Hải Vân Hải Môn Lữ Thứ

24/07/201709:03(Xem: 8219)
Hải Vân Hải Môn Lữ Thứ

Hai Van (1)

HẢI VÂN HẢI MÔN LỮ THỨ
CHÂU YẾN LOAN

 

 

Hải Vân hải môn lữ thứ là bài thơ của vua Lê Thánh Tông được sáng tác trong chiến dịch Bình Chiêm vĩ đại năm 1470 khi nhà vua kéo quân ngang qua vịnh Đà Nẵng.

Lê Thánh Tông (1442 -1497 ) tên thật là Tư Thành, lên ngôi vua năm 1460, mười năm đầu lấy niên hiệu là Quang Thuận, sau đổi niên hiệu là Hồng Đức. Ba mươi tám năm trị vì, với trí tuệ sáng suốt và đức độ của mình ông đã đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển đất nước trên nhiều lĩnh vực : chính trị, quân sự, kinh tế ,giáo dục, văn học, nghệ thuật v.v..và dựng lên một vương triều thịnh vượng nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.

 

Thời nhà Hồ, biên giới Đại Việt đã vào tới Chiêm Động và Cổ Luỹ Động (phía bắc tỉnh Quảng Ngãi ), nhà Hồ chia hai động này thành bốn châu : Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa đặt An phủ sứ và Phó sứ lộ Thăng Hoa để cai trị . Khi quân Minh sang đánh nước ta, họ Hồ thua chạy, Chiêm Thành đem quân  chiếm lại Chiêm Động và Cổ Luỹ rồi đánh Hoá Châu. Từ thời Lê Nhân Tông, năm Thái Hoà thứ II (1444 ) cho đến thời Lê Thánh Tông , năm Hồng Đức thứ I (1470 ) quân Chiêm đã 4 lần đánh phá Hoá châu. Năm 1469, vua Chiêm là Bàn La Trà Toàn dấy binh, rồi tháng 8 năm sau (1470 ) lại đem 10 vạn quân và một đoàn kỵ binh tấn công lần nữa. Thủ ngữ Kinh lược sứ Thuận Hoá là Phạm văn Hiển không chống nổi, phải rút vào thành cố thủ và phi báo về triều đình. Trước tình hình đó, vua Lê Thánh Tông phải xuống chiếu thân chinh.

Ngày 6 tháng 11 năm Canh Dần (1470 ) bắt đầu xuất quân. Vua sai Chinh lỗ tướng quân Thái sư Lân Quận Công  Đinh Liệt, Chinh lỗ phó tướng quân Thái bảo Kỳ Quận Công Lê Niệm đem 10 vạn thủy quân đi trước, ngày Canh Dần 16 tháng 11 vua đốc suất 15 vạn thủy quân đi tiếp theo.

Trên đường Nam chinh từ cửa biển Thần Phù ( tỉnh Thanh Hoá ) tới cửa Thị Nại ( tỉnh Bình Định ) nhà vua đã đi qua 39 cửa bể :

 

                      “Thử khứ hải  môn tam thập cửu

                      Kế trình hà nhật đáo Ô Châu ?”

                                     (  Thần Phù hải môn lữ thứ )

                   Chuyến đi này vượt qua ba mươi chín cửa biển ,

                     Tính đoạn đường, biết ngày nào mới tới Ô Châu ?

                                                  ( Ngô Linh Ngọc dịch )

 

Vốn là một vị vua nổi tiếng về tài thơ văn, nên những cảnh  thiên nhiên hùng  vĩ của tổ quốc đã trở thành nguồn cảm hứng thơ ca của ông, đến đâu ông cũng ghi lại những cảm xúc của mình trong những bài thơ. Ngoài 30 bài

trong Chinh Tây kỷ hành thi tập miêu tả phong cảnh đất nước dọc đường hành quân, trong Minh Lương Cẩm tú thi tập còn có 14 bài vịnh các cửa biển gọi là Ngự chế các hải môn thi (thơ về các cửa biển của nhà vua ): 1) Thần Phù hải môn lữ thứ, 2) Giáp hải môn lữ thứ, 3) Du hải môn lữ thứ, 4) Càn hải môn lữ thứ, 5) Đan Nhai hải môn lữ thứ, 6) Nam Giới hải môn lữ thứ, 7) Kỳ La hải môn lữ thứ, 8) Hà Hoa hải môn lữ thứ, 9) Xích Lỗ hải môn lữ thứ, 10) Di Luân hải môn lữ thứ, 11) Bố Chính hải môn lữ thứ, 12) Nhật Lệ hải môn lữ thứ, 13) Tư Dung hải môn lữ thứ và khi thuyền rồng qua cửa biển Hải Vân - cửa biển nằm ở phái bắc thành phố Đà Nẵng, giáp ranh với tỉnh Thừa Thiên Huế - vua Lê Thánh Tông đã sáng tác bài thơ :

 

                                              海雲海門旅次

 

混一車書共幅員

海雲橫界越南天

三更夜靜銅龍月

五鼓風清路鶴船

夷落奉參期款塞

閫臣愛國巧籌邊

此身那得生還幸

敢望班超到酒泉

 

                                Hải Vân hải môn lữ thứ 

                             Hỗn nhất thư xa cộng bức quyên
                            Hải Vân hoành giới Việt Nam thiên

                             Tam canh dạ tĩnh Đồng Long nguyệt

                             Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền

                             Di lạc phụng thâm kỳ khoản tái

                             Khổn thần ái quốc xảo trù biên
                             Thử thân na đắc sinh hoàn hạnh

                             Cảm vọng Ban Siêu đáo Tửu Tuyền .

 

Qua cửa biển Hải Vân

 

Giang sơn trọn bức dư đồ

Hải Vân giang rộng mở cờ vượt Nam

Đồng Long vằng vặc trăng nằm

Con thuyền Lộ Hạc canh năm dập dềnh

Người Di hẹn đất dâng lên

Khổ thân viên tướng giữ nền biên cương

Sá chi sống chết sa trường,

Ban Siêu chín suối thẹn nhường được sao?

                                                (Nguyễn Thiếu Dũng dịch)

                                     

Ngày mồng 2 tháng giêng năm Tân Mão (1471) vua vào tới Thuận Hóa cho quân ra biển tập thủy chiến rồi sai thổ tù ở Thuận Hóa là Nguyễn Vũ vẽ bản đồ của Chiêm Thành dâng lên cho vua.

Sách Thiên Nam Dư Hạ Tập chép rằng : Vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, đóng quân ở Hải Vân Quan, đêm khuya không ngủ, vừa đứng ngắm núi biển, đèo, mây, nước, có câu thơ:

 

Tam canh dạ tĩnh Đồng Long Nguyệt

Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền

 

Vua thân đem đại quân đánh phá thành Thị Nại, vây thành Trà Bàn

Ngày 1 tháng 3 năm Tân Mão (1471), hạ thành Trà Bàn, bắt sống vua Chiêm là Trà Toàn đưa về nước cùng 30.000 quân sĩ và 50 người trong hoàng tộc bị bắt làm tù binh.

Ngày mồng 1 tháng 5 năm Tân Mão (1471), làm lễ mừng thắng trận.

Công cuộc bình Chiêm thắng lợi, vua đổi Thăng Châu , Hoa Châu thành ba  huyện Lê Giang, Hy Giang và Hà Đông thuộc phủ Thăng Hoa; Tư Châu, Nghĩa Châu thành ba huyện Bình Sơn, Nghĩa Giang và Mộ Hoa, thuộc phủ Tư Nghĩa. Chia đất cũ của Chiêm Thành là Đồ Bàn thành ba huyện Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn, thuộc phủ Hoài Nhơn, đặt ba phủ rồi đưa tù nhân ba loại bị tội đồ tới đây để “cấy người ở biên giới” (thực biên )

Với chiến thắng này, nhà vua không những  thực hiện được ý định khôi phục bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, chấm dứt nạn binh đao, đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân, mà còn mở rộng biên cương đến miền Vijaya, tức là phủ Hoài Nhơn (ngày nay là Bình Định ).

 

Tháng 6 năm 1471, vua Lê Thánh Tông lấy ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn lập thành đạo thứ mười ba là Quảng Nam Thừa tuyên đạo, sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, đúng như mục đích xuất chinh mà nhà vua đã nói trong câu thơ mở đầu:

 

                              “ Hỗn nhất thư xa cộng bức quyên” 

Danh xưng Quảng Nam ra đời từ lúc ấy.

                               

                            “ Hải Vân hoành giới Việt Nam thiên

Câu thơ nêu bật vị trí hiểm yếu, quan trọng của núi Hải Vân đối với lãnh thổ Đại Việt.

Hải Vân là một quần thể núi non hùng vĩ ở cuối Trường Sơn Bắc, đâm ra tới biển Đông, ngọn núi chính là Hải Vân Sơn cao 1192m còn có tên là Cao An Lĩnh hợp với các ngọn núi Đại Tu Nông, Tiểu Tu Nông, núi Tía, núi Kiền Kiền về phía tây từ biên giới Lào chạy tới. Hải Vân Sơn cùng với Bà Sơn và Hải Sơn là ba ngọn núi cao nhất liên tiếp xen nhau, đỉnh núi cao thấu từng mây, chân núi chạy thẳng ra bờ biển, dọc theo các sườn núi thuộc quần thể Hải Vân còn có những khe với những tảng đá muôn hình vạn trạng rải dài tận biển như khe Kỹ, khe Vu, khe Hổ Lang, khe Bé, khe Lớn. Phía Bắc chân núi có hang Dơi khoét sâu vào, nơi đây thường có sóng to gió lớn nhấn chìm ghe thuyền khiến người qua đó phải ngại bước chùn chân:

 

                                        “Đi bộ thì khiếp Hải Vân,

                             Đi biển thì sợ sóng thần hang Dơi”

 

Từ xưa, Hải Vân đã được chú ý vì nó chiếm giữ một vị trí chiến lược quan trọng :  là phên giậu phía nam của nước Đại Việt. Hải Vân đã từng là địa đầu chiến tuyến giữa hai lực lượng Việt – Chiêm trong chiến dịch Bình Chiêm của Lê Thánh Tông năm 1470-1471. Phía Bắc Hải Vân, nhà vua đặt hành điện tại cửa Tư Dung (nay là cửa Tư Hiền) để cho thủy quân diễn tập chuẩn bị vào trận còn phía Nam Hải Vân thì tướng Bồng Nga Sa của Chiêm Thành đang trấn giữ Cu Đê.

Hải Vân núi cao, vực thẳm đường đi hiểm trở gian nguy thường được ví như đường vào đất Thục:

 

Ải lĩnh xuân vân-                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                

Việt Nam xung yếu thử sơn điên

Tuyệt lĩnh hoàn như Thục đạo thiên

Đản kiến vân hoành tam tuấn lĩnh,

Bất tri nhân tại kỷ trùng thiên…

(Nguyễn Phúc Chu)

 

Mây xuân đỉnh Ải

 

Việt Nam hiểm yếu Hải Vân sơn

Thăm thẳm đường lên Thục đạo nan

Chỉ thấy mây vờn ba đỉnh núi

Đâu biết người đâu lẫn mấy tầng

 (Nguyễn Thiếu Dũng dịch)

 

Chân núi Hải Vân sát với biển xanh, ngọn núi lẫn trong mây trắng, núi chia đôi đường Nam Bắc làm thành tấm bình phong thiên nhiên cao ngất, chắn ngang con đường thiên lý, là ranh giới giữa hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam, lần đầu tiên vua Lê Thánh Tông đặt cửa quan Hải Vân để kiểm soát những người ra vào :

 

                        “ Hải Vân hoành giới việt nam thiên

 

Câu thơ mạnh mẽ, hùng tráng nói lên cái thế vững chãi của quần thể núi Hải Vân rạch ngang trời Nam như một bức trường thành kiên cố.

Chữ Việt Nam trong câu thơ này chưa phải là tên nước, tên chính thức lúc bấy giờ là Đại Việt, nhưng hai từ Việt và Nam đi liền nhau bắt đầu từ đây có thể là báo hiệu cho việc lấy tên nước về sau.       

 

Từ cửa biển Hải Vân nhìn  vũng Đồng Long bờ bến mênh mông, đêm khuya thanh vắng, ánh trăng vằng vặc giữa trời, thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng đã khơi nguồn thi hứng cho nhà vua vẽ nên một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp

 

                   “ Tam canh dạ tĩnh Đồng Long nguyệt

                      Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền”

 

Vũng Đồng Long còn gọi là vũng Thùng, tức là Vũng Sơn Trà. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí (q.VII- tỉnh Quảng Nam) chép:

 

Vũng Sơn Trà (tức vũng Thùng) ở phía bắc huyện Hòa Vang, lại có tên là vũng Đà Nẵng. Phía đông là núi Trà Sơn (Sơn Trà), phía bắc là núi Hải Vân, phía tây là tấn Cu Đê, dài rộng ước 25 dặm linh (có lẻ), phía đông nam là vũng Trà Sơn (tức vịnh Hàn) là vùng biển lớn, vừa rộng vừa sâu, có thể chứa được hàng ngàn thuyền ghe, phía ngoài có núi che, không phải lo về sóng gió; tàu thuyền đi lại gặp lúc chưa tiện gió, phần nhiều đổ tại đây

 

 Hai Van (1)

  (nguồn Internet)

 

Vịnh Đà Nẵng có hình cánh cung, được bao bọc bởi hai dãy núi Hải Vân và Sơn Trà nên rất kín gió, tàu bè neo đậu an toàn.

 

“Lộ Hạc “là tên nước, (Locac là bán đảo Mã Lai  ngày nay) thuyền của họ thường lui tới buôn bán ở đây. Câu thơ cho biết ít nhất thì từ thời Hậu Lê   (thế kỷ XV ), đã có thuyền nước ngoài đến buôn bán ở vịnh Đà Nẵng .

Sông Cổ Cò nối cửa Hàn Đà Nẵng và cửa Đại Chiêm ở Hội An, thuyền buôn các nước từ bắc xuống, qua cửa Hàn, theo sông Cổ Cò qua Ngũ Hành Sơn vào vụng Trà Quế tới Hội An buôn bán; từ phía nam lên, theo sông Trường Giang vào vụng Trà Nhiêu mà tới Hội An.

Trước thế kỷ XV, Hội An đã là nơi tập trung và phân phối hàng hóa của vương quốc Champa với các nước trong khu vực.

Như vậy nhìn về vịnh Đồng Long, vua Lê Thánh Tông không chỉ thấy một phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ thơ mộng mà nhà vua còn thấy được viễn cảnh kinh tế phồn vinh của vùng vịnh này.

Cũng chính vì vị trí chiến lược vô cùng quan trọng của Vịnh Đà Nẵng mà năm 1858, tàu Pháp đã vào Vũng Thùng nổ súng tấn công, khởi đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam:

                  

                                  Tai nghe súng nổ cái đùng

                             Tàu Tây đã tới Vũng Thùng bậu ơi

 

                  

                  

 Hai Van (2)

                   (nguồn Internet)

           

Hai câu kết :

 

                   “ Thử thân na đắc sinh hoàn hạnh ,

                      Cảm vọng Ban Siêu đáo Tửu Tuyền .”

 

Nói lên tinh thần sẵn sàng xả thân vì nước, không quản ngại về sự an nguy tính mạng của cá nhân nhà vua. Quyết định thân chinh của Lê Thánh Tông là một hành động vô cùng dũng cảm, là minh chứng hùng hồn cho tinh thần hy sinh đó, vì trong lịch sử nước nhà, đã từng có những vị vua anh dũng hy sinh ngoài trận địa như vua Trần Duệ Tông khi tiến quân vào thành Trà Bàn năm 1377.

Để khẳng định quyết tâm bình Chiêm, trừ bạo vì sự bình yên của bá tánh, vua đã ví mình với Ban Siêu, một vị tướng tài ba thời nhà Hán của Trung Quốc. Ban Siêu đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho chinh chiến, ông sống ở Tây Vực 31 năm, chinh phục hơn 50 nước Hung Nô, đến khi trở về thì tuổi đã già, tóc đã bạc “ Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về” (Chinh Phụ Ngâm )

Do sự so sánh này mà phần nguyên chú trong Thiên Nam dư hạ ghi là: “Nghi là sai, thực không phải ý của nhà vua.” Có thể vì người bình về hai câu thơ này nghĩ rằng “đời nào một vị vua lại  đi so sánh với một vị tướng nước ngoài, tứ thơ lại quá khiêm tốn, tự cho mình  còn kém cả Ban Siêu, thì đó không phải là khẩu khí của Lê Thánh Tông”( Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông - Viện nghiên cứu Hán Nôm ) .

Thực ra, do chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, các nhà thơ cổ điển nước ta mỗi khi nói đến một vấn đề gì, họ thuờng viện dẫn các sự kiện, nhân vật trong sử sách Trung Quốc để làm tăng thêm sức thuyết phục, ví dụ như Trương Hán Siêu ca ngợi chiến công của Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng đã viết :

 

                  “ Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay ,

                   Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi .”

                                      ( Bạch Đằng Giang Phú -Bùi Văn Nguyên dịch )

         

hoặc Nguyễn Khuyến trong bài Thu vịnh cũng nói :

 

                    “ Nhân hứng cũng vừa toan cất bút ,

                      Nghĩ ra lại thẹn vớI ông Đào”

 

Lê Thánh Tông là một vị vua uyên thâm Hán học, nên khi tâm hồn dạt dào cảm xúc, tứ thơ hứng khởi, ông cũng ví mình với Ban Siêu và tỏ ý khiêm nhường trước cổ nhân thì cũng là lẽ thường tình, thiết nghĩ chẳng có gì là không hợp.

 

Qua cửa biển Hải Vân, nhà vua đã  lưu  lại bài thơ vịnh cảnh Đồng Long Loan (vịnh Đà Nẵng ) hùng vĩ, thơ mộng, thể hiện lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước thiết tha của nhà vua .

Cuộc Nam chinh của vua Lê Thánh Tông đã mang về cho tổ quốc một vùng đất đai rộng lớn, phì nhiêu, góp phần đưa đất nước trở thành một quốc gia cường thịnh và đóng góp vào kho tàng văn học nhiều bài thơ có giá trị, trong đó đáng chú ý là phong cách ghi nhật kí bằng thơ của nhà vua .

 

Lê Thánh Tông  không chỉ là một vị vua anh minh, một nhà chính trị, văn hoá lỗi lạc mà còn là một nhà thơ lớn của nước ta nửa sau thế kỷ XV .

        

 

 

                                                                   CHÂU YẾN LOAN

                                                         

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/01/2026(Xem: 1015)
Trong giáo lý Duyên khởi, một đóa hoa sen nở không tự nhiên mà có, nó kết tinh từ bùn nhơ, nước sạch, ánh sáng và bàn tay người chăm sóc. Cũng vậy, sự vững chãi của Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu hay Âu Châu hôm nay không tự nhiên thành hình, mà chính là kết quả của những nhân duyên thâm sâu, được vun bồi bởi những bước chân hoằng pháp không biết mỏi mệt của các bậc Cao tăng. Trong số đó, Hòa thượng Thích Như Điển - Phượng trượng chùa Viên Giác tại Đức Quốc - hiện thân như một “Như Lai sứ giả”, viết tiếp những trang sử truyền bà Phật pháp huy hoàng của Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại.
30/01/2026(Xem: 3051)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 2484)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 830)
Trong Việt Nam Phật giáo Sử luận, tập một, khi bàn về sự liên hệ giữa thiền và thi ca, giáo sư Nguyễn Lang viết: “Thi ca không có hình ảnh thì không còn là thi ca nữa, cũng như đi vào lý luận siêu hình thì Thiền không còn có thể là Thiền nữa.” Nhưng thế nào là hình ảnh, giáo sư Nguyễn Lang giải thích: “Khi Vô Ngôn Thông được hỏi về Thiền và thiền sư, ông đã im lặng lấy tay chỉ vào một gốc cây Thoa lư. Thiền và thiền sư trong lãnh vực đàm luận có thể là những khái niệm trừu tượng, gốc cây Thoa lư là hình ảnh cụ thể của thực tại, nếu nhìn gốc cây Thoa lư trong trong chính thực tại của nó tức là đã xâm nhập thế giới Thiền và trở thành thiền sư. Các thiền sư không bao giờ muốn đưa học trò của mình vào thế giới suy luận trừu tượng”.[1]
30/01/2026(Xem: 2475)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
30/01/2026(Xem: 1200)
Tác giả Thích Phước An vừa có cuộc hội ngộ vào sáng 18-11 cùng bạn đọc tại Sài Gòn trong cảm xúc hướng về văn hóa Phật giáo Việt Nam, nhân dịp tập sách Đường về núi cũ chùa xưa được tái bản.
24/01/2026(Xem: 1927)
Hoài niệm về một điều gì vẫn là việc cần thiết để nhớ về những chuyện cũ, việc xưa đã xảy ra trong đời mình. Do vậy tôi vẫn thường hay chọn cách viết tường thuật hay ký sự, để cho người đời sau, biết đâu có ai đó muốn tìm lại lối chim di thì dễ dàng hơn là phải mất công tìm tòi, tra cứu. Nếu không là hoàn toàn sự thật thì cũng là một dấu ấn đã trải qua, và dầu cho có phai mờ đi chăng nữa thì đó cũng là những lần đã trải qua như thế.
21/01/2026(Xem: 1212)
Ni Sư Daehae, cũng là nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng, đã thắng giải thưởng Phim truyện xuất sắc nhất (Best Fiction Film) tại Đại hội điện ảnh Bangladesh, theo tin của báo Korea Joong Ang Daily ngày 19/1/0226. Liên hoan phim quốc tế Bangladesh (DIFF: Dhaka International Film Festival) lần thứ 24 tổ chức tại Dhaka từ ngày 10 tới ngày 18/1/2026 đã hoàn tất. Phóng viên Baik Sung-Ho viết rằng Ni Sư Hàn quốc, cũng là nhà đạo diễn phim, Daehae Sunim đã thắng giải thưởng phim truyện xuất sắc nhất tại Liên hoan phim quốc tế Dhaka vào Chủ nhật vừa qua với bộ phim có chủ đề về tiềm năng tâm linh của con người (human spiritual potential), đánh dấu một cột mốc quan trọng khác trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Ni Sư với hơn 120 tác phẩm điện ảnh.
20/01/2026(Xem: 828)
Tôi đến thăm sư vào một ngày đông lạnh, khi mà những cụm tuyết trắng còn đọng trên mái hiên, tạo thành khối đá, rồi từng giọt nhỏ xuống, dần tan. Tôi bước lên thềm hiên, mái ngói nhỏ chìa ra hai đường cong sơn đỏ, giáp vàng. Hình bánh xe pháp luân nằm giữa hai con nai trạm gỗ, trông rất xinh và thiền vị. Tôi bấm chuông, sư vội xuống cầu thang, mở cửa mời tôi vào. Đây watlao, cơ ngơi này được cải dáng thành một ngôi chùa nằm gọn giữa một rừng thông rộng lớn, thuộc Willington cận bắc Connecticut.
13/01/2026(Xem: 2291)
Trong bối cảnh năm 2026, khi công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển mạnh mẽ, con người càng có xu hướng quay về với tâm linh. Nhưng đôi khi lễ nghi hình thức thái quá không biểu lộ gì được sự khiêm cung mà chỉ là đi kèm sự bùng nổ của các hình thức "tâm linh trình diễn” .