Mùa nhớ...

18/01/201209:35(Xem: 4236)
Mùa nhớ...

Không biết từ bao giờ và vì cớ làm sao mà tôi đã đặt tên cho mùa này là… “mùa nhớ”. Mùa nhớ của tôi bắt đầu khi thành phố đã thôikhông còn những cơn mưa dai dẵng, phố khoác lên mình chiếc áo mới màu vàng ươm của nắng...

Mùa nhớ của tôi cũng bắt đầu khi gió bấc đổ về, gió mang theo chút se lạnh hanh hao và cả mùi Tết thoang thoảng, lenkhắp ngõ ngách phố phường nghe lòng nao nao.
whoamai-muanho.jpg
Ảnh minh họa

Sáng nay ra đường gặp nắng, tối về lại nghe gió bên mình. Lòng chợt thấy rộn ràng nôn nao khó tả. Ừ thì, mùa nhớ đã về!
Nhớtiếng người rổn rảng gọi nhau quanh xóm rủ đi tảo mộ, đàn ông vác cuốc,phụ nữ theo sau tay cầm chổi tay cầm nhang với mớ đồ cúng, đám con nít ríu rít chạy trước lúc nào cũng bị người lớn gọi lại nhét vô túi vài ba tép tỏi mà không quên cằn nhằn: “Ra mộ ông bà không được giỡn nghe, giữ cho kỹ mấy tép tỏi, con nít dễ thương coi chừng ma quỷ nó bắt bây giờ!”.
Nhớcái mùi quần áo mới mẹ mua từ những ngày đầu tháng Chạp, đồ mẹ mua về giặt được một nước rồi cất vào ngăn tủ, ngày nào con nít cũng mang ra ngắm nghía chớ nào có dám mặc, sợ lỡ mặc rồi bị cũ, chạy nhảy không để ýrách vai tét đáy thì đến Tết lại không có thứ để xi xoe với bạn bè.
Đámcon nít mòn mỏi cả năm trời cũng chỉ đợi đến chiều ngày 30 Tết tắm rửa sạch sẽ rồi vận lên mình bộ quần áo mới đi khắp xóm hẹn nhau đón giao thừa.
Nhớ vị mứt dừa ngọt lịm, béo ngậy bác vẫn rim những ngày cận tết. Hàng dừa sau nhà bác dặn các anh không được hái non, để dành đó cho đến khi mấy trái dừa già cằn đi hái xuống rồi bào lấy cơm, mua thêm vài cân đường ít ống vani và chút phẩm màu vậylà đã có quà tết biếu cho hàng xóm. Cái thuở cơ hàn, chút quà mọn vậy mà quý mà thân. Con nít vẫn thích được ngồi cạnh bác bên lò lửa hồng đảotừng mẻ mứt và lắng tai nghe bác kể những câu chuyện Tết xa xưa của thời ba nó, mẹ nó…
Nhớ những khoảng sân đầy nắng, những tường dậu phía sau nhà ngày cuối tháng Chạp. Đám chăn màn, quần áo được mang ra giặt giũ phơi phóng giăng đầy trên những bờ giậu sau những tháng trời miền Trung mưa dai dẳng. Khoảng sân trước nhà la liệt những củ hành, củ kiệu, cốm ép… mà mấy ngoại, mấy dì tranh thủ hongqua vài ba con nắng để đến Tết lại có thứ chiêu đãi cho đám con cháu tụvề.
Những buổi trưa đứng nắng, con nít vẫn hay lẽo đẽo theo bà ngoài đi quanh xóm “kiểm tra” tình hình Tết nhất củaxóm giềng, ngoại nói chỉ cần đi ngang nhà nhìn vào trước sân hay tường dậu cũng đủ biết năm rồi nhà ai được mùa nhà ai thất bát…
Nhớ…
Rồi nhớ…
Và nhớ…
Nămnăm sống ở thành phố này cũng đồng nghĩa với năm mùa nhớ đã đi qua. Tôiđã dần biết chấp nhận một vài nỗi nhớ nhạt nhòa dần trong ký ức. Tôi quen với việc phải hối hả chạy đôn chạy đáo vì công việc, vì chuyện học hành những ngày cuối năm. Những tin “cháy vé” tàu xe nhan nhản trên khắpbáo đài cũng không còn làm tôi mấy bận lòng. Tôi không còn hay than phiền Tết phải vui thế này, Tết phải mừng thế kia. Vì lớn rồi có phải trẻ nít nữa đâu mà…
Tôi không biết mình sẽ còn được qua bao nhiêu mùa nhớ nữa nhưng cứ mỗi mùa nhớ đi qua tôi lại thấy mình trưởng thành hơn, chín chắn hơn và biết chấp nhận hơn. Đôi khi giữ riêng cho mình một vài điều nhớ, cất thật kỹ đâu đó trong trái tim để khi lục lọi vô tình chạm phải nó rồi thẩn thờ đứng lặng nghĩ về những điều đã trải qua mà thấy nghẹn căng ở sống mũi mình.
Với tôi, vậy đã đủ hạnh phúc rồi…

Định An

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/01/2011(Xem: 4970)
Cách đây hơn một tuần, trong lúc chuẩn bị nấu nước pha trà buổi sáng, tự dưng lòng tôi nhớ quay quắt những chén trà năm xưa tôi đã từng chia sẻ với Thầy Tâm Phương trong những buổi sáng tĩnh lặng tại ngôi chùa nghèo Quảng Đức ở Broadmeadows. Tôi đã vội gọi Thầy Tâm Phương và hết sức may mắn Thầy vẫn còn nhớ tên tôi..dù rằng Thầy đã quên mất giọng nói quen thuộc của tôi rồi! Thầy rất mừng vì nghe được qua một số Phật tử biết cuộc sống của tôi lúc nầy an nhàn lắm. Tôi thưa với Thầy về cuộc đời hưu của tôi mấy năm gần đây cũng như nói với Thầy là tôi thèm vô cùng được cùng Thầy nhâm nhi lại những chén trà xưa!
14/01/2011(Xem: 4521)
Tôi trở về Huế với một tâm trạng nôn nao bồi hồi! Ba mươi năm sau mới nhìn lại Huế thân yêu, nơi đã cho tôi mật ngọt của ngày mới lớn. Phi trường Phú Bài vẫn vậy, vẫn u buồn ảm đạm dù đã trải qua bao tháng năm cũng chẳng rộng lớn gì hơn. Đã thế, tôi đặt chân xuống phi trường khi trời đã về chiều nên quang cảnh càng hiu hắt thê lương.
07/01/2011(Xem: 5322)
Chuyện Tiền thân Bahiya (Jàtaka 420) kể lại rằng : “Thuở xưa, khi vua Bramadatta trị vì ở Ba-la-nai, Bồ-tát là một vị đại thần của triều đình. Có một nữ nhân thôn quê thân thể béo mập, ăn mặc lôi thôi, làm công ăn lương, đang đi ngang qua gần sân của nhà vua, cảm thấy thân bị bức bách ngồi xuống lấy áo đắp che thân, giải toả sự bức bách của thân và nhanh nhẹn đứng dậy”.
06/01/2011(Xem: 8936)
Tôi và chị chưa hề một lần gây thù chuốc oán với nhau. Vậy mà không hiểu sao ngay từ ngày chạm mặt đầu tiên ở trụ sở Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh, bỗng dưng tôi thấy ghét chị thậm tệ. Và nhìn ánh mắt, vầng trán nhăn nhíu, điệu bộ của chị khi đứng gần tôi vào lúc cuộc họp chuẩn bị khai mạc, tôi cảm nhận, thấy biết được chắc chắn rằng chị cũng chẳng ưa gì tôi, có thể là ghét cay ghét đắng tôi, còn hơn cái mức mà tôi ghét chị. Sao kỳ vậy? Đố kỵ tài năng sao? Không phải.
05/01/2011(Xem: 4532)
Tôi sinh ra và trải qua những ngày tuổi thơ ở Huế. Như vậy cũng đủ để tôi tự hào đã chia sẻ cùng Huế với tất cả những thủy chung của lòng mình. Thế rồi, tôi cũng phải xa Huế đã 30 năm, quê hương đó vẫn rạng ngời trong tâm tưởng. Huế dấu yêu ơi! có bao nhiêu điều phải nhớ: thời thơ ấu ấm áp trôi đi, tuổi học trò thần tiên trong ngôi trường màu hồng ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm cùng với dấu chân của những chàng trai thích đón đưa mỗi khi tan trường. Tôi với Huế biết bao tình thương mến, mỗi con đường, mỗi dòng sông, núi đồi, lăng tẩm, thành quách, chùa chiền là của Huế, là của tôi... Mặc dầu phải tất tả trong dòng đời xuôi ngược và biết rằng Huế là xứ sở thật kỳ, ở thì có điều không ưa nhưng đi xa thì lại nhớ, trong tôi vẫn chan chứa nỗi niềm với Huế. Nói như ai đó: "nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ Huế", nỗi nhớ thấm vào máu thịt, sâu lắng vào tâm hồn của những kẻ tha hương lòng vẫn bùi ngùi mỗi khi nhớ đến và chỉ muốn quay về!
04/01/2011(Xem: 5858)
Bạt: Bài viết “Phật giáo, một sự thực tập” dưới đây là bài đầu tiên trong tập hợp năm bài viết đã được phổ biến trên nguyệt san Triết học (Filosofie), 2004-2005. Đây là những tiểu luận về Phật giáo nhìn từ phương Tây, được viết từ bối cảnh của một truyền thống Phật giáo rất mới, được gọi là Phật giáo Tây phương. Tác giả, tiến sĩ Edel Maex là một nhà tâm lý trị liệu làm việc ở bệnh viện Middelheim tại Antwerpen, Bỉ. Ông là một trong những người sáng lập và ở trong ban điều hành của Trường Triết học Tỉ giảo (School voor comparatieve filosofie) ở Antwerpen. Ông là một người thực tập Thiền.
20/12/2010(Xem: 12850)
Không sinh, không diệt. Không đến, không đi. Đó chính là ý nghĩa nền tảng về một tâm xuân miên viễn. Khi chúng ta nhìn sự vật có sinh có diệt, có đến có đi, lòng ta không khỏi sinh ra những luyến lưu tiếc nuối.
14/12/2010(Xem: 3860)
Đất Bắc Ninh xưa gọi là đạo Bắc Giang, rồi đổi ra trấn Kinh Bắc, một miền phong phú về mặt dân ca, cũng là một vùng nổi tiếng về phong quang cẩm tú, về điền địa phì nhiêu...
13/12/2010(Xem: 33094)
Văn hóa như hơi thở của sự sống. Chính vì vậy mà qua bao thăng trầm nghiệt ngã của lịch sử, Đạo Phật như một sức sống văn hóa ấy vẫn còn đó, như một sinh chất nuôi dưỡng nếp sống tâm linh cho con người.
10/12/2010(Xem: 13121)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.