Cuốn Lưu Bút Tình Cờ

05/08/201820:12(Xem: 4890)
Cuốn Lưu Bút Tình Cờ

luu but

  CUỐN LƯU BÚT TÌNH CỜ

 

Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà đã mấy chục năm theo bốn mùa thay lá thay hoa và đời riêng của mỗi người có quá nhiều đổi thay.

Ngồi nhớ lại những kỷ niệm thời còn đi dạy trường Sương Nguyệt Anh, biết bao nhiêu vui buồn lẫn lộn ngập tràn làm xao xuyến cả tâm tư!

Hình ảnh buổi lễ bế giảng năm học 1978 bỗng rõ lên trong ký ức tôi như một đóm lửa nhóm trong vườn khuya.

Năm đó tôi dạy tới ba bốn lớp 12, lớp thi nên cả Thầy trò mệt nhoài. Không đủ giờ ở lớp nên nhiều khi tôi phải vừa dạy thêm vào sáng Chủ Nhật, vậy mà các em vẫn đi học đầy đủ. Tới ngày bế giảng Cô trò mới tạm hoàn tất chương trình, như trút được gánh nặng ngàn cân !

Hôm đó, tôi lại được Ban Giám Hiệu phân công trông coi trật tự lớp 12C1, có nghĩa là phải quan sát bắt các em ngồi ở sân trường phải yên lặng chăm chú theo dõi chương trình buổi lễ, nghe huấn từ của ban Giám Hiệu.

Tuổi của các em là tuổi hồn nhiên, thích nhìn ngắm trời xanh mây trắng, thích nói chuyện nhỏ to, nhất là con gái, nhưng cũng may các em vẫn còn ngoan ngoãn, còn biết sợ Cô giáo nên chỉ rầm rì nhỏ to mà thôi.

Các em còn bảo nhau mình đừng làm phiền lòng Cô; tôi nghe như cởi tấm lòng. Vậy là các em cũng đã hiểu được tâm trạng tôi phần nào; chồng tôi đi cải tạo, một mình phải bươn chải để chống đỡ mà nuôi bốn đứa con, tôi luôn luôn cảm thấy:

"Có điều gì gần như tuyệt vọng,

Rơi xuống trong tôi .... rơi xuống bên đời "

(TCS)

Nhưng may mắn là hàng ngày tôi vẫn đến trường đến lớp, tiếp xúc với thế giới hồn nhiên của các em, nên tôi lấy được chút yêu đời của các em để chôn đi nổi đau hay niềm cay đắng hầu đứng vững trong cảnh quá khó khăn lúc bấy giờ!

Xin cám ơn các em học sinh thân yêu của Cô! Tôi đang lan man trong dòng suy tưởng của mình, bỗng nghe nhiều tiếng lao xao:

- "Tao muốn viết lưu bút cho Cô"

- "Tao cũng vậy!"

- "Hôm nay là ngày cuối, tụi mình phải viết cho Cô mới được"

Một giọng khác cất lên "hôm nay là lễ bế giảng nên đâu có đứa nào mang cặp theo"

Nhiều tiếng Ồ nổi lên, tức thiệt !

Sau đó các em chụm đầu vào nhau, bàn bạc tìm cách giải quyết bế tắc một lúc. Em trưởng lớp đi từ đầu đến cuối hàng của lớp để nghe sáng kiến đề nghị của các bạn, rồi sau đó chạy đi mất. Một lát sau em chạy về, mặt mày hớn hở, trên tay cầm một xấp giấy màu vàng nói với các bạn:

-" Giấy ít quá, không đủ cho mỗi đứa mỗi tờ, nên mình sẽ xé một tờ ra làm hai, may ra mới đủ. Tụi bây phải viết cô đọng, chất lượng nên viết ít thôi."


Sau đó, cứ hai em lảnh một tờ, xếp đôi lại rồi xé ra mỗi đứa một nửa. Xong rồi mỗi em ngồi mỗi kiểu khác nhau mà viết. Có em quên không đem viết cứ giục bạn mình viết mau để mượn.

Nhìn hình ảnh các em ngồi lum khum dưới sân trường, trong nắng gắt của Saigon ban trưa, cắm cúi kê trên lưng nhau mà viết những dòng chữ trên mảnh giấy xé vội, lòng tôi xúc động dạt dào, cổ họng như nghẹn lại. Đúng là "Trời không có mưa mà vẫn ướt mềm", lòng tôi mềm đi vì đã được những ân tình của các em tưới đậm, như một vườn cây khô cạn lâu ngày mà được gặp cơn mưa rào đổ xuống. Hình ảnh này đã ghi đậm nét trong hồn tôi và tôi đã mang nó theo mãi mãi trong suốt cuộc đời của mình.

Một lát sau, trưởng lớp đứng lên đi thu lại giấy của các bạn vì sắp hết giờ buổi lễ bế giảng. Em nào cũng vội vàng kết thúc để nộp lại, trưởng lớp chạy biến đi và khi trở lại trên tay cầm một cuốn lưu bút màu vàng, được đóng lại vội vàng với tờ ngoài bìa trang trí đơn sơ.

Em cầm hai tay, đưa cuốn lưu bút cho tôi: " Mong Cô nhận mà không chấp nơi hình thức của nó". Tôi đưa tay nhận mà cảm động không nói được lời nào!

Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi nhận được một cuốn lưu bút với hình thức đơn sơ hơn thế, một cuốn lưu bút tình cờ mà tự nguyện, phát xuất từ tấm lòng, không vì ép buộc hoặc nể nang mà viết, nó chan chứa những tấm lòng chân thật và vô tư. Tất cả những tình cảm mà các em dành cho tôi đã tràn ra trên trang giấy.

Đó là cuốn lưu bút "VÀNG" của đời tôi. Không phải vì giấy màu vàng mà vì những tấm lòng vàng của những em học trò một thời yêu dấu, bởi những phút sắp xa nhau là những phút giây người ta dễ nói thật lòng mình, không cần che dấu, xúc cảm tuôn tràn.

Các em đã viết cho tôi quá nhiều điều cảm động, lời lẽ chân tình, đôi khi ngây ngô nhưng chân thật vô cùng!

Trong cuộc đời buồn tênh nơi xứ người, vật chất tràn đầy nhưng tình người hiu quạnh, bước chân đi vẫn cảm thấy bơ vơ lạc lõng. ??? Khi có cơ hội được trở lại khu vườn kỷ niệm xưa, tôi bỗng thấy lòng mình lóe lên một thứ hạnh phúc êm đềm ấm áp!

Xin cám ơn các em, cám ơn mọi người đã cho tôi cơ hội cất lên tiếng hát yêu cuộc đời hôm nay !!!

 


Tháng 05 / 2018

Nguyên Hạnh HTD 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/12/2010(Xem: 13244)
Không sinh, không diệt. Không đến, không đi. Đó chính là ý nghĩa nền tảng về một tâm xuân miên viễn. Khi chúng ta nhìn sự vật có sinh có diệt, có đến có đi, lòng ta không khỏi sinh ra những luyến lưu tiếc nuối.
14/12/2010(Xem: 4023)
Đất Bắc Ninh xưa gọi là đạo Bắc Giang, rồi đổi ra trấn Kinh Bắc, một miền phong phú về mặt dân ca, cũng là một vùng nổi tiếng về phong quang cẩm tú, về điền địa phì nhiêu...
13/12/2010(Xem: 33494)
Văn hóa như hơi thở của sự sống. Chính vì vậy mà qua bao thăng trầm nghiệt ngã của lịch sử, Đạo Phật như một sức sống văn hóa ấy vẫn còn đó, như một sinh chất nuôi dưỡng nếp sống tâm linh cho con người.
10/12/2010(Xem: 13577)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
16/11/2010(Xem: 19244)
“Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai
30/10/2010(Xem: 5580)
Tiểu sử cho biết rằng, vào năm 1542 sau khi dâng sớ lên vương triều Mạc đòi chém 18 kẻ lộng thần, nhưng không được vua Mạc bấy giờ là Mạc Phúc Hải chấp thuận. Nguyễn Bỉnh Khiêm liền cáo quan về lại quê quán ở làng Trung Am. Nay là huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng. Dù thất bại ở triều đình không thực hiện được hoài bão như dự tính lúc ban đầu: Dân giai thức mục quan tân chính
30/10/2010(Xem: 8625)
Như tôi cũng đã thưa rồi, hiếm ai dành nhiều thời gian để nhớ về mẹ như tôi. Chuyện gì buồn vui cũng là cái cớ để tôi nhớ về mẹ bằng tất cả tim óc. Tôi đã nhớ mẹ qua bất cứ hình ảnh nào của các bậc cha mẹ trong đời mà tôi quen biết, trong giao thiệp hay chỉ nhìn thấy trên phim ảnh sách báo... Có điều là không ít hình ảnh trong số đó cứ khiến tôi đau đáu một nỗi riêng không chịu thấu: 1. Họ là những bậc cha mẹ với tuổi đời chưa bao nhiêu nhưng đã bắt đầu quên mất tuổi trẻ của mình cho đứa con đầu lòng. Một tuổi trẻ tất bật áo cơm, không có rong chơi, không có ngơi nghỉ, không có thời gian riêng tư, dẹp luôn những không gian độc lập để sống như mình vẫn ao ước thời chớm lớn. Họ Mất hết cho cái mà họ cho là Được – đó chính là đứa con! Nhìn họ tôi nhớ mẹ!
28/10/2010(Xem: 4852)
ù bây giờ đã qua hết những ngày tất tả ngược xuôi lo chạy gạo bữa đói bữa no, lăn lóc chợ trời nhục nhã ê chề tấm thân; những ngày dầm mưa dãi nắng lặn lội đi thăm nuôi nhưng những kỷ niệm buồn sâu thẳm vẫn còn đậm nét trong lòng tôi mãi mãi mỗi độ tháng tư về. Sau khi hai đứa con ra đi được hai ngày, tôi được tin chuyến tàu bị bể. Tôi vừa bàng hoàng vừa cầu xin đó không phải là sự thật, nếu quả đúng như vậy liệu tôi có còn đủ sức chịu đựng hay không vì chồng tôi đang còn ở trong trại cải tạo. Nóng ruột quá, tôi bèn rủ một em học trò cũ lên nhà bà chủ tàu để dò hỏi tin tức. Khi đi thì hăng hái như vậy nhưng gần đến ngõ rẽ đi vào nhà, tôi không còn can đảm tiếp tục bước nữa. Tôi ngồi lại một mình dưới gốc cây vừa niệm Phật vừa cầu xin, mắt không rời theo dõi vào con ngõ sâu hun hút đó. Càng chờ ruột gan càng nóng như lửa đốt, không chịu nổi nữa tôi đi liều vào. Vừa đến nơi hai chân tôi đã muốn khuỵu xuống, một bầu không khí im lặng nặng nề, hai người ngồi như 2 pho tượng; sau đó em h
21/10/2010(Xem: 18534)
Bướm bay vườn cải hoa vàng , Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng. Đứng yên ngoài hàng dậu Em mỉm nụ nhiệm mầu Lặng nhìn em kinh ngạc Vừa thoáng nghe em hát Lời ca em thiên thâu
17/10/2010(Xem: 7672)
Tây Du Ký tiêu biểu cho tiểu thuyết chương hồi bình dân Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt xã hội các dân tộc Á Châu. Không những nó đã có mặt từ lâu trong khu vực văn hóa chữ Hán (Trung, Đài, Hàn, Việt, Nhật) mà từ cuối thế kỷ 19, qua các bản tuồng các gánh hát lưu diễn và văn dịch, Tây Du Ký (TDK) đã theo ngọn gió mùa và quang thúng Hoa Kiều đến Thái, Mã Lai, In-đô-nê-xia và các nơi khác trên thế giới. Âu Mỹ cũng đánh giá cao TDK, bằng cớ là Pháp đã cho in bản dịch TDK Le Pèlerin vers l’Ouest trong tuyển tập Pléiade trên giấy quyến và học giả A. Waley đã dịch TDK ra Anh ngữ từ lâu ( Monkey, by Wu Ch’Êng-Ên, Allen & Unwin, London, 1942). Ngoài ra, việc so sánh Tây Du Ký2 và tác phẩm Tây Phương The Pilgrim’s Progress (Thiên Lộ Lịch Trình) cũng là một đề tài thú vị cho người nghiên cứu văn học đối chiếu.