Diện Kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma

19/10/202508:11(Xem: 3826)
Diện Kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma

tam nhien-1


Hôm nay, 14. 10. 2025 là đúng một năm, sau ngày gặp đức Đạt Lai Lạt Ma (14. 10. 2024) tại Dharamsala, trên tuyệt đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, Ấn Độ.
Bữa đó, có Trúc Giang, Quang Vũ, Vũ Minh, Miên Di cùng đi.
Một chuyến đi quá tuyệt. Xin đăng lại kỷ niệm đáng nhớ này.

DIỆN KIẾN ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Buổi sáng hôm nay (14. 10. 2024) cũng giống như buổi sáng của hàng ngàn năm trước, nhưng hoàn toàn tân kỳ, mới lạ. Bởi vì, được diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma. Một lần diện kiến Đạt Lai Lạt Ma là một lần chấn động, giống như trong chiêm bao kỳ ngộ Đức Phật hay hạnh ngộ Krishnamurti vậy.
Bồi hồi, xúc động, du sỹ kính tặng Ngài thi phẩm Diệu Tâm Ca và đọc vang lên bài kệ:

“Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điển
Ưng tác như thị quán”
Và đọc một bài thơ như để cúng dường:
Sớm tinh mơ dậy ngày tuyệt bích
Trên đỉnh ngàn cao Hy Mã Lạp Sơn
Đến thăm một con người vĩ đại
Mà cảm điều chi ngợp cả hồn
Đạt Lai Lạt Ma cười thánh thiện
Truyền âm nhập mật Đại từ tâm
Khơi mở suối nguồn thương vô lượng
Chảy qua lòng thẳm thấm mạch ngầm
Lòng thương yêu ấy đầy tuệ trí
Khi nắm bàn tay thật ấm nồng
Bỗng cao hứng đọc bài thơ tặng
Cho Ngài giữa vạn pháp Tánh Không
Ngài mỉm cười hoan hỷ, cầm tay thật chặt. Sự việc ấy diễn ra chỉ vài phút giây thôi nhưng giây phút ấy là vĩnh cửu, thiên thu...
Toàn bộ tác phẩm của Đạt Lai Lạt Ma đều khơi mở suối nguồn Đai bi tâm và khai phóng thông lộ mênh mông Không Tánh. Ngài nói, Tánh Không là cốt tủy, tinh túy nhất của Phật giáo Đại thừa:
“Một trong những tuệ giác sâu sắc nhất của Phật giáo là Tánh Không. Cốt tủy của Tánh Không là sự nhận biết có một sự chênh lệch rất lớn giữa những gì tri giác của ta cảm nhận được về thế giới (trong đó có sự hiện hữu của chính ta) và bản chất thực sự của sự vật.
Trong cuộc sống hằng ngày, ta thường xem bản thân và thế giới này có một thực tính cách biệt, xác định riêng rẽ và lâu bền. Chẳng hạn, thử thẩm định tri kiến của ta về cái tôi, ta sẽ thấy rằng, ta có khuynh hướng tin tưởng thực có một “cái tôi” trong ta, một “cái tôi” cá nhân có lý lịch riêng biệt, tồn tại biệt lập với những yếu tố vật chất và tinh thần làm nên sự hiện hữu của ta.
Thế nhưng, triết học Tánh Không cho ta biết rằng, cái nhìn này không những là một sai lầm căn bản mà còn là nguồn gốc của những luyến ái, bám chấp và dẫn đến vô số những thiên kiến, định kiến của ta.
Theo thuyết Tánh Không, bất kỳ một sự tin tưởng nào vào một sự hiện hữu có tính cách nội tại và biệt lập đều không bền vững. Tất cả sự vật và sự kiện – hữu hình (sắc) hay vô hình (vô sắc) ngay cả những khái niệm trừu tượng như thời gian – đều không thể tồn tại một cách khách quan, biệt lập...
“Tánh Không, không có nghĩa là mọi thứ không tồn tại mà là không có một “cái tôi” hay “bản chất” cố định, độc lập và vĩnh cửu trong bất cứ sự vật, hiện tượng nào. Mọi thứ đều nương tựa vào các điều kiện và nguyên nhân khác để hình thành và tồn tại.
Hiểu và quán chiếu Tánh Không giúp ta nhận ra rằng các sự vật không có bản chất riêng, không có tự ngã chi cả. Từ đó giúp ta buông bỏ sự chấp trước, bám víu, ham muốn, vô minh, sân hận, dẫn đến sự giải thoát.
Sự hiểu biết về Tánh Không giúp ta nhận ra sự phụ thuộc lẫn nhau của vạn vật, đất trời. Từ đó, phát triển lòng từ bi và tình thương đối với tất cả chúng sinh...”
Tình thương yêu vô điều kiện, thiết tha đầy tấm lòng bao dung, rộng lượng, đức Đạt Lai Lạt Ma đã mang đến tặng cho nhân loại một bài thơ Tánh Không Đại Bi Tâm rồi đó.
Chỉ cần chúng ta biết ứng dụng vào đời sống thường nhật là trổ ngát nụ cười thanh thản, an nhiên giữa dọng đời miên man, bất tuyệt...
Tenzin Gyatso, hay thường gọi là Đạt Lai Lạt Ma, thứ 14, sinh ngày 6. 7. 1936 trong một gia đình nông dân ở Tây Tạng. Mới vừa 2 tuổi, được công nhận là hóa thân của Thubten Gyatsso - Đạt Lai Lạt Ma, thứ 13.
Đức Đạt Lai Lạt Ma, thứ 14 là bậc lãnh đạo tinh thần của dân Tây Tạng. Họ cho Ngài là hiện thân của Bồ tát Quán Thế Âm, vị Bồ tát có lòng Đại bi vĩ đại, rộng lớn.
Năm 1959 (23 tuổi) Ngài được trao bằng Tiến sỹ Triết học Phật giáo. Sau đó, cuối năm 1959, Trung Quốc xâm lược, tràn qua tấn công, đánh chiếm Tây Tạng quá dã man, tàn bạo. Tình thế nguy hiểm, bắt buộc Ngài phải qua tị nạn ở Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, từ đó cho đến bây giờ.
Năm 1987 tại Quốc hộ Hoa Kỳ, đức Đạt Lai Lạt Ma đã đề xuất một kế hoach Hòa Bình cho Tây Tạng. Năm 1988 trong một bài phát biểu tại Nghị viện Châu Âu ở Strasboung, Ngài đề nghị các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Tây Tạng, nhằm đưa đến một giải pháp dân chủ tự trị cho cả ba tỉnh của Tây Tạng...
Năm 1989 Ngài được trao giải Nobel Hòa Bình về cuộc đấu tranh bất bạo động cho sự nghiệp giải phóng Tây Tạng. Ngài trở thành người đạt giải Nobel đầu tiên được công nhận, vì sự quan tâm của Ngài đối với các vấn đề môi trường toàn cầu.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đi đến hơn 70 quốc gia trên thế giới, tham gia vào những cuộc đối thoại với các nhà khoa học hiện đại, bàn về các lãnh vực tâm lý thần kinh học, vật lý lượng tử và vũ trụ học. Ngài đã xuất bản hơn 100 tác phẩm giá trị, được dịch ta nhiều thứ tiếng trên toàn cầu.
Thấu triệt nguyên nhân dẫn đến khổ đau, những lời dạy của Ngài rất hữu hiệu, thiết thực, giúp mọi người chuyển hóa hết mọi phiền não, khổ đau. Mỗi ngày khi thức dậy, hãy nghĩ rằng mình thật may mắn, vì vẫn còn sống. Mình dùng toàn bộ năng lượng để phát triển bản thân, yêu thương mọi người. Luôn luôn nghĩ tốt về người khác và không nổi giận, sân si với họ...
Sự im lặng, đôi khi là câu trả lời tuyệt vời nhất. Tình yêu và lòng trắc ẩn là những thứ tất yếu chư không phải xa xỉ. Không có những điều này, nhân loại không thể tồn tại.
Mục đích của tôn giáo là trở về nhận diện con người đích thực, bản lai diện mục của mình. Từ đó, khơi mở đại bi tâm, lan tỏa tình yêu, lòng trắc ẩn, tính kiên nhẫn, sự khiêm tốn, vị tha và lòng bao dung, yêu thương vô điều kiện: “Mục đích chính yếu của đời sống này là để giúp đỡ người khác. Nếu bạn không thể giúp đỡ gì cho họ thì ít nhất cũng đừng làm hại họ...”
Cho đi, tặng biếu, tâm tình hiến dâng với tất cả sự chân thành, tha thiết niềm Yêu thương vô lượng: “Tôn giáo của tôi rất đơn giản, đó chính là lòng Yêu thương. Tình thương và lòng nhân ái luôn luôn là điều thích hợp. Dù quý vị có tin vào luân hồi hay không thì trong đời sống này, Tình thương vẫn là điều không thể thiếu. Nếu trong tâm có Tình thương thì ta mới có hy vọng xây dựng được gia đình chân thật, tình huynh đệ chân thật, tâm bình đẳng chân thật và hòa bình chân thật...”
Rất là dễ hiểu phải không? Tình thương bao la đó, tất cả mọi con người trên mặt đất đều sẵn có, tất cả mọi tôn giáo đều xiển dương, đề cao: “Tôi cho rằng Phật giáo, Nho giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Kỳ Na giáo, Do Thái giáo, Sikh giáo, Đạo giáo, Bái Hỏa giáo... đều tôn vinh Tình thương, nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho nhân loại...”
Bài ca Tánh Không, Đại bi tâm hay Bồ đề tâm ấy, mãi mãi vang lên trên từng bước đi của Đạt Lai Lạt Ma và thường đồng vọng cùng bước đi của Krishnamurti, một cách vi diệu trên vạn nẻo đường nhân thế, hòa quyện giọt lệ, nụ cười giữa thiên thu, vĩnh cửu...
Tâm Nhiên
(Hy Mã Lạp Sơn 14. 10. 2024)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/07/2015(Xem: 13221)
Cách đây mấy tuần mình được tặng cuốn sách “Khu vườn bí mật”. Đây là cuốn sách tô màu dành cho người lớn mà người ta hay gọi là tô màu cảm xúc hay coloring book. Mình thật bất ngờ về những nét vẽ tinh xảo của tác giả Iohanna Basford.Mình không thể tin nổi những bức vẽ với hàng trăm họa tiết rất tinh xảo lạ kỳ đến vậy. Và mình cầm bút chì màu bắt đầu tô. Mình cứ tô theo cảm xúc và không bị bất cứ cái gì trói buộc mình. Minh nhập tâm, nhập hồn vào việc tô màu. Cuối cùng, tác phẩm đầu tay của chính mình ra đời. Mình mang ngay bức tranh mà mình đã tô xong treo lên và ngắm. Mình thích vô cùng. Hóa ra rằng tô màu cảm xúc của cuốn sách “Khu vườn bí mật” giúp mình thư giãn rất tuyệt vời. Mình cứ nghĩ, nếu bạn nào bj stress bởi cuộc sống thì đây là người bạn tốt nhất. Cứ ngồi vào và tô là mọi căng thẳng, bực bội tan biến hết ngay.
12/07/2015(Xem: 12890)
Từ trong tâm khảm mình con cảm ơn mẹ đã cho con một lần sinh, một lần ra đời. Mẹ đã nâng niu nhẹ nhàng từng bước đi chậm chạp, lúc cất tiếng khóc chào đời.
01/07/2015(Xem: 34020)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 5753)
Mẹ tôi qua đời đã hơn 10 năm rồi, nhưng cái bếp thân yêu, như là chỗ ghi nhớ bóng dáng mẹ, thì vẫn được các em tôi dùng làm nơi đun nước hàng ngày...
23/06/2015(Xem: 17090)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa
21/06/2015(Xem: 5023)
Mật độ con người trên thế giới hiện nay mỗi lúc một tăng lên dần, nên tất cả những nhu cầu cho đời sống con người từ nhiều phía, nhằm để cung ứng phục vụ, như : sự ăn, mặc, ở, bệnh, các phuơng tiện đi lại, các phương tiện thông tin khoa học, các thông tin tri thức nhân sinh và vũ trụ.v.v… Trong đó, vấn đề nhu cầu tín ngưỡng tâm linh, hiện hóa vào cuộc sống của con người qua mọi hình thức biểu tượng, cho niềm tin và ước nguyện cũng cần phải thực hiện đến.
18/06/2015(Xem: 8949)
Người có dừng chân trên bến sông Bên kia đồi cỏ núi mây trùng Bên này chim rủ nhau về hội Cùng hẹn hò thăm chuối trổ bông.
13/06/2015(Xem: 7153)
Tôi không quen biết nhà thơ Trần Hậu, chưa được gặp anh một lần nào. Trong một lần vô tình (qua nhạc sĩ Trần Đức Tâm), nhìn thấy và giở trang bìa tập thơ “Biển Đời Trăn Trở” của anh , ngay sáu câu thơ đầu dùng làm lời tựa trong bài thơ Trăn Trở đã cuốn hút tôi nhanh chóng. Làm như vậy có lẽ nhà thơ nghĩ rằng thơ là hơi thở, là cuộc sống và là cung cách của riêng mình, cho nên dùng chính lời thơ ấy để nói lên điều mình muốn nói, thay vì nhờ cậy một ai đó viết lời giối thiệu. Chính những dòng đó như chứng minh với mọi người rằng chân lý Phật đà luôn hiện hữu quanh ta, trong khổ đau cũng như trong hạnh phúc. Mà dường như điều tưởng nhỏ nhoi ấy ai cũng dễ dàng nhận ra, đôi khi chỉ bằng cảm quan chung quanh, những cảm quan mang tên rất “Như Thị”.(đính kèm ảnh tập thơ)
01/06/2015(Xem: 4513)
Kim Tiếng thương mến, Vẫn biết rằng "Đời là vô thường". Nhưng mình vẫn bàng hoàng xúc động khi hay tin Kim Tiếng đã ra đi. Chỉ trong vòng có hai ngày mà trường Sương Nguyệt Anh thân yêu của chúng ta đã mất đi hai Thầy Cô: - Cô Dương Kim Tiếng: 5-5-2015 - Thầy Giáp Bằng Phan: 6-5-2015
29/05/2015(Xem: 5496)
Năm học lớp sáu, lần đầu tiên tôi được đến chùa. Chiếc xích-lô bỏ mẹ con tôi phía trước con đường nhỏ, nhìn vào bên trong thấy sâu hun hút. Đi bộ một quãng, bước qua cổng tam quan đồ sộ là chiếc sân rộng với nhiều gốc cây cổ thụ. Sân vắng người. Một con chó to và mập từ bên trong chạy ra cong đuôi sủa. Một cô ni đon đả bước ra chào hỏi rồi dẫn mẹ con tôi đến dãy nhà lớn. Mẹ bảo tôi bỏ dép rồi bước lên những bậc cấp cao. Nơi căn phòng đầu tiên, vị sư tuổi ngoài ba mươi, người tầm thước, da láng lẩy, khuôn mặt hiền từ, vài lời xã giao với mẹ tôi rồi lại dẫn đến một căn phòng khác. Tôi thấy vị sư cũng như mẹ tôi quỳ xuống lạy một vị hòa thượng to lớn, đẫy đà có lẽ là đau ốm nên nằm trên chiếc võng xanh. Tôi nấp bên sau lấm lét nhìn.