Bài thơ được cảm tác từ bài viết của Ngài BUDDHADASA BIKKHU Tại vườn Giác Ngộ Mokkhabalama – Chalya năm 1988
Bài viết ấy như sau:
1-Người ấy là bạn ta, cũng sinh ra đời để rồi sẽ già nua, bịnh tật và chết cũng như ta
2-Người ấy là bạn ta vì họ cùng ngụp lặn với ta trong vòng sinh diệt
3-Người ấy cũng vướng bụi trần ô nhiễm như ta, do đó đôi khi cũng phạm vào lầm lỗi
4-Người ấy cũng mang đầy dục vọng, thù hận và mê lầm nào có khác ta đâu
5-Người ấy cũng chẳng biết tại sao mình lại ra đời à cũng chẳng biết thế nào là Niết Bàn, quả là giống y như ta
6-Có những thứ mà người ấy cũng ngô nghê như ta trước đây, người ấy cũng muốn giỏi giang cũng nữa ta thường muốn mình giỏi hơn, sáng chói hơn, danh tiếng hơn
7-Người ấy thường chiếm lấy thật nhiều những gì của người khác mỗi khi có cơ hội , nào có khác gì ta đâu.
8-Người ấy hẳn nhiên có quyền cuồng điên say mê, đắm mình trong những cái tốt đẹp cũng như ta vậy
9-Người ấy là một kẻ bình thường với bao nhiêu thứ ràng buộc cũng như ta vậy thôi.
10-Người ấy nào có bổn phận phải gánh chịu khổ đau và chết thay cho ta đâu
11- Người ấy nào khác gì ta cũng hành động bồng bột và thiếu suy nghĩ
12-Người ấy có thể là một người bạn cùng quê hương và may mắn hơn cùng chung một tín ngưỡng với ta, nếu không họ sẽ có quyền chọn lựa bất cứ thứ gì ( kể cả tôn giáo ) tuỳ theo sở thích của mình
13-Người ấy có quyền kêu gọi sự giúp đỡ và sự ân cần xót thương của ta
14-Người ấy có quyền theo bất cứ chế độ tự do hoặc xã hội chủ nghĩa tuỳ theo hoàn cảnh đấy đưa.
15-Người ấy có quyền được ta tha thứ và bao dung tuỳ mỗi lúc, mỗi thời.
16-Người ấy được hưởng nhân quyền, thụ hưởng các tiện nghi công cộng ngang hàng với ta.
Do vậy hãy nhìn mọi sự đều thanh tịnh, đừng suy nghĩ gì về mình đã chứng đạt được trí tuệ phần nào có thể làm người thế gian mất niềm tin
Hãy lìa bỏ những điều mà người khác tán dương mình khiến mình phải xem thường người khác hoặc những điều tán dương hay chê bai sẽ làm cho chúng ta tham luyến, sân hận.
HỌC TỪ BẬC ĐẠO SƯ – AI CŨNG LÀ BẠN TA
Hãy sử dụng tinh hoa cuộc đời làm dữ liệu
Nhất là lời khuyên chân tình từ bậc đạo sư (1)
Nhìn mọi sự thanh tịnh, kiếp nhân sinh đều như
Cuộc sống đơn thuần,
được thu xếp từ nhân quả kiếp trước !
Tự nhủ thầm :
Còn so sánh với người khác
bởi vẫn còn mục tiêu chưa thực hiện được!
Tuy rằng
So sánh bản thân để học hỏi là điều tự nhiên
Nhưng bức tranh biểu hiện
lắm lúc chứa não phiền
Dễ gây thất vọng vì khó tuỳ thuận đồng cảm !
Suy ngẫm 16 điều của bài viết
để chấp nhận ai ai cũng là bạn !
Khi chưa nhìn thấu trái tim của một người,
Trong hoạt động mưu sinh,
đôi khi lòng khóc miệng cười
Thế gian ơi
sự giả dối luôn luôn ngự trị bên cạnh sự thật !
Bao tán dương hay chê bai xảy ra thường nhất
Sẽ khiến ta tham luyến, sân hận mà thôi
Cuộc sống lập trình tương tự luân hồi
Học theo Đức Phật
nhận thức về cuộc đời sâu sắc !
Ngài không phê phán, không vướng mắc!
Ai cũng là bạn không có kẻ thù
Nếu có thể tha thứ bao dung bằng cả lòng từ
Những điều Đạo Sư BUDDHASA BIKKHU khuyến tấn cần nên thực hiện !
Huệ Hương
(1) Đạo Sư BUDDHASA BIKKHU : Ajahn Buddhadasa (27/5/1906 – 25/5/1993), còn được biết đến với tên gọi Buddhadasa Bikkhu, là một cao tăng Phật giáo Thượng tọa bộ người Thái Lan, một luận sư Phật giáo, một học giả nổi tiếng ở thế kỷ XX. ‘Buddhadasa’ nghĩa là người Tỳ kheo phục vụ Đức Phật. Ngài đã viết nhiều sách thiền bằng tiếng Anh và tiếng Thái, giáo lý có so sánh và áp dụng chánh pháp cho đời sống hàng ngày. Trong một bài kinh bao quát, Anàpanasati – nhập tức xuất niệm – thiền sư Buddhadasa trình bày tỉ mỉ phương pháp thực hành hơi thở chánh niệm đều đặn từ giai đoạn ban đầu cho đến sự giác ngộ cuối cùng.
( Theo Wikipedia & Theravada.vn)
Quê hương đích thực !
Trân quý lắm những tháng năm còn lại
Nghiệm đâu là quê hương đích thực của đời ta
Có phải chăng :
chỉ khi nào trong từng ngọn cỏ , bông hoa
Từng dòng sông, áng mây trời, ánh trăng chiếu
Từng cơn gió thoảng, mưa phùn…để thấu hiểu.?
Khi những nẻo đường đi,
nơi nào cũng gặp được hiền nhân
Mang nụ cười tỉnh thức,
gieo rắc trong mỗi bước chân !
Ôi! Làm sao tả hỷ lạc thấm nhuần từng lời dạy !
Quê hương đích thực là vùng tâm linh có phải ?
Muốn tìm về không giới hạn tuổi nào
Khi biết rằng đau khổ, hạnh phúc luôn sát nhau
Như hai mặt đồng tiền, cần chấp nhận cách sâu sắc !
Nhiều lời Đức Phật dạy trong kinh điển có thể được nhìn thấy qua nhà thơ Bùi Giáng.
Toàn thân Bùi Giáng chính là Khổ Đế hiển lộ qua cái được thấy. Tương tự, với Tập Đế.
Nụ cười của Bùi Giáng chính là Đạo Đế hiển lộ an lạc qua cái được thấy. Tương tự, với Diệt Đế.
Bùi Giáng đùa giỡn ca ngâm với lời lời ẩn nghĩa chính là diệu chỉ tâm không dính mắc của Kinh Kim Cang, hiển lộ qua cái được thấy và cái được nghe.
Bùi Giáng đi đứng nằm ngồi giữa phố như không một nơi để tới chính là diệu chỉ sống với cái Như Thị của Kinh Pháp Hoa, hiển lộ qua cách thõng tay vào chợ.
Bùi Giáng viết xuống chữ nghĩa xa lìa có/không, dứt bặt đúng/sai, hễ viết xuống là gửi vào tịch lặng bờ kia chính là diệu chỉ gương tâm rỗng rang của Bát Nhã Tâm Kinh.
Đó là hình ảnh nhà thơ Bùi Giáng trong tâm tôi nhiều thập niên qua.
Trong bài Đôi dòng cảm nghĩ về cuốn Võ Nhân Bình Định của Quách Tấn và Quách Giao do nhà xuất bản Trẻ phát hành vào năm 2001, Giáo sư Mạc Đường, nguyên viện trưởng viện Khoa Học xã hội TP.HCM có cho biết rằng, họ Quách, mặc dù ông tổ vốn dòng Mân Việt nhưng không chịu sống dưới chế độ Mãn Thanh nên đã rời bỏ Trung Quốc di dân sang Việt Nam. Đến thế hệ Quách Tấn và con là Quách Giao đã trên 300 năm. Vì sống tại Tây Sơn đã nhiều thế hệ “ nên họ Quách có biết dược nhiều sự kiện lịch sử ở địa phương. Nhất là thời đại Tây Sơn và phong trào Cần Vương. Gia phả của họ Quách đều có ghi lại các sự kiện lịch sử quan trọng này.
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ. Tuần trước, rừng ở quận hạt lân cận bị cháy suốt mấy ngày khiến bầu trời mù mịt khói đen, nắng không xuyên qua được, chỉ ửng lên cả một vùng trời màu vàng nghệ lạ thường. Nay thì trời trong không một gợn mây. Bầy quạ đen lại tranh nhau miếng mồi nào đó, kêu quang quác đầu hè. Rồi im. Bầy chim sẻ đi đâu mất dạng gần một tháng hè gay gắt nắng. Bất chợt, có con bướm cánh nâu lạc vào khu vườn nhỏ. Và gió từ đâu rung nhẹ những nhánh ngọc lan đang lác đác khai hoa, thoảng đưa hương ngát hiên nhà. Phép lạ đã đến. Gió đầu thu.
Đọc “Đường vào luận lý” (NYÀYAPRAVESA) của SANKARASVAMIN (Thương Yết La Chủ), Cầm quyển sách trên tay độ dày chỉ 290 trang khổ A5 được nhà xuất bản Hồng Đức tại Việt Nam in ấn và do Thư Viện Huệ Quang ở Sài Gòn phát hành, lại chính do Giáo Sư Lê Tự Hỷ ký tặng sách giá trị nầy cho chúng tôi vào ngày 14 tháng 7 năm 2018 nầy, nên tôi rất trân quý để cố gắng đọc, tìm hiểu cũng như nhận định về tác phẩm nầy.
Nếu chúng ta từ phương diện thư tịch nhìn về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam, cho thấy số lượng kinh sách trước tác hay dịch thuật của người Việtquá ư khiêm tốn,nội dung lại thiên về thiền họcmang đậm nét cách lý giải của người Hoa về Phật học Ấn Độ, như “Khóa Hư Lục”, “Thiền Uyển Tập Anh” (禪苑集英), “Thiền Tông Chỉ Nam”, “Thiền Tông Bản hạnh”…Điều đó minh chứng rằng, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu nặng cách lý giải Phật học của người Hoa. Nguyên nhân nào dẫn đến sự ảnh hưởng này, theo tôi ngoài yếu tố chính trị còn có yếu tố Phật giáo Việt Nam không có bộ Đại tạng kinh bằng Việt ngữ mang tính độc lập, để người Việt đọc hiểu, từ đó phải dựa vào sách của người Hoa, dẫn đến hiểu theo cách của người Hoa là điều không thể tránh. Nếu thế thìchúng ta nghĩ như thế nào về quan điểm độc lập của dân tộc?Tôi có cảm giác như chúng ta đang lúng túng thậm chí mâu thuẫngiữa một thực tại của Phật giáo và tư tưởng độc lập của dân tộc.
Nếu “lá sầu riêng„ chúng ta ví biểu tượng của sự hy sinh, kham nhẫn, nhịn nhục, chịu sầu khổ riêng mình không muốn hệ lụy đến ai, thì Lá Sầu...Chung, một giống lá mới trồng hôm nay phát sinh từ lòng nhỏ nhen, ích kỷ sẽ đem sầu khổ chung cho bao người. Đó là nội dung của vở bi kịch sau đây qua sự diễn xuất của hai mẹ con. Kính mời Quí vị thưởng thức.
Đây, bi kịch “Lá Sầu Chung„ bắt đầu.
Bà hiện còn khỏe, minh mẫn, sống ở Nha Trang.
Bà thành hôn với nhà văn B.Đ. Ái Mỹ 1940, cuộc tình sau 47 năm (tức năm phu quân mất 1987), bà sinh hạ 14 người con: 7 trai, 7 gái. Tất cả 14 người con của bà đều say mê âm nhạc, thích hát và hát hay, nhất là người con thứ ba - Qui Hồng. Hơn ½ trong số này cầm bút, làm thơ, viết văn, vẽ, điêu khắc và dịch thuật. Người có trang viết nhiều nhất là người con thứ 10: Nhà văn Vĩnh Hảo, với 13 đầu sách đã phổ biến…
Bà là nữ sĩ nổi tiếng không những về thơ ca mà còn cả thanh sắc, thêm vào tính tình hiền diu, đằm thắm nên được văn thi hữu thời bấy giờ quí trọng. Bà là nữ sĩ nổi danh từ thập niên 30 vế cả ba mặt Tài, Sắc và Đức.
Nghĩ Về Mẹ - Nhà Văn Võ Hồng,
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ.
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Tựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả. Mẹ bảo Vương: "Nhữ chiêu xuất nhi vãng lai" mày sáng đi mà chiều về, "tắc ngô ỷ môn nhi vọng" thì ta tựa cửa mà trông. "Mộ xuất nhi bất hoàn" chiều đi mà không về, "tắc ngô ỷ lư nhi vọng" thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.
sáng hôm nay, chúng tôi vào lớp đựơc nửa giờ thì đoàn Thanh niên Phật Tử kéo đến đóng cọc chăng dây chiếm nửa sân trường. Tiếp tới, họ chia nhau căng lều đóng trại.
Tôi thì thầm hỏi Nhung:
--Không nghỉ lễ mà sao họ cắm trại?
Nhung che miệng - sợ thầy ngó thấy - nói nhỏ:
--Ngày rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan.
Tôi mừng quá: ngày mai được nghỉ lễ.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.