Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Hải Vân Hải Môn Lữ Thứ

24/07/201709:03(Xem: 4519)
Hải Vân Hải Môn Lữ Thứ

Hai Van (1)

HẢI VÂN HẢI MÔN LỮ THỨ
CHÂU YẾN LOAN

 

 

Hải Vân hải môn lữ thứ là bài thơ của vua Lê Thánh Tông được sáng tác trong chiến dịch Bình Chiêm vĩ đại năm 1470 khi nhà vua kéo quân ngang qua vịnh Đà Nẵng.

Lê Thánh Tông (1442 -1497 ) tên thật là Tư Thành, lên ngôi vua năm 1460, mười năm đầu lấy niên hiệu là Quang Thuận, sau đổi niên hiệu là Hồng Đức. Ba mươi tám năm trị vì, với trí tuệ sáng suốt và đức độ của mình ông đã đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển đất nước trên nhiều lĩnh vực : chính trị, quân sự, kinh tế ,giáo dục, văn học, nghệ thuật v.v..và dựng lên một vương triều thịnh vượng nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.

 

Thời nhà Hồ, biên giới Đại Việt đã vào tới Chiêm Động và Cổ Luỹ Động (phía bắc tỉnh Quảng Ngãi ), nhà Hồ chia hai động này thành bốn châu : Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa đặt An phủ sứ và Phó sứ lộ Thăng Hoa để cai trị . Khi quân Minh sang đánh nước ta, họ Hồ thua chạy, Chiêm Thành đem quân  chiếm lại Chiêm Động và Cổ Luỹ rồi đánh Hoá Châu. Từ thời Lê Nhân Tông, năm Thái Hoà thứ II (1444 ) cho đến thời Lê Thánh Tông , năm Hồng Đức thứ I (1470 ) quân Chiêm đã 4 lần đánh phá Hoá châu. Năm 1469, vua Chiêm là Bàn La Trà Toàn dấy binh, rồi tháng 8 năm sau (1470 ) lại đem 10 vạn quân và một đoàn kỵ binh tấn công lần nữa. Thủ ngữ Kinh lược sứ Thuận Hoá là Phạm văn Hiển không chống nổi, phải rút vào thành cố thủ và phi báo về triều đình. Trước tình hình đó, vua Lê Thánh Tông phải xuống chiếu thân chinh.

Ngày 6 tháng 11 năm Canh Dần (1470 ) bắt đầu xuất quân. Vua sai Chinh lỗ tướng quân Thái sư Lân Quận Công  Đinh Liệt, Chinh lỗ phó tướng quân Thái bảo Kỳ Quận Công Lê Niệm đem 10 vạn thủy quân đi trước, ngày Canh Dần 16 tháng 11 vua đốc suất 15 vạn thủy quân đi tiếp theo.

Trên đường Nam chinh từ cửa biển Thần Phù ( tỉnh Thanh Hoá ) tới cửa Thị Nại ( tỉnh Bình Định ) nhà vua đã đi qua 39 cửa bể :

 

                      “Thử khứ hải  môn tam thập cửu

                      Kế trình hà nhật đáo Ô Châu ?”

                                     (  Thần Phù hải môn lữ thứ )

                   Chuyến đi này vượt qua ba mươi chín cửa biển ,

                     Tính đoạn đường, biết ngày nào mới tới Ô Châu ?

                                                  ( Ngô Linh Ngọc dịch )

 

Vốn là một vị vua nổi tiếng về tài thơ văn, nên những cảnh  thiên nhiên hùng  vĩ của tổ quốc đã trở thành nguồn cảm hứng thơ ca của ông, đến đâu ông cũng ghi lại những cảm xúc của mình trong những bài thơ. Ngoài 30 bài

trong Chinh Tây kỷ hành thi tập miêu tả phong cảnh đất nước dọc đường hành quân, trong Minh Lương Cẩm tú thi tập còn có 14 bài vịnh các cửa biển gọi là Ngự chế các hải môn thi (thơ về các cửa biển của nhà vua ): 1) Thần Phù hải môn lữ thứ, 2) Giáp hải môn lữ thứ, 3) Du hải môn lữ thứ, 4) Càn hải môn lữ thứ, 5) Đan Nhai hải môn lữ thứ, 6) Nam Giới hải môn lữ thứ, 7) Kỳ La hải môn lữ thứ, 8) Hà Hoa hải môn lữ thứ, 9) Xích Lỗ hải môn lữ thứ, 10) Di Luân hải môn lữ thứ, 11) Bố Chính hải môn lữ thứ, 12) Nhật Lệ hải môn lữ thứ, 13) Tư Dung hải môn lữ thứ và khi thuyền rồng qua cửa biển Hải Vân - cửa biển nằm ở phái bắc thành phố Đà Nẵng, giáp ranh với tỉnh Thừa Thiên Huế - vua Lê Thánh Tông đã sáng tác bài thơ :

 

                                              海雲海門旅次

 

混一車書共幅員

海雲橫界越南天

三更夜靜銅龍月

五鼓風清路鶴船

夷落奉參期款塞

閫臣愛國巧籌邊

此身那得生還幸

敢望班超到酒泉

 

                                Hải Vân hải môn lữ thứ 

                             Hỗn nhất thư xa cộng bức quyên
                            Hải Vân hoành giới Việt Nam thiên

                             Tam canh dạ tĩnh Đồng Long nguyệt

                             Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền

                             Di lạc phụng thâm kỳ khoản tái

                             Khổn thần ái quốc xảo trù biên
                             Thử thân na đắc sinh hoàn hạnh

                             Cảm vọng Ban Siêu đáo Tửu Tuyền .

 

Qua cửa biển Hải Vân

 

Giang sơn trọn bức dư đồ

Hải Vân giang rộng mở cờ vượt Nam

Đồng Long vằng vặc trăng nằm

Con thuyền Lộ Hạc canh năm dập dềnh

Người Di hẹn đất dâng lên

Khổ thân viên tướng giữ nền biên cương

Sá chi sống chết sa trường,

Ban Siêu chín suối thẹn nhường được sao?

                                                (Nguyễn Thiếu Dũng dịch)

                                     

Ngày mồng 2 tháng giêng năm Tân Mão (1471) vua vào tới Thuận Hóa cho quân ra biển tập thủy chiến rồi sai thổ tù ở Thuận Hóa là Nguyễn Vũ vẽ bản đồ của Chiêm Thành dâng lên cho vua.

Sách Thiên Nam Dư Hạ Tập chép rằng : Vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, đóng quân ở Hải Vân Quan, đêm khuya không ngủ, vừa đứng ngắm núi biển, đèo, mây, nước, có câu thơ:

 

Tam canh dạ tĩnh Đồng Long Nguyệt

Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền

 

Vua thân đem đại quân đánh phá thành Thị Nại, vây thành Trà Bàn

Ngày 1 tháng 3 năm Tân Mão (1471), hạ thành Trà Bàn, bắt sống vua Chiêm là Trà Toàn đưa về nước cùng 30.000 quân sĩ và 50 người trong hoàng tộc bị bắt làm tù binh.

Ngày mồng 1 tháng 5 năm Tân Mão (1471), làm lễ mừng thắng trận.

Công cuộc bình Chiêm thắng lợi, vua đổi Thăng Châu , Hoa Châu thành ba  huyện Lê Giang, Hy Giang và Hà Đông thuộc phủ Thăng Hoa; Tư Châu, Nghĩa Châu thành ba huyện Bình Sơn, Nghĩa Giang và Mộ Hoa, thuộc phủ Tư Nghĩa. Chia đất cũ của Chiêm Thành là Đồ Bàn thành ba huyện Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn, thuộc phủ Hoài Nhơn, đặt ba phủ rồi đưa tù nhân ba loại bị tội đồ tới đây để “cấy người ở biên giới” (thực biên )

Với chiến thắng này, nhà vua không những  thực hiện được ý định khôi phục bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, chấm dứt nạn binh đao, đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân, mà còn mở rộng biên cương đến miền Vijaya, tức là phủ Hoài Nhơn (ngày nay là Bình Định ).

 

Tháng 6 năm 1471, vua Lê Thánh Tông lấy ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn lập thành đạo thứ mười ba là Quảng Nam Thừa tuyên đạo, sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, đúng như mục đích xuất chinh mà nhà vua đã nói trong câu thơ mở đầu:

 

                              “ Hỗn nhất thư xa cộng bức quyên” 

Danh xưng Quảng Nam ra đời từ lúc ấy.

                               

                            “ Hải Vân hoành giới Việt Nam thiên

Câu thơ nêu bật vị trí hiểm yếu, quan trọng của núi Hải Vân đối với lãnh thổ Đại Việt.

Hải Vân là một quần thể núi non hùng vĩ ở cuối Trường Sơn Bắc, đâm ra tới biển Đông, ngọn núi chính là Hải Vân Sơn cao 1192m còn có tên là Cao An Lĩnh hợp với các ngọn núi Đại Tu Nông, Tiểu Tu Nông, núi Tía, núi Kiền Kiền về phía tây từ biên giới Lào chạy tới. Hải Vân Sơn cùng với Bà Sơn và Hải Sơn là ba ngọn núi cao nhất liên tiếp xen nhau, đỉnh núi cao thấu từng mây, chân núi chạy thẳng ra bờ biển, dọc theo các sườn núi thuộc quần thể Hải Vân còn có những khe với những tảng đá muôn hình vạn trạng rải dài tận biển như khe Kỹ, khe Vu, khe Hổ Lang, khe Bé, khe Lớn. Phía Bắc chân núi có hang Dơi khoét sâu vào, nơi đây thường có sóng to gió lớn nhấn chìm ghe thuyền khiến người qua đó phải ngại bước chùn chân:

 

                                        “Đi bộ thì khiếp Hải Vân,

                             Đi biển thì sợ sóng thần hang Dơi”

 

Từ xưa, Hải Vân đã được chú ý vì nó chiếm giữ một vị trí chiến lược quan trọng :  là phên giậu phía nam của nước Đại Việt. Hải Vân đã từng là địa đầu chiến tuyến giữa hai lực lượng Việt – Chiêm trong chiến dịch Bình Chiêm của Lê Thánh Tông năm 1470-1471. Phía Bắc Hải Vân, nhà vua đặt hành điện tại cửa Tư Dung (nay là cửa Tư Hiền) để cho thủy quân diễn tập chuẩn bị vào trận còn phía Nam Hải Vân thì tướng Bồng Nga Sa của Chiêm Thành đang trấn giữ Cu Đê.

Hải Vân núi cao, vực thẳm đường đi hiểm trở gian nguy thường được ví như đường vào đất Thục:

 

Ải lĩnh xuân vân-                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                

Việt Nam xung yếu thử sơn điên

Tuyệt lĩnh hoàn như Thục đạo thiên

Đản kiến vân hoành tam tuấn lĩnh,

Bất tri nhân tại kỷ trùng thiên…

(Nguyễn Phúc Chu)

 

Mây xuân đỉnh Ải

 

Việt Nam hiểm yếu Hải Vân sơn

Thăm thẳm đường lên Thục đạo nan

Chỉ thấy mây vờn ba đỉnh núi

Đâu biết người đâu lẫn mấy tầng

 (Nguyễn Thiếu Dũng dịch)

 

Chân núi Hải Vân sát với biển xanh, ngọn núi lẫn trong mây trắng, núi chia đôi đường Nam Bắc làm thành tấm bình phong thiên nhiên cao ngất, chắn ngang con đường thiên lý, là ranh giới giữa hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam, lần đầu tiên vua Lê Thánh Tông đặt cửa quan Hải Vân để kiểm soát những người ra vào :

 

                        “ Hải Vân hoành giới việt nam thiên

 

Câu thơ mạnh mẽ, hùng tráng nói lên cái thế vững chãi của quần thể núi Hải Vân rạch ngang trời Nam như một bức trường thành kiên cố.

Chữ Việt Nam trong câu thơ này chưa phải là tên nước, tên chính thức lúc bấy giờ là Đại Việt, nhưng hai từ Việt và Nam đi liền nhau bắt đầu từ đây có thể là báo hiệu cho việc lấy tên nước về sau.       

 

Từ cửa biển Hải Vân nhìn  vũng Đồng Long bờ bến mênh mông, đêm khuya thanh vắng, ánh trăng vằng vặc giữa trời, thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng đã khơi nguồn thi hứng cho nhà vua vẽ nên một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp

 

                   “ Tam canh dạ tĩnh Đồng Long nguyệt

                      Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền”

 

Vũng Đồng Long còn gọi là vũng Thùng, tức là Vũng Sơn Trà. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí (q.VII- tỉnh Quảng Nam) chép:

 

Vũng Sơn Trà (tức vũng Thùng) ở phía bắc huyện Hòa Vang, lại có tên là vũng Đà Nẵng. Phía đông là núi Trà Sơn (Sơn Trà), phía bắc là núi Hải Vân, phía tây là tấn Cu Đê, dài rộng ước 25 dặm linh (có lẻ), phía đông nam là vũng Trà Sơn (tức vịnh Hàn) là vùng biển lớn, vừa rộng vừa sâu, có thể chứa được hàng ngàn thuyền ghe, phía ngoài có núi che, không phải lo về sóng gió; tàu thuyền đi lại gặp lúc chưa tiện gió, phần nhiều đổ tại đây

 

 Hai Van (1)

  (nguồn Internet)

 

Vịnh Đà Nẵng có hình cánh cung, được bao bọc bởi hai dãy núi Hải Vân và Sơn Trà nên rất kín gió, tàu bè neo đậu an toàn.

 

“Lộ Hạc “là tên nước, (Locac là bán đảo Mã Lai  ngày nay) thuyền của họ thường lui tới buôn bán ở đây. Câu thơ cho biết ít nhất thì từ thời Hậu Lê   (thế kỷ XV ), đã có thuyền nước ngoài đến buôn bán ở vịnh Đà Nẵng .

Sông Cổ Cò nối cửa Hàn Đà Nẵng và cửa Đại Chiêm ở Hội An, thuyền buôn các nước từ bắc xuống, qua cửa Hàn, theo sông Cổ Cò qua Ngũ Hành Sơn vào vụng Trà Quế tới Hội An buôn bán; từ phía nam lên, theo sông Trường Giang vào vụng Trà Nhiêu mà tới Hội An.

Trước thế kỷ XV, Hội An đã là nơi tập trung và phân phối hàng hóa của vương quốc Champa với các nước trong khu vực.

Như vậy nhìn về vịnh Đồng Long, vua Lê Thánh Tông không chỉ thấy một phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ thơ mộng mà nhà vua còn thấy được viễn cảnh kinh tế phồn vinh của vùng vịnh này.

Cũng chính vì vị trí chiến lược vô cùng quan trọng của Vịnh Đà Nẵng mà năm 1858, tàu Pháp đã vào Vũng Thùng nổ súng tấn công, khởi đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam:

                  

                                  Tai nghe súng nổ cái đùng

                             Tàu Tây đã tới Vũng Thùng bậu ơi

 

                  

                  

 Hai Van (2)

                   (nguồn Internet)

           

Hai câu kết :

 

                   “ Thử thân na đắc sinh hoàn hạnh ,

                      Cảm vọng Ban Siêu đáo Tửu Tuyền .”

 

Nói lên tinh thần sẵn sàng xả thân vì nước, không quản ngại về sự an nguy tính mạng của cá nhân nhà vua. Quyết định thân chinh của Lê Thánh Tông là một hành động vô cùng dũng cảm, là minh chứng hùng hồn cho tinh thần hy sinh đó, vì trong lịch sử nước nhà, đã từng có những vị vua anh dũng hy sinh ngoài trận địa như vua Trần Duệ Tông khi tiến quân vào thành Trà Bàn năm 1377.

Để khẳng định quyết tâm bình Chiêm, trừ bạo vì sự bình yên của bá tánh, vua đã ví mình với Ban Siêu, một vị tướng tài ba thời nhà Hán của Trung Quốc. Ban Siêu đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho chinh chiến, ông sống ở Tây Vực 31 năm, chinh phục hơn 50 nước Hung Nô, đến khi trở về thì tuổi đã già, tóc đã bạc “ Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về” (Chinh Phụ Ngâm )

Do sự so sánh này mà phần nguyên chú trong Thiên Nam dư hạ ghi là: “Nghi là sai, thực không phải ý của nhà vua.” Có thể vì người bình về hai câu thơ này nghĩ rằng “đời nào một vị vua lại  đi so sánh với một vị tướng nước ngoài, tứ thơ lại quá khiêm tốn, tự cho mình  còn kém cả Ban Siêu, thì đó không phải là khẩu khí của Lê Thánh Tông”( Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông - Viện nghiên cứu Hán Nôm ) .

Thực ra, do chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, các nhà thơ cổ điển nước ta mỗi khi nói đến một vấn đề gì, họ thuờng viện dẫn các sự kiện, nhân vật trong sử sách Trung Quốc để làm tăng thêm sức thuyết phục, ví dụ như Trương Hán Siêu ca ngợi chiến công của Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng đã viết :

 

                  “ Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay ,

                   Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi .”

                                      ( Bạch Đằng Giang Phú -Bùi Văn Nguyên dịch )

         

hoặc Nguyễn Khuyến trong bài Thu vịnh cũng nói :

 

                    “ Nhân hứng cũng vừa toan cất bút ,

                      Nghĩ ra lại thẹn vớI ông Đào”

 

Lê Thánh Tông là một vị vua uyên thâm Hán học, nên khi tâm hồn dạt dào cảm xúc, tứ thơ hứng khởi, ông cũng ví mình với Ban Siêu và tỏ ý khiêm nhường trước cổ nhân thì cũng là lẽ thường tình, thiết nghĩ chẳng có gì là không hợp.

 

Qua cửa biển Hải Vân, nhà vua đã  lưu  lại bài thơ vịnh cảnh Đồng Long Loan (vịnh Đà Nẵng ) hùng vĩ, thơ mộng, thể hiện lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước thiết tha của nhà vua .

Cuộc Nam chinh của vua Lê Thánh Tông đã mang về cho tổ quốc một vùng đất đai rộng lớn, phì nhiêu, góp phần đưa đất nước trở thành một quốc gia cường thịnh và đóng góp vào kho tàng văn học nhiều bài thơ có giá trị, trong đó đáng chú ý là phong cách ghi nhật kí bằng thơ của nhà vua .

 

Lê Thánh Tông  không chỉ là một vị vua anh minh, một nhà chính trị, văn hoá lỗi lạc mà còn là một nhà thơ lớn của nước ta nửa sau thế kỷ XV .

        

 

 

                                                                   CHÂU YẾN LOAN

                                                         

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2024(Xem: 27139)
Phật giáo Việt Nam trong hai thế kỷ cận đại và hiện đại, xuất hiện một số nhân vật đạo hạnh cao vời, kỳ tài xuất chúng, có những cống hiến to lớn, dài lâu cho Đạo pháp và Dân tộc. Ngôn ngữ nhà Thiền xưng tụng những vị này là Bồ-tát, Đại sĩ, Thánh Tăng, hay Long Tượng, là những tôn danh chỉ được tìm thấy trong kinh điển, sử sách, trong lịch sử truyền miệng hoặc trên những bia đá ngàn năm nơi cổ tháp. Triết gia Phạm Công Thiện trong buổi ra mắt tác phẩm “Huyền Thoại Duy Ma Cật” của Hòa thượng Tuệ Sỹ tại thành phố Houston, tiểu bang Texas ngày 04 tháng 11 năm 2007, đã gọi tác giả là “bậc Long Tượng: Tuệ Sỹ” và diễn giải thêm, “Long Tượng là bậc Thầy của cả một dân tộc, nếu chưa muốn nói là bậc Thầy của thế giới.”
15/07/2024(Xem: 421)
Ba Mươi Năm vun bồi ngôi nhà Tâm Linh Phước Huệ Hạt giống Phật tưới tẩm thương yêu hiểu biết đơm hoa Chữ Duyên trong đạo Phật thật thâm trầm áo nghĩa, đất Thục-quỳnh-mai, nơi Đạo Tràng Phước Huệ thành lập và sinh hoạt đến nay đã tròn Ba Mươi Năm, cũng từ chữ “duyên” đó. Khởi đi là, vào một ngày đẹp trời đầu tháng 8, năm 1994, Thầy Tâm Ngoạn lái xe từ Seattle về Los Angles, mời chúng tôi lên xe, cùng Thầy thăm viếng miền Tây Bắc Hoa Kỳ vì, trước đây đã ba lần, mỗi lần về LA, Thầy rất chân thành mời chúng tôi đến Seattle lập chùa, nhưng, chúng tôi đều một mực từ chối
30/06/2024(Xem: 1454)
Trúc Lâm Đầu Đà, Ngài tên thật là Trần Khâm. Sinh năm 1258, lên ngôi năm 1278, ở ngôi 15 năm từ 1278 đến 1293, nhường ngôi cho con lên làm Thượng hoàng 6 năm từ 1293 đến 1299, sau đó ngài đi tu 9 năm từ năm 1299 đến năm 1308. Năm 1308 ngài viên tịch. Trụ thế 50 tuổi Tây, 51 tuổiTa. Đó là cuộc đời của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Ngài là anh hùng dân tộc, là một bậc minh quân, là vị tổ khai sáng ra dòng thiền Việt Nam. Hồi Thứ Nhất:
30/06/2024(Xem: 240)
Hôm nay, chúng con lại có duyên lành đến cúng dường Tăng an cư tại trú xứ Tăng Già lam-Quảng Hương, Phật lịch 2568, thấy chư Tôn đức Tăng hiện tiền hòa hợp thanh tịnh; nhưng nhìn lên Hương thất, thấy Tôn dung Trí Quang Thượng nhân không còn mà vẫn còn phảng phất hương thơm; nhìn kỹ trong đại chúng, không thấy hình ảnh từ hòa, đôn hậu của Hòa thượng Thích Đức Chơn, người mà mới ngày nào đó dạy dỗ chúng con và cùng chúng con đi Canada dự lễ về nguồn tại chùa Phổ Đà Sơn của Hòa thượng Thích Bổn Đạt và lại cũng không thấy bóng dáng Hòa thượng Thanh Huyền đang ở nơi đâu, giữa cõi đời “Không không sắc sắc” này. Nhìn vào Thị ngạn am, bậc Thượng sĩ đã “Thiên lý độc hành”, chỉ thoáng thấy bóng dáng hao gầy và nghe tiếng đàn Dương cầm hay Piano từ tâm thức kính thương của chúng con vọng lại
29/06/2024(Xem: 777)
Những tháng đầu năm 2021, Út Bình bên Mỹ vẫn thường âm thầm theo dõi Facebook của tôi, thấy biết tôi đang tích cực phụng sự Đạo pháp, theo chư Tăng lên các chùa ở sâu vùng xa để chụp ảnh, viết bài, đưa tin đến các trang Phật giáo trong và ngoài nước, liền nhắn tin tặng tôi chiếc laptop của Út còn cất trong tủ ở nhà từ đường. Ý của em là tiếp sức cho tôi có phương tiện hiện đại hơn để truyền tin tại chỗ, chứ đi dự lễ các chùa trên vùng núi cả buổi, chiều về mới ngồi vào máy tính viết tin bài, chọn ảnh để gửi đi thì chậm quá
27/06/2024(Xem: 691)
Phát hành vào tháng 7 năm 2024 Nhân Kỷ Niệm 45 Năm Thành Lập Chùa Viên Giác Đức Quốc và 45 Năm Xuất Bản Báo Viên Giác, Viên Giác Tùng Thư Đức Quốc ấn hành Đặc San Văn Hóa Phật Giáo chủ đề "Người Cư Sĩ Phật Giáo" để chào mừng những sự kiện nêu trên. Đặc San năm 2024 này (lần thứ sáu) được sự góp mặt của 50 văn thi sĩ và 4 họa sĩ, nhiếp ảnh gia trong và ngoài nước. Sách in màu, 658 trang, khổ 6x9 inches.
24/06/2024(Xem: 463)
Đến, vào rồi ra khỏi trên 100 ngôi già lam thánh chúng trong tỉnh, tôi đều gặp thuận duyên. Thuận, có nhiều kiểu thuận khác nhau. Nếu đến các ngôi chùa mình đã từng thường lui tới, xem là "chùa nhà" (như Hải Ấn Ni Tự, Kỳ Viên Trung Nghĩa, Sắc Tứ Kim Sơn...) thì đương nhiên là quá thuận rồi. Đến các ngôi chùa với tờ giấy giới thiệu của Ban Trị Sự Tỉnh Giáo Hội, tờ giấy có con dấu đỏ như giấy thông hành, như "bùa hộ mệnh", khi trình ra là được đón tiếp cho dù là niềm nở và cởi mở hay thận trọng và nghi ngại, thì rốt cuộc cũng là được thuận lợi, nhiệm vụ hoàn thành. Đến những ngôi chùa được các vị trụ trì có nhã ý mời tham dự lễ lạt thì dĩ nhiên không có gì là chướng ngại, là rào cản. Có nhiều chùa tôi thuận duyên đến mà không được gặp vị trụ trì, phải lần thứ hai, thứ ba mới được yết kiến, nhưng đó cũng là thuận, là chưa đúng thời điểm, chưa hội đủ duyên lành chứ không phải nghịch duyên, chướng duyên.
22/06/2024(Xem: 563)
Có nhiều người khi sinh con ra, bên cạnh tên thật hay, thường có một tên khác gọi ở nhà dí dỏm dễ thương, hay tên thật dở để khỏi bị “bà” bắt. Bà ở đây là bà nào không ai biết được, thế nhưng nhiều người vẫn sợ rồi kiêng. Riêng đối với bà Thịnh, bà không tin như thế, ngược lại, bà cần con cháu bà tên thật hay, phải có ý nghĩa nữa để đem may mắn vận vào cuộc đời nó.
21/06/2024(Xem: 1065)
Trong lúc dọn dẹp lại thư viện kinh sách bé nhỏ của mình, người viết vừa nâng niu, vừa bâng khuâng xao xuyến khi nhìn kỹ lại hơn 50 tác phẩm được biên soạn bằng chính năng lực, trí tuệ của quý danh tăng của thế kỷ 20 -21 đã ký tặng( mà người viết cho đấy là sách giáo khoa hàn lâm về Phật Giáo ) với những dòng chữ thật trân quý đầy tinh thần nhân văn cao cả của lý tưởng, lại mang đậm các giá trị đạo đức truyền thống trong Phật Giáo mà trong suốt đời tu học, khoảng 10 năm gần đây người viết mới được tiếp xúc những bậc hiền triết này.
15/06/2024(Xem: 752)
Sau khi bang Niedersachsen của ông Tiến sĩ Albrecht thu nhận hơn 1.000 thuyền nhân từ chiếc tàu Hải Hồng, phân phối đi các vùng trong bang nhưng đông nhất vẫn là thành phố thủ phủ Hannover. Các thuyền nhân tỵ nạn này vừa từ cõi chết đi lên, nên rất cần một chỗ dựa cho tâm linh. Sau chuyến vượt biên thoát nạn, họ đã cầu nguyện Đức Mẹ Maria cứu vớt nếu là người Công giáo. Còn Phật giáo họ sẽ niệm Mẹ hiền Quán Thế Âm, hai hình tượng đã in sâu vào tâm thức, họ tin chắc hai Vị này đã ra tay cứu độ đưa họ đến bến bờ bình yên.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
50,000,000