Nhớ Về Cha

04/07/202505:25(Xem: 2063)
Nhớ Về Cha

tran thi nhat hung-cha
Nhớ về cha
Bài viết Trần Thị Nhật Hưng



Có những người vì gia cảnh nghèo, chật vật cơm áo hay lý do thời cuộc không được đến trường nên không biết chữ hay ít chữ nhưng như thế không có nghĩa là họ kém thông minh, đôi khi còn thông minh một cách đặc biệt. Người đó chính là ba tôi.

 Ba xuất thân tại một thôn làng nghèo miền Bắc trong một làng quê quanh năm chỉ thấy ruộng vườn, cá kèo và vài con gà trong sân. Nạn đói năm Ất Dậu hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương do Pháp và Nhật chiếm đóng Việt Nam càng làm quê nghèo thê thảm hơn. Số người chết đói như rạ, cầm cự được phải kể là có số đặc biệt.

 Trước viễn ảnh tương lai mịt mờ, ba đành dứt áo ra đi, rời bỏ quê cha đất tổ, mồ mả ông bà tổ tiên, nơi bao đời chôn nhau cắt rốn và để lại người vợ trẻ với đứa con thơ, tìm đường vào Nam lập nghiệp.

Với hai bàn tay trắng chỉ vỏn vẹn một đồng dính túi, ba mon men vất vả dọc đường tìm kế sinh nhai, bất cứ việc gì ba cũng làm, ngủ bờ ngủ bụi cho qua ngày qua đêm để tìm đến nơi muốn đến.

Trong Nam, ba đi làm thuê, lăn lộn mãi rồi cũng tìm học được nghề làm bánh mì, bánh ngọt, các loại kẹo, dành dụm được một số vốn rồi chọn miền Trung làm chỗ định cư, thuê nhà mở tiệm, đón vợ con vào sum họp.




banh oan
Bánh oản



Tôi không thể tưởng tượng được, làm thế nào mà ba đương nổi, ban đêm chuyên làm bánh mì, ban ngày hết làm bánh khảo nhân đậu đen, nhân đậu xanh (bánh này các đám hỏi, đám cưới hay đặt làm sính lễ)  đến bánh oản gói giấy bóng gương xanh, đỏ, tím, vàng (dân quê hay mua cúng rằm, mồng một), kẹo mè, kẹo đậu phụng (miền Bắc còn gọi là kẹo xìu), kẹo dừa (loại kẹo này nhỏ bằng đốt ngón tay út vấn từng viên trong giấy dầu, không chỉ con nít rất ưa chuộng mà ngay người lớn cũng rất thích), chưa kể thỉnh thoảng ba làm kẹo kéo dồi đậu phụng rang giả nhỏ bên trong rồi kéo từng que, khẩy cái cạch cho đứt khúc ra ăn. Vào mùa Trung Thu, ba còn làm bánh nướng, bánh dẻo và làm cả lồng đèn nữa. Nói chung, ba rất khéo tay và thông minh. Ngoài công việc làm ăn, sắp xếp điều hành với chừng đó công việc phân chia cho nhân công, mẹ lo bán hàng và lũ con nít chúng tôi có nhiệm vụ vấn kẹo dừa, để giải trí, ba đặc biệt làm sáo diều rất tuyệt vời không biết học từ đâu hay từ sáng kiến. Những vành tre và ống tre, ba vuốt và nắn thành hai cánh diều to bằng cả hai cánh tay giang ngang dán giấy dầu vàng người ta hay dùng gói quà, phía đuôi diều còn những cái đuôi giấy lướt thướt, khi diều cất lên cao giữa bầu trời mênh mông trông đã đẹp còn cất tiếng vi vu rất hay, một hình tượng diễn tả cảnh thanh bình tuyệt vời. Ngay cả việc nấu nướng, cũng không rõ học từ đâu, ba chế biến nhiều món rất lạ, ngon thêm tính hậu hỉ hiếu khách nên hay mời bạn bè về ăn. Thậm chí khi nhà có tiệc tùng, đám hỏi, đám cưới chính ba điều khiển đưa món ăn và đôi khi đứng bếp.

Sau này, để nghỉ ngơi và kinh tế gia đình khấm khá, ba bỏ hết không nấu kẹo, làm bánh ngọt nữa, ba chỉ còn giữ công việc làm bánh mì. Mà công việc này, thời đó, chưa có công nghệ bằng máy móc như ngày nay, cũng vất vả không kém. Dù có thuê thợ thuyền, nhưng việc chính yếu, khó khăn, ba vẫn ra tay gánh vác. Như đốt lò củi, khúc củi nào cũng to như cả cái chân, đưa vào lò đốt lên hong nóng xong phải cào ra, lau lò cho sạch để nướng bánh. Lò canh sao không được nóng quá, không được nguội quá, nếu không, bánh sẽ bị “bum” nghĩa là không nở đúng cái bánh mình mong muốn. Mọi việc thuận buồm xuôi mái thì còn đỡ, những lúc củi bị sụp tắt ngúm, khói bay mịt mù, ai cũng chạy có cờ, thì ba tôi phải đương đầu khèo dựng lại củi trong lò sao cho cháy lại.

Trời miền Trung nóng như lửa đốt, thêm hơi lửa trong lò phà ra, thời đó đâu đã có máy điều hòa, từng ổ bánh mì hoàn thành là bao giọt mồ hôi ba tôi đổ ra như tắm.  Ngay cả khi nhồi bột cũng bằng tay, chúi đầu xuống cái thùng như cái quan tài để nhào lộn khối bột cho nhuyễn là cả một công trình. Những lúc nhìn ba vất vả kiếm tiền nuôi gia đình, tôi cảm thương không bút nào kể xiết, chỉ biết nhớ công ơn ba và đền đáp bằng cách sống thật ngoan, chăm chỉ học hành, không hoang phí phá tiền dù lúc đó ba không còn nghèo mà còn khá giả là đằng khác.

Ngoài trách nhiệm lo kiếm tiền nuôi vợ con, là đàn ông nhưng ba lại có những cử chỉ hành động tinh tế sâu sắc mà bao người mẹ luôn được con cái vinh danh vào những dịp “ngày của mẹ” hay “lễ Vu Lan”, thì tôi lại thấy sự hy sinh của ba tôi sâu sắc tinh tế không thua gì các người mẹ, đôi khi còn có phần hơn.


Ba hay theo dõi đời sống con cái ngay khi chúng đã lập gia đình. Biết tôi lấy chồng nghèo nhất là sau 1975 chồng còn bị đi tù, ba đặc biệt quan tâm tôi nhiều hơn. Ba lặn lội từ miền Trung, vất vả tàu xe, ngủ gà ngủ gật chỉ để vào Sài Gòn thăm tôi và dúi cho tôi một món tiền lớn, lúc nào cũng dặn dò:


-Con rán chăm sóc bố chồng con cho tử tế (cụ bố chồng là bạn thân của ba tôi), thấy ai nghèo con cứ giúp. Riêng con, không tiêu hoang là được. Khi nào hết tiền thì cho ba biết.


tran thi nhat hung va cha


Tôi thương ba thêm lòng tự trọng không bao giờ tôi tỏ ý thiếu thốn, xin xỏ để ba phải lo lắng quan tâm, nhưng ba tinh ý nhận ra, và cứ canh, đoán chừng tôi hết tiền là ba xuất hiện. Những lúc ba vào, sau chuyến đi dài, nhìn tóc ba bạc phơ, nét phờ phạc, mệt mỏi hằn trên khuôn mặt đã nhiều nếp nhăn, tôi cảm thương muốn khóc, khuyên ba đừng vô nữa, hãy để tôi về thăm ba.

Ngày tôi về miền Trung thăm gia đình, túi đã sạch trơn, chỉ còn vài chục để dành cho tàu xe, tôi chỉ luẩn quẩn trong nhà, ăn cơm của cha mẹ, từ chối tất cả mọi lời mời của bạn bè rủ đi ăn sau nhiều năm gặp lại. Thế mà ba tôi cũng nhận ra, để một ngày, khi tôi đang thơ thẩn đứng bên khung cửa nhìn ra cây si trồng trước sân nhà, bâng khuâng ngắm đàn chim sẻ ríu rít chuyền từ cành này sang cành kia rồi bay vút trong bầu trời quang đãng, ba tôi lại mon men đến gần, ba không nói gì, chỉ nắm lấy tay tôi, vạch năm ngón tay tôi xòe ra rồi đặt vào đó một cọc tiền. Tôi ngạc nhiên hỏi:

-Tiền gì vậy ba?

-Ba cho con để đi chơi với chúng bạn!

Tôi ngẩn người ra đưa mắt nhìn ba, chưa kịp nói hai chữ “cám ơn” ngắn ngủi, ba đã bỏ đi để tôi nhìn theo với vô vàn xúc động.

Tôi cúi xuống nhìn cọc tiền quấn tròn trong một sợi dây thun, bất giác mủi lòng không muốn khóc mà nước mắt cứ từng giọt trào ra. Những giọt nước mắt ân tình trong như pha lê nhẹ nhàng rơi xuống cọc tiền nhưng thấm sâu vào hồn tôi, len vào từng ngõ ngách. Tôi nghẹn ngào cảm động, vừa thương ba vừa thương mình. Nói sao cho vừa, tôi chỉ biết in thật sâu vào tâm khảm hình ảnh cử chỉ ân cần, gói ghém đầy tình thương yêu của ba dành cho tôi và tôi nguyện một ngày nào đó có cơ hội tôi sẽ đáp đền tình ba.

 Không thể tiếp tục phiền ba, và cũng không thể sống được với chính sách khắc nghiệt của chế độ mới đối với thành phần “ngụy quân, ngụy quyền” như tôi, tôi tìm cách một mình bỏ nước ra đi hy vọng ở chân trời mới tôi có thể đổi đời, được sống đời tôi muốn sống.

Ba tôi vậy đó. Rất hiền lành, nhân từ, sâu sắc. Ba rất ít nói, tình cảm trong ba không thể hiện bằng lời mà chỉ qua cử chỉ hành động. Từng cơ cực gian khổ lúc thiếu thời, khi khấm khá, ba hay quan tâm đến người nghèo. Ba hay nói với con cái trong nhà. Bắt được tên trộm thì nên tha họ, đôi khi còn giúp họ. Chẳng qua vì đói mới phải làm thế, còn biết sợ sệt xấu hổ nên mới lén lút đêm hôm. Ăn cướp mới đáng sợ. Thế mà khi ba bị mất ba căn nhà do nhà nước tịch thu sau 1975, một lần tôi đề nghị ba lấy lại khi có tin nhà nước hoàn trả lại cho dân. Ba lại nói:

-Thôi, con ạ. Người ta dọn vô nhà mình đã sinh con đẻ cái. Nay đuổi họ ra, gia đình họ cầu bơ cầu bất mình có vui không. Mình mất ba căn nhà, Trời Phật đã cho lại ba căn khác rộng lớn khang trang hơn cho ba đứa vượt biên ở hải ngoại. Như thế còn đòi gì nữa.

Ba luôn an phận theo châm ngôn “có phúc có phần” rồi bình thản sống như một thiền sư:

Sống không giận không hờn không oán trách.

Sống mỉm cười với thử thách chông gai.

Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai.

Sống chan hòa với những người chung sống.

Sống là động nhưng lòng không xao động.

Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương.

Sống hiên ngang danh lợi mãi coi thường.

Tâm bất biến giữ dòng đời vạn biến.

(Thích Hạnh Hải)


Có lẽ nhờ vậy mà ba tôi có phúc có phần. Cả đời không thấy đau đớn bịnh tật gì ngoài cảm ho, ngứa ngáy vớ vẩn rồi nhẹ nhàng ra đi ở tuổi 107.

Viết bài này để Nhớ Về Cha với nén hương lòng thành kính dâng ba với niềm tri ân vô bờ bến của con.

TTNH

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/03/2015(Xem: 8891)
Thành phố Adelaide, tiểu bang South Australia có một dòng sông nhỏ chảy ngang. Buổi chiều thảnh thơi. Nắng hanh vàng trên lá. Gió đuổi nhau làm xôn xao ngọn cây phong bên bờ. Những con chim nhỏ rộn ràng, riú rít trên cành. Gió lay động mặt hồ tạo nên những gợn sóng nhỏ nhè nhẹ, nhấp nhô, đuổi theo nhau không dứt khiến trong lòng dâng lên cảm giác êm đềm, thanh thản, bình yên.
31/03/2015(Xem: 23347)
Đêm ngày 29/03/2015 tại Viện Âm nhạc quốc gia đã diễn ra chương trình Hát trong vườn xưa - Đêm thơ nhạc của Thầy Nhất Hạnh và các học trò. Một chương trình thật ý nghĩa và tạo nhiều cảm xúc được đồng tổ chức bởi Thái Hà Books, Life TV và VIM.
30/03/2015(Xem: 5179)
Có một thời dâu bể Nước mắt là huyết lệ Nụ cười chỉ tái tê Đời chìm vào cơn mê... Tôi muốn nói đến cái mốc thời gian cách đây 40 năm chính là tháng tư đen , nhưng lại là dấu ấn thắm màu máu đỏ đóng trên trang sử Việt Nam cũng là lằn ranh phân định hai đoạn đời trước, sau năm 75 của người dân miền Nam nói chung và đời nhà giáo của tôi nói riêng, thật hoàn toàn tương phản!
27/03/2015(Xem: 4565)
Cả thế giới đang nói về một ông già chín mươi mốt tuổi vừa nằm xuống. Nói với tất cả lòng kính phục và ngưỡng mộ: quốc phụ Lý Quang Diệu. Ông là người gốc Quảng đông, đã bốn đời trôi dạt đến hòn đảo bé nhỏ nằm giữa thủy đạo Ấn độ dương và Thái Bình Dương. Tổ phụ của ông, cũng như những người Quảng Đông ở Hội An, Ninh Hòa, Chợ Lớn, vì đất nước Trung Hoa loạn lạc đói nghèo phải bỏ xứ mà đi tìm đất sống. Ta có thể hình dung họ qua hình ảnh những người Tàu bán cóc ổi, mực khô lặng lẽ trước các cổng trường, những người ở dưới mức nghèo khó trong xã hội. Nghèo, nhưng họ là những người rất giàu nghị lực và ý chí. Đó cũng là cội nguồn làm nên ông, một con người có thể gọi là vĩ đại.
25/03/2015(Xem: 20851)
Thanh Lương là bút hiệu của Thích Thiện Sáng, một hành giả Thiền tông. Thế danh Trương Thượng Trí, sinh năm 1956, lớn lên bên dòng sông Cửu Long giữa trời thơ đất mộng An Giang. Bản chất thông minh, mẫn tuệ, vốn từ bi, hiếu thảo, có trực giác bén nhạy, ngay từ thời còn bé nhỏ đã có những biểu hiện khác thường như trầm tư, ưa đọc sách đạo lý suốt ngày, thích ăn chay và học hành ở trường lớp thì tinh tấn, luôn luôn dẫn đầu, xuất sắc.
20/03/2015(Xem: 6052)
Quyển sách thứ 64 nầy tôi bắt đầu viết vào ngày 6 tháng 6 năm 2014 nhằm ngày mồng chín tháng năm năm Giáp Ngọ tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, nhân mùa An Cư Kiết Hạ tại đây. Trong đầu đang dự định là mỗi năm sẽ viết một cuốn về nước Nhật, nước Đức, nước Úc, nước Mỹ v.v… để giới thiệu với quý độc giả xa gần, nhất là những vị nào chưa có cơ duyên đi và đến cũng như ở tại các nơi ấy nhiều năm tháng, thì đây là những quyển sách nhằm giới thiệu một khía cạnh nào đó dưới cái nhìn chủ quan của Tác giả, chưa hẳn đã đúng toàn diện. Tuy nhiên, muốn hoàn thành một việc lớn, không thể thiếu những ý niệm lúc ban đầu, dầu cho việc ấy có nhỏ nhiệm đến đâu đi chăng nữa, nhiều khi cũng là một vấn đề cần thiết.
11/03/2015(Xem: 22541)
Mai năm nay nở sớm trước Tết. Qua Tết thì những cánh hoa vàng đã rụng đầy cội, và trên cây, lá xanh ươm lộc mới. Quanh vườn, các nhánh phong lan tiếp tục khoe sắc rực rỡ giữa trời xuân giá buốt. Đêm đến, trời trong mây tịnh, vườn sau đón ngập ánh trăng, tạo một không gian huyền ảo lung linh. Đã không có những ngày xuân rực nắng, không có những đêm xuân ấm cúng tiếng đàn câu ca và những chung trà bằng hữu; nhưng chân tình của kẻ gần người xa, vẫn luôn tỏa sự nồng nàn, tha thiết. Cái gì thực thì còn mãi với thời gian thăm thẳm, vượt khỏi những cách ngăn của không gian vời vợi.
24/02/2015(Xem: 4573)
Em có thói quen cứ những ngày cuối năm thường thích lật những chồng thư cũ của bạn bè ra đọc lại, thích tìm kiếm dư âm của những chân tình mà các bạn đã ưu ái dành cho em. Lá thư của Chị đã gây cho em nhiều bâng khuâng xúc động và ngậm ngùi vô cùng vì đó là những nét chữ kỷ niệm của Chị còn lưu lại trên cõi đời này! Đúng vậy, Chị đã ra đi, bỏ lại đằng sau tất cả những ưu tư phiền muộn của cuộc đời và em đang đọc những dòng chữ của Chị đây.
12/02/2015(Xem: 22483)
Mơ màng cát bụi từ thuở nào mới mở mắt chào đời bên ghềnh biển Quy Nhơn rờn mộng ấy, thầy Đức Thắng sinh năm 1947, suốt một thời tuổi trẻ hay chạy rong chơi qua cánh đồng lúa xanh Phổ Đồng, bồng tênh mấy nẻo đường quê hương Phước Thắng ngan ngát cỏ hoa và thả diều tung bay trên bầu trời Tuy Phước lồng lộng bát ngát đầy trời trăng sao in bóng mộng sông hồ. Rồi lớn lên, thường trầm tư về lẽ đời vô thường sống chết, nên từ giã quê nhà, thao thức vào Nha Trang đi xuất gia theo truyền thống Thiền tông Phật giáo đại thừa. Sau đó vài năm chuyển vào Sài Gòn, tiếp tục con đường học vấn, tốt nghiệp Cao học Triết Đông phương và Phật khoa Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975.
05/02/2015(Xem: 21391)
Thơ là gì ? Thi ca là cái chi ? Có người cắt cớ hỏi Bùi Giáng như vậy. Thi sĩ khề khà trả lời : “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ, nhưng thơ là gì, thì đó là điều ta không biết.”* Tuy nói thế, nhưng suốt bình sinh trong cuộc sống, thi sĩ chỉ dốc chí làm thơ và sống phiêu bồng, lãng tử như thơ mà thôi.