã phổ biến… Bà là nữ sĩ nổi tiếng không những về thơ ca mà còn cả thanh sắc, thêm vào tính tình hiền diu, đằm thắm nên được văn thi hữu thời bấy giờ quí trọng. Bà là nữ sĩ nổi danh từ thập niên 30 vế cả ba mặt Tài, Sắc và Đức.
09/08/2018(Xem: 13103)
Nghĩ Về Mẹ - Nhà Văn Võ Hồng, Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ. Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Tựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả. Mẹ bảo Vương: "Nhữ chiêu xuất nhi vãng lai" mày sáng đi mà chiều về, "tắc ngô ỷ môn nhi vọng" thì ta tựa cửa mà trông. "Mộ xuất nhi bất hoàn" chiều đi mà không về, "tắc ngô ỷ lư nhi vọng" thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.
09/08/2018(Xem: 9621)
sáng hôm nay, chúng tôi vào lớp đựơc nửa giờ thì đoàn Thanh niên Phật Tử kéo đến đóng cọc chăng dây chiếm nửa sân trường. Tiếp tới, họ chia nhau căng lều đóng trại. Tôi thì thầm hỏi Nhung: --Không nghỉ lễ mà sao họ cắm trại? Nhung che miệng - sợ thầy ngó thấy - nói nhỏ: --Ngày rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan. Tôi mừng quá: ngày mai được nghỉ lễ.
06/08/2018(Xem: 11138)
Miền đất võ Bình Định cũng là miền đất Phật, miến “Đất LànhChim Đậu”, được nhiềuchư thiền Tổ ghé bước hoằng hóa và chư tôn thiền đức bản địa xây dựng mạnh mạch Phật đạo từ trong sâu thẳm, qua nhiểu giai đọan, thời gian, đã xây dựng nên hình ảnh Phật giáo Bình Định rạng rở như ngày hôm nay. Đặc biệt trước tiên có thể kề đến Tổ Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 ), Hòa thượng Thích Phước Huệ ( 1875 – 1963 ), Hòa Thượng Bích Liên-Trí Hải ( 1876 – 1950 ), v…v…Nêu chúng ta tính từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần ( 1619 – 1682 ), khi Tổ Nguyên Thiều từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang An Nam và an trú ở Quy Ninh (tức Bình Định ngày nay) vào năm Ất Tỵ (1665 ) và kiến tạo chùa Thập Tháp Di Đà , thí Phật giáo Bình Định đã thực sự bước vào trang sử chung trong công cuộc hoằng hóa của Phật giáo Việt Nam. Hơn thế nữa, Tổ Nguyên Thiều còn là cầu nối giữa Phật giáo hai nước An Nam và Trung Hoa, trao đổi nhiều kinh điền có giá trị để cùng nhau tu học. Điều này cho thấy, lý tưởng Từ Bi và con đường hoằng
05/08/2018(Xem: 5210)
Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà đã mấy chục năm theo bốn mùa thay lá thay hoa và đời riêng của mỗi người có quá nhiều đổi thay. Ngồi nhớ lại những kỷ niệm thời còn đi dạy trường Sương Nguyệt Anh, biết bao nhiêu vui buồn lẫn lộn ngập tràn làm xao xuyến cả tâm tư! Hình ảnh buổi lễ bế giảng năm học 1978 bỗng rõ lên trong ký ức tôi như một đóm lửa nhóm trong vườn khuya. Năm đó tôi dạy tới ba bốn lớp 12, lớp thi nên cả Thầy trò mệt nhoài. Không đủ giờ ở lớp nên nhiều khi tôi phải vừa dạy thêm vào sáng Chủ Nhật, vậy mà các em vẫn đi học đầy đủ. Tới ngày bế giảng Cô trò mới tạm hoàn tất chương trình, như trút được gánh nặng ngàn cân ! Hôm đó, tôi lại được Ban Giám Hiệu phân công trông coi trật tự lớp 12C1, có nghĩa là phải quan sát bắt các em ngồi ở sân trường phải yên lặng chăm chú theo dõi chương trình buổi lễ, nghe huấn từ của ban Giám Hiệu.
03/08/2018(Xem: 5876)
ĐA TẠ VÀ TRI ÂN Những nhà dịch thuật kinh sách Nam Tông, Bắc Tông và Mật Tông Không hiểu từ bao giờ khi đã bước vào thế giới triết học, khoa học và tôn giáo của Đạo Phật, mặc dù nghe rất nhiều pháp thoại đủ mọi trình độ tôi vẫn không tin có THỜI MẠT PHÁP. Vì sao vậy? Có lẽ lý do tôi biện minh sẽ không được nhiều người chấp nhận, nhưng theo thiển ý của tôi, từ khi nền công nghệ văn minh vi tính hiện đại phát triển, ta không cần chờ đợi một quyển sách được in ra và chờ đợi có phương tiện thích nghi để giữ nó trong tủ sách gia đình, ta vẫn có thể theo dõi qua mạng những bài kinh luật luận được dịch từ tiếng Pali hay Sankrit hoặc những bản Anh Ngữ, Pháp ngữ mà người đọc dù có trình độ học vấn vào mức trung trung vẫn không tài nào hiểu rõ từng lời của bản gốc.
03/08/2018(Xem: 22830)
Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 – từ trần ngày 11 tháng 11 năm 1940 là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên – Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của