Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Giữ gìn tiếng Việt cho con

05/04/201616:11(Xem: 4596)
Giữ gìn tiếng Việt cho con


Thai Dac Nhuong-7

Hạt giống yêu thương (Bài 89)
Giữ gìn tiếng Việt cho con




Với những bậc cha mẹ Việt sống tại hải ngoại, được nghe con nói tiếng mẹ đẻ là hạnh phúc lớn lao, đòi hỏi sự nỗ lực không nhỏ. Làm thế nào để gieo cho con tình yêu tiếng Việt là câu hỏi lớn với những người làm giáo dục.






Thai Dac Nhuong-8

Tiếng Việt ở hải ngoại sẽ đi về đâu?

“Tiếng Việt còn trong mọi người, người Việt còn thì còn nước non; Giữ tiếng Việt như ngày nào, hào hùng xưa mãi vọng ngàn sau; Hồn Việt mình còn nguyên vẹn tròn; Giữ tiếng Việt cho nối đời, lời quê hương ấy lời sắc son.” Những ca từ trong bài hát “Thương ca tiếng Việt” do Đức Trí sáng tác như tấc lòng của rất nhiều người Việt sống ở hải ngoại.

Các bậc phụ huynh có con sinh ra ở nước ngoài có lẽ không ít lần tự hỏi, làm sao để giữ gìn tiếng Việt cho con, làm sao để gieo cho trẻ thơ tình yêu tiếng mẹ, tiếng quê hương?

Đó cũng là trăn trở của  ông Thái Đắc Nhương, hiệu trưởng trường Việt ngữ Lạc Hồng tại Melbourne.

Trước năm 1975, ông là cựu giáo chức tại Sài Gòn. Ông đến Úc với tư cách người tị nạn và làm nhân viên xã hội cho Bộ Dịch Vụ Cộng Đồng hơn 25 năm.

Ông Thái Đắc Nhương thành lập trường Việt Ngữ Lạc Hồng năm 1984 như lời đáp cho câu hỏi “Tiếng Việt ở Úc rồi sẽ về đâu.  Bộ sách Em Học Tiếng Việt từ  lớp Mẫu giáo đến lớp 12 được ông viết từ năm 1990 và hoàn thành vào năm 2000.

“Mình đặt tên con là Xuân Việt để nhắc cháu luôn nhớ mình là người Việt, phải hiểu và nói được tiếng Việt. Ở cương vị làm cha mẹ, mình rất buồn khi nghĩ rằng tiếng Việt rồi sẽ mai một qua nhiều thế hệ”.  Chị Quyên Trần.

Những ngày đầu dạy tiếng Việt tại Úc vô cùng khó khăn, cả việc tìm địa điểm giảng dạy cho đến giáo trình. Thầy cô hầu như “đánh võ tự do”, theo cách giảng dạy cũ trong việc dạy tiếng Việt cho các em, ông Nhương chia sẻ.

Sau này, chương trình ngày một thay đổi theo hướng thực tế, đàm thoại, ngắn gọn, giúp các em hiểu về gia đình, văn hóa và xây dựng kỹ năng giao tiếp trong gia đình.

Những người giữ lửa

Nhu cầu học tiếng Việt ngày một giảm, khi các bậc phụ huynh thế hệ thứ Hai sinh đẻ ở Úc không thể nói tiếng Việt nhiều với các con, áp lực học tập trong trường chính khóa ngày một tăng cũng như chương trình thi VCE chung cho du học sinh và học sinh bản địa khiến các em gặp nhiều trở ngại.

Thế nhưngvới hầu hết cha mẹ, việc giữ gìn tiếng Việt cho con là cái gốc, cái nôi trong cuộc sống hàng ngày.

Chị Trần Hồng Thắm, mẹ của bé Dương Hồng Duyên chia sẻ với SBS niềm tự hào khi con biết thưa gửi ông bà, cha mẹ.

“Khi con đi học về, bé kể chuyện trường lớp bằng tiếng Việt làm tình cảm gia đình như gắn kết hơn. Cháu thường xuyên nói chuyện và mời ông bà đi dự sinh nhật bằng tiếng Việt làm ông bà rất vui”.

“Tiếng Việt mình còn thì bản sắc và văn hóa Việt Nam ở hải ngoại sẽ còn”. Ông Thái Đắc Nhương

Trăn trở của chị Hồng Thắm là khi con càng lớn, thì việc dạy tiếng mẹ đẻ càng khó hơn: “Khi con còn nhỏ, chúng như tờ giấy trắng, dạy rất dễ dàng. Nhưng khi con lớn hơn thì cha mẹ phải thay đổi phương pháp giảng dạy”.

Phương pháp của chị Thắm là tâm sự thường xuyên với con, cho con nghe nhạc Việt và kể chuyện các câu chuyện cổ tích cho con mỗi đêm. Nhờ công sức của cha mẹ, Hồng Duyên thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ và hiểu biết sâu sắc về văn hóa Việt Nam.

Ông Thái Đắc Nhương cho rằng cha mẹ nên khuyến khích hơn là sửa phạt khi con dạy con tiếng Việt

“Khi chấm điểm bài làm cho các em, thấy các em làm sai nhiều quá, tôi không nỡ cho điểm thấp, mà chỉ cho các em sai ở chỗ nào, để các em sửa lại, rồi chấm điểm cao hơn.”.

Chị Quyên Trần, mẹ của bé Xuân Việt cũng có chung tâm sự, chị còn gửi gắm hy vọng tình yêu ngôn ngữ vào tên của con trai.

Chị Quyên chia sẻ ngay từ khi Việt còn bé, chị thường thủ thỉ với con rằng, phải học giỏi tiếng Việt để trò chuyện với mẹ cho tình cảm và để còn có thể trò chuyện với ông bà ngoại của mình ở Mỹ, chị động viên con rằng biết thêm tiếng Việt sẽ giỏi hơn các bạn Tây.

“Có những khi cháu dùng từ sai, mẹ “lấy” con đi thay vì mẹ “giúp” con làm gì đó, hoặc mẹ “bắt” con ở trường thay vì “đón” con. Đó cũng là những kỷ niệm vui khi dạy con học tiếng Việt."

Tiết mục của các em trường Việt ngữ Lạc Hồng tham gia SBS Hội chợ Tết năm 2015



***
Source: sbs.com.au/vietnamese



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/10/2010(Xem: 3118)
Như tôi cũng đã thưa rồi, hiếm ai dành nhiều thời gian để nhớ về mẹ như tôi. Chuyện gì buồn vui cũng là cái cớ để tôi nhớ về mẹ bằng tất cả tim óc. Tôi đã nhớ mẹ qua bất cứ hình ảnh nào của các bậc cha mẹ trong đời mà tôi quen biết, trong giao thiệp hay chỉ nhìn thấy trên phim ảnh sách báo... Có điều là không ít hình ảnh trong số đó cứ khiến tôi đau đáu một nỗi riêng không chịu thấu: 1. Họ là những bậc cha mẹ với tuổi đời chưa bao nhiêu nhưng đã bắt đầu quên mất tuổi trẻ của mình cho đứa con đầu lòng. Một tuổi trẻ tất bật áo cơm, không có rong chơi, không có ngơi nghỉ, không có thời gian riêng tư, dẹp luôn những không gian độc lập để sống như mình vẫn ao ước thời chớm lớn. Họ Mất hết cho cái mà họ cho là Được – đó chính là đứa con! Nhìn họ tôi nhớ mẹ!
28/10/2010(Xem: 1884)
ù bây giờ đã qua hết những ngày tất tả ngược xuôi lo chạy gạo bữa đói bữa no, lăn lóc chợ trời nhục nhã ê chề tấm thân; những ngày dầm mưa dãi nắng lặn lội đi thăm nuôi nhưng những kỷ niệm buồn sâu thẳm vẫn còn đậm nét trong lòng tôi mãi mãi mỗi độ tháng tư về. Sau khi hai đứa con ra đi được hai ngày, tôi được tin chuyến tàu bị bể. Tôi vừa bàng hoàng vừa cầu xin đó không phải là sự thật, nếu quả đúng như vậy liệu tôi có còn đủ sức chịu đựng hay không vì chồng tôi đang còn ở trong trại cải tạo. Nóng ruột quá, tôi bèn rủ một em học trò cũ lên nhà bà chủ tàu để dò hỏi tin tức. Khi đi thì hăng hái như vậy nhưng gần đến ngõ rẽ đi vào nhà, tôi không còn can đảm tiếp tục bước nữa. Tôi ngồi lại một mình dưới gốc cây vừa niệm Phật vừa cầu xin, mắt không rời theo dõi vào con ngõ sâu hun hút đó. Càng chờ ruột gan càng nóng như lửa đốt, không chịu nổi nữa tôi đi liều vào. Vừa đến nơi hai chân tôi đã muốn khuỵu xuống, một bầu không khí im lặng nặng nề, hai người ngồi như 2 pho tượng; sau đó em h
21/10/2010(Xem: 4973)
Bướm bay vườn cải hoa vàng , Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng. Đứng yên ngoài hàng dậu Em mỉm nụ nhiệm mầu Lặng nhìn em kinh ngạc Vừa thoáng nghe em hát Lời ca em thiên thâu
17/10/2010(Xem: 1774)
Tây Du Ký tiêu biểu cho tiểu thuyết chương hồi bình dân Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt xã hội các dân tộc Á Châu. Không những nó đã có mặt từ lâu trong khu vực văn hóa chữ Hán (Trung, Đài, Hàn, Việt, Nhật) mà từ cuối thế kỷ 19, qua các bản tuồng các gánh hát lưu diễn và văn dịch, Tây Du Ký (TDK) đã theo ngọn gió mùa và quang thúng Hoa Kiều đến Thái, Mã Lai, In-đô-nê-xia và các nơi khác trên thế giới. Âu Mỹ cũng đánh giá cao TDK, bằng cớ là Pháp đã cho in bản dịch TDK Le Pèlerin vers l’Ouest trong tuyển tập Pléiade trên giấy quyến và học giả A. Waley đã dịch TDK ra Anh ngữ từ lâu ( Monkey, by Wu Ch’Êng-Ên, Allen & Unwin, London, 1942). Ngoài ra, việc so sánh Tây Du Ký2 và tác phẩm Tây Phương The Pilgrim’s Progress (Thiên Lộ Lịch Trình) cũng là một đề tài thú vị cho người nghiên cứu văn học đối chiếu.
08/10/2010(Xem: 7512)
Phật nói : Lấy Tâm làm Tông, lấy không cửa làm cửa Pháp. Đã không cửa làm sao đi qua ? Há chẳng nghe nói : “Từ cửa vào không phải là đồ quý trong nhà. Do duyên mà được, trước thì thành, sau thì hoại.” Nói như thế giống như không gió mà dậy sóng, khoét thịt lành làm thành vết thương. Huống hồ, chấp vào câu nói để tìm giải thích như khua gậy đánh trăng, gãi chân ngứa ngoài da giầy, có ăn nhằm gì ? Mùa hạ năm Thiệu Định, Mậu Tý, tại chùa Long Tường huyện Đông Gia, Huệ Khai là Thủ Chúng nhân chư tăng thỉnh ích bèn lấy công án của người xưa làm viên ngói gõ cửa, tùy cơ chỉ dẫn người học. Thoạt tiên không xếp đặt trước sau, cộng được 48 tắc gọi chung là “Cửa không cửa”. Nếu là kẻ dõng mãnh, không kể nguy vong, một dao vào thẳng, Na Tra tám tay giữ không được. Tây Thiên bốn bẩy (4x7=28) vị, Đông Độ hai ba (2x3=6) vị chỉ đành ngóng gió xin tha mạng. Nếu còn chần chờ thì giống như nhìn người cưỡi ngựa sau song cửa, chớp mắt đã vượt qua.
08/10/2010(Xem: 1825)
Tiểu sử chép: “Năm 19 tuổi Chân Nguyên đọc quyển Thực Lục sự tích Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang,chợt tỉnh ngộ mà nói rằng, đến như cổ nhân ngày xưa, dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, huống gì mình chỉ là một anh học trò”. Bèn phát nguyện đi tu. Thế là cũng như Thiền sư Huyền Quang, Chân Nguyên cũng leo lên núi Yên Tử để thực hiện chí nguyện xuất gia học đạo của mình. Và cũng giống như Huyền Quang, Chân Nguyên cũng đã viết Thiền tịch phú khi Chân Nguyên còn đang làm trụ trì tại chùa Long Động trên núi Yên Tử.
05/10/2010(Xem: 4811)
Trải vách quế gió vàng hiu hắt, Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng, Oán chi những khách tiêu phòng, Mà xui phận bạc nằm trong má đào.
01/10/2010(Xem: 6232)
Có, không chỉ một mà thôi, Tử, sinh đợt sóng chuyển nhồi tạo ra. Trăng nay, trăng cũng đêm qua, Hoa cười năm mới cũng hoa năm rồi. Ba sinh, đuốc trước gió mồi, Tuần hoàn chín cõi, kiến ngồi cối xay. Tới nơi cứu cánh sao đây ? Siêu nhiên tuệ giác, vẹn đầy “Sa ha” (Thích Tâm Châu dịch )
01/10/2010(Xem: 2971)
Là con người, ai cũng có đủ tính tốt và xấu, nên thực tế rất khó nhận định về tính cách của chính mình, của một người khác, huống chi là nói về tính cách của cả một dân tộc. Tuy vấn đề phức tạp và đôi khi mâu thuẫn, nhưng tôi cũng xin cố gắng đưa ra một số nét tiêu biểu của người Nhật.
28/09/2010(Xem: 3411)
Bao gồm nhiều ngạn ngữ dân gian phản ánh đời sống tâm lý của người dân TQ trong xã hội xưa, “ Tăng quảng hiền văn” là sự thể hiện tư tưởng của Nho Giáo, Đạo Giáo, Lão Giáo, mang tính triết lý cao. 1 Tích thì hiền văn, hối nhữ truân truân, tập vận tăng quảng, đa kiến đa văn. Lời hay thuở trước, răn dạy chúng ta, theo vần cóp nhặt, hiểu biết rộng ra. 2 Quan kim nghi giám cổ, vô cổ bất thành kim. Xem nay nên xét xa xưa, ngày xưa chẳng có thì giờ có đâu. 3 Tri kỷ tri bỉ , tương tâm tỷ tâm. Biết mình phải biết người ta, đem lòng mình để suy ra lòng người. 4 Tửu phùng tri kỷ ẩm, thi hướng hội nhân ngâm. Gặp người tri kỷ ta nâng cốc, thơ chỉ bình ngâm mới bạn hiền. 5 Tương thức mãn thiên hạ, tri tâm năng kỷ nhân. Đầy trong thiên hạ người quen biết, tri kỷ cùng ta được mấy người. 6 Tương phùng hảo tự sơ tương thức, đáo lão chung vô oán hận tâm. Gặp lại vui như ngày mới biết, chẳng chút ăn năn trọn tới già.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,486,225