Kính chiếu yêu ma (bài của Phật tử Huệ Hương, do Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

27/08/202004:38(Xem: 9348)
Kính chiếu yêu ma (bài của Phật tử Huệ Hương, do Phật tử Diệu Danh diễn đọc)
kinh chieu yeu ma
Kính chiếu yêu ma
Bài viết của Cư Sĩ Huệ Hương (ở Melbourne, Úc Châu)
Do Phật tử Diệu Danh (Hannover, Đức Quốc diễn đọc)




Mười năm về trước khi đọc " CỬA TÙNG ĐÔI CÁNH GÀI " của Sư Ông Làng Mai  Thích  Nhất Hạnh  tôi vẫn không hề nghĩ đến có ngày mình phải dùng kính chiếu yêu này ... không phải cho người khác bên ngoài mà chính là dùng để soi rọi vào những con ma đang ẩn núp trong rừng tâm của tôi quá  chằng  chịt và  rậm rạp nơi mà   tập khí  được chôn vùi và đã  trở nên hoang dại  đến nỗi rất khó để  tháo gở được những rễ dây đã bám  sâu trong đất Tâm này.

Đó là nhờ vào việc nghe kinh ...,   vài tuần nay nghe đến phẩm  Ma Sự trong  Kinh Đại  Bát Nhã và nghiền ngẫm rất lâu về lý và sự của từng câu kinh  thì tôi chợt hiểu ra  Ma còn là những chúng sinh ( niệm khởi  do vọng tưởng)  đang trú nấp trong chính ta mà thôi . .....Để rồi  tự nhắc  lại mình đã từng thệ nguyện CHÚNG SINH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ thì bây giờ phải làm sao cho những con ma này được thoát ra khỏi cái thế giới mà chính nó đang tạo đây. 

Chợt   nhớ lại những  ngày niên thiếu còn ở Việt Nam , nhà nhà đều treo một kiếng tròn nhỏ trước cửa và khi được hỏi các cô bác lớn tuổi đều bảo rằng để đuổi tà ma yêu quái đừng đến phá phách và tôi cũng tin như vậy nên  khi qua định cư nước thứ ba mấy lần đổi nhà là mấy lần tôi  gắng tìm một chiếc kiếng tròn nhỏ  treo trước cửa ra vào để lòng an ổn bất lo sợ ... và phải chờ  đến mười mấy  năm sau này   khi học Phật  Pháp  nhận được  rằng .... mình quả có chút mê tín , nên từ đó tôi không dám nhắc tới kính chiếu yêu vì ngượng ngùng xiết kể ...

Thật ra  bây giờ tôi tin rằng có khi trong một ngày vẫn có nhiều lần  tôi đã thấy những con ma ....nhất  là nếu chúng ta  có can đảm  nhìn vào gương soi mặt khi buồn,  thương, ghét,  giận, oán thù   ....  một con ma với mặt mày tím xanh  tay chân run cầm cập vì nỗi sân khi nghe người ta chê trách mình hay nói ra khuyết điểm, hoặc là một con ma đầu   tóc rũ  rượi   nước mắt đầm đìa khi bị thất vọng , mất mát về một chuyện gì ...! 

Phong tục cũ xưa ...

nhà nhà treo kiếng chiếu yêu trước cửa ! 

Dù đã  định cư nơi nước thứ ba , 

Vẫn mua kiếng  treo khi  mới chuyền đổi nhà 

Hy vọng đuổi ma  phá phách  ....về đòi nợ ? 

Thật ra ma bên ngoài đâu đáng sợ ! 

Hiểu Đạo rồi cần  chiếu rọi lại bên trong 

Ma ảo tưởng rất tinh ranh,  trốn tránh vòng 

Đầy thân kiến,  hoài nghi, giới cấm thủ ....

Dòng cảm xúc, nơi ma bản ngã từng lưu trú  !

Tất cả huyễn vọng ....Tâm mình dựng tạo nên, 

Hiểu mình, hiểu cuộc đời, sợ hãi chẳng có tên .

Nên kính chiếu yêu không cần thiết nữa ! 

( thơ HH ) 

Phải chăng  từ trước cho đến bây giờ lúc  nào tôi cũng vướng vào  mười sợi dây trói buộc ( 10 kiết sử ).. ?  

Hỏi chính là trả lời ....Đúng vậy càng  khởi lên  sự mong cầu có  được thanh thản nên lúc nào tôi cũng dựa vào tham ái rất vi tế và chấp thủ mà không biết đó là những con ma ghê sợ nhất . ...và do đó  để thoát ra được vòng vây của chúng ma  tôi cần phải có kính chiếu yêu luôn mang bên mình và mỗi mỗi phút giây cần  lấy ra chiếu sâu vào rừng tâm tôi ....

Càng ngày  tôi càng trải  nghiệm hơn  về  chướng ngại  ( ma sở tri của mình)  qua những ngôn từ lý thuyết . 

Ba năm trước đây có lần  tôi được Sư Phụ khuyên trách rất nhẹ nhàng rằng " con có thấy mình đang tầm chương trích cú không ? Con nên chính  tự mình tinh tấn chánh niệm tỉnh giác rồi ứng dụng  tu tập thực hành của mình vào đời sống thưc tại để đạt đến cứu cánh là giải thoát " . 

Hôm nay đọc lại lời Thầy giải đáp cho một Phật Tử cũng đi trên đường xưa giống như tôi.....thì tôi chợt hiểu .....

..  "    Rừng Kinh Luận của các Tông môn Hệ phái Phật giáo ngày càng phúc tạp đã và đang che mờ chính Đạo giải thoát giác ngộ vốn rất giản dị thiết thực mà đức Phật khai ngộ. Đã vậy còn thêm kiến giải của các vị "luận sư" đầy lý trí, chủ yếu chỉ khoe khoang sở học của mình hơn là chỉ ra sự thật, lại càng tạo thêm áp lực cho người học phải "tầm chương trích cú" mới đạt được tiêu chí "khoa bảng" hơn là thấy ra Sự Thật. "" ( trích đoạn ngày 11/8 trong mục hỏi đáp Trungtamhotong ) 

 

Phải chăng rất khó để mà chúng ta thoát được cái lưới khổng  lồ  mà các con ma kiết sử đang buông văng mà nếu chúng ta không tỉnh thức để tháo gỡ thì sẽ càng bị buộc chặt khít hơn dù cố tình vùng vẫy điên loạn .

Cho nên tốt nhất  cần phải không quá lệ thuộc vào bất cứ điều kiện gì miễn là mình chỉ cần sống trọn vẹn tỉnh thức với thực tại trong mọi sinh hoạt của đời sống hằng ngày mà chẳng mê ( do ma khuấy nhiễu ) thì thật sự an bình và hạnh phúc. 

Sống giữa cuộc đời, lẽ dĩ nhiên không ai tránh được những gì người ta nói , những gì họ nghĩ sai về mình nên điều quan trọng nhất chỉ cần rèn luyện tính kham nhẫn . 

Kính chiếu yêu là để giúp ta nhìn ra những con ma cảm xúc và tự nhũ rằng hãy  kham nhẫn để sống giữa thế tục của thế gian và đừng tạo thêm những phiền phức vô ích . 

Có đọc tụng Kinh Địa Tang bổn nguyện rồi mới thấy biết bao nhiêu ngục,  hầm tối đã giam giữ ta chỉ vì bất cẩn để cho những ma cảm xúc quấy nhiễu mà sinh ra khẩu nghiệp trải qua nhiều đời nhiều kiếp 

Tín, tấn, niệm, định,  Tuệ là nền tảng ! 

Cần tu tập .... phát triển năng lực tâm linh, 

Những ma bất thiện ...   diệt đừng cho  khởi sinh .

Kính chiếu yêu dùng  thấy  ra ...nơi ẩn núp ! 

Tự  trọng bản thân, chính động cơ  để giúp, 

Với tự tin, dần dần đẩy chúng lìa xa .

Tỉnh thức trọn vẹn,  kham nhẫn từng sát na 

Ma đố kỵ , cái tôi .... khó sinh ra Ngã mạn !

Thấp,   cao căn cơ đừng quên kinh Địa Tạng 

Thường thọ trì vào lễ hội Vu Lan, 

Thấy rõ nghiệp báo trong thế tục dân gian . 

Tiếp tục  hành thiện cho thật toàn bich! 

Cho cuộc sống hoàn mỹ nhiều lợi ích ....



Chính nhờ  được đọc tụng kinh Địa Tạng bổn nguyện do Tu Viện Quảng Đức khai kinh nhân Lễ Hội Vu Lan trong mùa đại dịch , HH kính xin được mạn phép trình bày về kính chiếu yêu trong dân gian để  thương nhớ về một quê hương rất bình dị và đáng yêu với những mê tín huyền thoại ...



Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát

Đệ tử Huệ Hương 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/10/2012(Xem: 7506)
Sáng nay, 11-10-2012, đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (China Central Television’s – CCTV) thông báo tin nhà văn Mạc Ngôn (Mo Yan) đang sinh sống ở Bắc Kinh được giải thưởng Nobel Văn chương năm 2012 chỉ cách 10 phút sau khi Hàn Lâm Viện Thụy Điển thông báo tin trúng giải. Tiếp theo là báo chí toàn quốc Trung Hoa đã rộn ràng thi nhau không tiếc lời ca tụng “vinh dự nước nhà”.
10/10/2012(Xem: 16299)
Không hiểu tại sao người ta gọi con vật ấy là chó. Cái tên này không gây nên một ấn tượng đẹp theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhất là đối với tôi, một người không mấy ưa loài động vật này. Lý do, có lẻ từ một kỷ niệm thuở mới lớn.
03/10/2012(Xem: 8340)
法住天寒極地空花如雪鎖禪扃生死遙程幾許夢回故里 雲行色没浮漚暮影凝烟参晚课唄吟長夜有時聲斷洪洲 Âm: Pháp Trụ thiên hàn cực địa, không hoa như tuyết tỏa thiền quynh, sinh tử diêu trình, kỷ hứa mộng hồi cố lý. Vân hành sắc một phù âu, mộ ảnh ngưng yên tham vãn khóa, bái ngâm trường dạ, hữu thời thanh đoạn hồng châu Ôn dịch nghĩa: Cực thiên Bắc, tuyết dồn lữ thứ, sắc không muôn dặm hoa vàng, heo hút đường về, non nước bốn nghìn năm soi nguồn đạo PHÁP Tận hồng châu, chuông lắng đồi thông, bào ảnh mấy trùng sương đẫm, mênh mông sóng cuộn, dòng đời quanh chín khúc rọi bóng phù VÂN
01/10/2012(Xem: 6120)
Trong thơ văn Phật giáo có hai câu thơ quen thuộc : Thấy nguyệt tròn thì kể tháng Nhìn hoa nở mới hay xuân. Các bạn trẻ hôm nay có thể nghĩ rằng đó chỉ là văn chương, là nói quá, thậm chí là nói không thật. Không phải vậy đâu. Thời nay của các bạn, gần như nhà nào cũng có tờ lịch treo tường, có xấp lịch gỡ từng ngày một. Hồi xưa thì không. Năm mươi năm trước, ở mỗi làng chỉ có chừng hai nhà mua được cuốn lịch Tàu, ghi ngày tháng âm lịch.
11/09/2012(Xem: 5828)
Mỗi khi đọc Lại-Tra-Hòa-La trong kinh Trung A Hàm 1 thì lúc nào tôi cũng liên tưởng đến nhân vật Siddharta trong tác phẩm Câu Chuyện Dòng Sông (do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch) của Hermann Hesse. Và tôi vẫn nghĩ rằng thế nào thì Hermann Hesse cũng có đọc Trung A Hàm, vì đọc tiểu sử của văn hào Đức từng đoạt giải Nobel Văn chương vào năm 1946
13/08/2012(Xem: 5514)
Năm nay, thời tiết tháng ba bỗng lạnh hơn những năm trước rất nhiều (hay tại mình già hơn năm trước mà cảm thấy thế?) Gió tháng ba này cũng lạ! chúng mang cái buốt giá căm căm của tháng ba miền Bắc Việt Nam, chứ không phải là gió xuân của Cali ấm áp Hoa Kỳ như thuở nào. Ai bảo đất trời tuần hoàn Xuân Hạ Thu Đông không có chợt nắng chợt mưa, như chúng sanh chợt cười, chợt khóc!
09/08/2012(Xem: 18633)
Âm vang của tiếng vọng “Hòa Bình” là niềm khao khát của nhân loại nói chung và của từng dân tộc nói riêng. Thế kỷ 20 với hai cuộc thế chiến hãi hùng đã đẩy đưa nhân loại xuống vực thẳm của điêu linh và chết chóc. Chiến tranh đồng nghĩa với tàn phá và hủy diệt, và cũng chính trong đêm đen tột cùng của chiến tranh, tiếng vọng “Hoà Bình” đã vang lên để thức tỉnh lòng người. Hòa bình đồng nghĩa với cọng tồn và an lạc, là niềm ước ao của mọi tâm hồn hướng thiện. Chiến tranh xuất phát từ tham, sân, si, thì hòa bình phải khởi đi từ lòng nhân ái và lửa Từ Bi. Đó là ý niệm bàng bạc trong toàn bản trường ca thi phẩm của Tuệ Đàm Tử, tức Hòa Thượng Thích Giác Lượng
24/06/2012(Xem: 17525)
Bạch Xuân Phẻ là nhà thơ không xa lạ gì với nhiều người. Anh còn có biệt-hiệu là Tâm Thường Định. Thơ anh đã xuất-hiện trên nhiều trang mạng, trên báo-chí trong và ngoài nước. Anh đã cho ấn-hành bốn tập thơ “Hương Lòng”, “Mẹ, Cảm-Xúc Và Em”, “AWAKEN: Buddhism, Nature, and Life”, và “Tưởng Niệm và Tri Ân”.
23/05/2012(Xem: 4970)
Một vầng sáng giữa trời. Hoa đốm trên không chăng? Hay biểu tượng trầm mặc của người thơ? Là trăng. Trăng ư? Thiên cổ lại có trăng là Mẹ Mẹ của nhân gian trong cơn đại mộng li bì. Của muôn vạn con trăng nhảy múa giữa mắt người hôn trầm vạn tưởng. Mặt gương tròn lớn.
23/05/2012(Xem: 9650)
Bà già nhìn xuống dòng sông nước đục lờ, dõi theo một khúc gỗ đang trôi lững lờ theo con nước dập dềnh lên xuống đến khúc quanh ở cuối làng, nơi hai ống khói cao nghệu của nhà máy thả lên trời những cụm khói đen bay tản lạc trong gió chiều hoàng hôn. “Mới đó mà đã 20 năm, ông nhỉ?” bà nói mà không nhìn vào ông già ngồi cách mình một sải tay, trên phiến đá bám đầy rêu xung quanh hông.