Nửa Hồn Xuân

09/01/201213:23(Xem: 7997)
Nửa Hồn Xuân
canhdep_1a
NỬA HỒN XUÂN

(Truyện ngắn)
Thích nữ Tịnh Quang

“…Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.”
(Thôi Hộ)


Hoa-dao-8Thoáng chốc mà đã bamươi sáu năm, như ba sáu ngày nhẹ nhàng trôi trên dòng thời gian vô hình vunvút. Cũng một buổi chiều xuân với bầu trời trong vắt, ánh mặt trời rãi màu vànglốm đốm trong vườn đào đầy thơ mộng này, và cũng dưới cội đào già này, Đông và Xuânđã gặp nhau…Trái tim chàng từ đây đã trỗi nhịp yêu thương, thổn thức, mong chờ,và hồi hộp…tâm hồn của chàng đã là nửa hồn của nàng Xuân ngày ấy. Và giờ đây…“thờigian thiệt phũ phàng…!” chàng lẩm bẩm như kẻ vừa thức giấc sau một cơn mộng đẹp.Chàng ôm đầu tựa vào gốc hoa đào và nở một nụ cười nhạt nhẽo man dại, nhìn chântrời xanh xa xa, ký ức của chàng lui dần về quá khứ…

Đông nhớ rằng ngày ấy họcòn trẻ lắm, chàng và nàng chỉ mới hai mươi tư, tuổi của niềm đam mê và tràn đầyhứa hẹn…Chiều mồng hai tết Đông đi du xuân và gặp Xuân tại vườn đào kế bên nhànàng…Ánh nắng chiều biên biếc đã tô đẹp thêm nhan sắc của tuổi mộng mơ…họ nhìnnhau, lưu luyến nhau, và rồi ngàn lời thề non hẹn biển để xây đắp tổ uyên ươngkhi chàng đã hoàn tất công danh sự nghiệp của mình.

Nhưng nghịch cảnh đã đẩyđưa, họ tạm gác lại lời thề ấy. Đông và Xuân mỗi người một ngả, chàng ra đi cònnàng phải ở lại quê nhà.

Đông nhớ mồn một hômnao Xuân tiễn chàng lên máy bay, họ quàng vai nhau khóc sướt mướt, chàng biết rằngXuân yêu chàng lắm, nàng rất muốn khăn gói theo chàng nhưng ngặt một nỗi chanàng mất sớm, mẹ thì tật bệnh, nàng còn phải gánh buôn để nuôi mẹ và hai đứa emnhỏ dại nên không thể theo chàng; còn chàng chỉ có hai cha con và phải vâng mệnhcha để lên chuyến bay cuối cùng đến Mỹ vào tháng tư năm một chín bảy lăm...

Ba năm đầu định cư tạiMỹ chàng sống như cái xác không hồn, đêm mộng ngày mơ về quá khứ. Cha chàng bảo:“Con Xuân đã hớp hồn mày rồi!” Đúng vậy, Đông làm gì cũng thất bại không đâu rađâu, bởi hồn chàng chỉ còn một nửa, và một nửa là ở bên kia đại dương xa tít mùkhơi.

Đông rất mừng khi đi rađường gặp người Việt Nam; lúc chàng đang lái xe mà gặp một người châu Á đi bộbên lề đường là chàng quay xe lại, tấp vào lề và hỏi: “Are you Vietnamese?” Nếulà người Việt Nam chàng hỏi thăm đủ thứ chuyện, đặc biệt là chàng muốn biết khinào Việt Nam mở cửa cho Việt kiều về thăm quê cũ.

Mùa xuân năm thứ nhất…thứ hai… thứ ba…trôi đi, rồi đến xuân thứ tư…xuân thứ năm… từng đàn én lượn xônxao khi chiều đến, nhưng trong lòng chàng vẫn trĩu nặng một nỗi buồn u uẩn khibên kia bờ vẫn bặt vô âm tín, chàng không còn hy vọng trở về Việt Nam, chàngkhông còn hy vọng xây đắp lời thề; chàng nghĩ rằng cha mình cho rằng mình‘hoang tưởng’ là đúng… Thế rồi Đông tự vực dậy cuộc đời mình, lo làm ăn và lậpgia thất để không làm buồn khổ cha của chàng nữa.Tuy nhiên trong tâm chàng luônao ước cho Xuân vạn sự an lành và hạnh phúc, và lời thề kia chàng xin hẹn lạikiếp lai sinh tới.

Chuyện quá khứ tưởng chừngnguôi ngoai như thuyền đã ra khơi, thời gian đã sang trang mới; nhưng đầu mùaxuân năm thứ hai mươi mốt Đông nhận được lá thư của Xuân từ một người bạn họccũ của Đông vừa sang nhập cư. Đọc thư Xuân, biết nàng vẫn còn mạnh khỏe, nàngkhông có gì thay đổi, vẫn còn chiết bóng lẻ loi, biết nửa hồn của Xuân vẫn cònthuộc về chàng…Đông đau đớn lắm…

Như vết thương đã lành theothời gian nay lại tái phát, chàng đã tiếp tục tơ tưởng về quá khứ…về một chiềuxuân bên cội hồng đào, về những tháng ngày mặn nồng hò hẹn, về những tình thưđang còn dang dở, về những ngôn từ chan chứa ngàn lời yêu thương…chàng bị ám ảnhvới vẻ mặt ngọc mày ngà, với “dáng buồnnhư cúc, điệu gầy như mai” của Xuân…ký ức chàng trỗi dậy, chàng phải tìm đến hộpđêm và men rượu để giải sầu, và chàng không còn tha thiết đến vợ con nữa…Cuốicùng chàng đã từ bỏ tất cả và sống với chiếc bóng quá khứ “ma quái” của mình.

Và trong căn hộ đơn chiếcĐông đã gặp lại ngày xuân quá khứ của chàng. Hằng năm cứ mỗi mùa xuân là chàngnhận được chiếc áo ấm chính tự tay Xuân đan cho chàng. Chiếc áo không đẹp nhưnhững chiếc áo ấm tân thời, nhưng chàng vẫn thích chờ đợi mỗi mùa xuân đến đểcó thêm chiếc áo mới. Chàng hồi hộp khi nhận món quà đúng vào ngày cuối đông,sinh nhật của chàng. Chàng nhẹ nhàng cẩn thận mở nó, không dám nặng tay để hư bao bì bên ngoài, chàng quí trọng từng kỷ vật“thiêng liêng” của tình yêu mà Xuân gởi tặng cho chàng….Chàng đưa tay nhẹ nhàngvuốt ve chiếc áo nơi có thêu hai tên Đông Xuân với màu tím nhạt lấp ló sau haitrái tim đỏ gắn liền nhau, chàng ôm chiếc áo vào lòng rồi ngửi mùi áo mới,chàng thoảng nghe rằng hương xuân vẫn mãi còn đâu đây như chưa từng biến động.Mỗi năm chàng mặt một chiếc áo mới, mỗi năm là một sắc màu tươi trẻ. Những chiếcáo len cũ chàng cho vào tủ kiếng khóa chặt cẩn thận như sợ rằng ai đó vô tình đụngvào báu vật của chàng.

Mùa xuân năm nay Đôngcó thêm chiếc áo len thứ mười lăm, chàng không muốn như trẻ thơ cứ mãi hồi hộp chờđợi những món quà của người thương khi mùa xuân đến nữa. Chàng đã về hưu, chàngmuốn tận hưởng những giây phút hạnh phúc thực sự của tuổi xế chiều, chàng muốnhai mảnh hồn đơn ghép lại thành ánh trăng vàng giữa bầu trời tâm mông lungnày…Chàng không thể chịu đựng được nỗi cô đơn cứ dai dẳng đeo bám chàng, chàngphải sống với sự thực, chàng phải đem Xuân trở về với chàng để đêm sớm có nhaucho đời thôi quạnh quẽ.

Đông say sưa nhìn vào tấmhình mà Xuân mới gởi cho chàng, chàng ngớ ngẩn và đê mê trước nhan sắc vượt thờigian của Xuân, nàng như một cô tiên “chim sa cá lặn”, mắt biếc mày xanh và đôimôi chín mọng kia vẫn còn quyến rũ bao kẻ si tình như chàng. Chàng không muốnmình là kẻ nhút nhát yếu đuối nữa, chàng phải tự quyết định tình yêu của mình,chàng phải có tinh thần “nam nhi chi chí”…

Chàng bấm số điện thoạigọi cho Xuân và đi thẳng vào vấn đề…và chàng chờ đợi tin vui từ câu trả lời củaXuân…Lặng thinh một giây lâu rồi bỗng chốc Xuân sặc cười và nói: “Đông ơi làĐông, anh đang đùa hay đang điên thế…? Chàng rưng rức van nài một lần nữa, Xuântrả lời một cách dứt khoát: “Tốt nhất là chúng ta đừng bao giờ gặp nhau nữa nhé!”và nàng luống cuống tắt máy.

Như một gáo nước lạnh tạtvào mặt, chàng giận và hận nàng lắm. Suốt đêm chàng không sao ngủ được, chàngnghĩ đúng là hoa hồng càng đẹp gai càng nhọn! Chàng không hiểu vì sao nàng lạisợ hãi sự thực, sợ hãi tình yêu và hôn nhân trong khi Xuân cũng đã yêu chàng vàhọ đã có lời thề sắc son từ thuở ban đầu lưu luyến ấy kia mà. Chàng là Việt kiều,chàng có thể về Việt Nam hay bất cứ nơi đâu để cưới cô gái xin đẹp tuổi mườitám đôi mươi nếu chàng muốn. Đông nghi ngờ nàng…Phải chăng nàng đã dối lừachàng (?) Phải chăng nửa hồn của Xuân đã cập vào một bến lạ…(?) và chàng muốn đitìm sự thực, chàng muốn biết sự thực. Chàng muốn gây sự bất ngờ đối với Xuân….

…Mệt mõi qua hai chuyếnbay về Việt Nam, chàng vẫn không ngủ được, có lẽ không quen khí hậu và thời giờkhác biệt giữa Việt Nam và Hoa kỳ vì chàng từ giã nó đã ba mươi sáu năm, và điềuquan trọng nhất là những thao thức mà chàng dự tính cho ngày mai. Đông bước rakhỏi giường rất sớm, tắm rửa sạch sẽ, gọi người lao công khách sạn mua chochàng một tô phở điểm tâm, xong chàng mở máy laptop để xem tin tức Hoa Kỳ quanhững trang web hải ngoại như thường lệ….đến chín giờ chàng có cuộc hẹn với nhữngngười bạn cũ và đi ăn trưa tại một nhà hàng hải sản cùng họ, xong chàng trở vềlại khách sạn.

Đông đến trước tủ kiếnglớn để nhìn ngắm dung nhan của mình: “mắt to, mũi thẳng, da trắng nổi bật bênmàu tóc đen lóng lánh vừa mới nhuộm và chải keo mềm, dù có không ít vết nhăntrên khuôn mặt và những dấu chân chim tơi bời ở đuôi mắt…không sao, ta vẫn cònbảnh bao lắm, đàn ông ở độ tuổi này có được khuôn mặt thanh lãm và vóc dáng nhưta cũng hiếm…” chàng tự nhủ. Chàng đeo kiếng nâu Ray-Ban, diện bộ com-lê Francexanh với chiếc cà vạt đỏ thẩm, mang đôi giày đen bóng láng hiệu Canali Italy vàkhông quên xức nước hoa Sexy Men. Chàng bước ra khỏi khách sạn và gọi taxi đưachàng về hướng Bình Chánh vùng ngoại ô Sài Gòn, nơi có vườn đào thơ mộng nằm cạnhcăn nhà bé nhỏ của Xuân.

“Hôm nay là ngày mồnghai tết, ba mươi sáu năm trước cũng vào một chiều xuân ngày này ta và em gặpnhau ở vườn đào thơ mộng, không biết cội đào già kia có còn ra hoa không? Khôngbiết chim trên cành có còn reo vui khi mình gặp gỡ…?” hàng trăm câu hỏi cứ lẩnthẩn trong đầu chàng với ngày trở về “bí ẩn” này. Qua cửa kiếng xe, chàng ngướcnhìn bầu trời xanh bình lặng, những cụm mây trắng nổi trôi tạo thành dáng vẻthướt tha của kiều nữ ở độ tuổi xuân thì và chàng mường tượng đó là Xuân-Xuânchưa từng phai, Xuân đẹp mãi nghìn đời.

Ô kìa đây rồi! Đông bướcxuống xe, chàng lặng người một giây lâu để ngắm vườn đào không gì thay đổi. Chàngkhông biết nó là vườn đào của ba mươi sáu năm hay người ta mới trồng lại trongnhững năm gần đây. Chàng tới gốc gây đào xưa và thẩn thờ ngắm những cánh hoađào phơi sắc trong nắng và gió, những nụ hoa hồng thắm vừa mới nở e ấp duyêndáng như mời gọi chàng; khẽ lung linh trong gió mới, những cánh hoa đu đưa khiếncho bóng nắng cứ vờn qua vờn lại như những bức tranh di động muôn màu. Chàng nângmột nụ hoa rồi hôn lên nó, hít vào thật sâu để tận hưởng trọn vẹn hương hoa củangày xuân chớm nở; chàng nhắm mắt lặng nghe tiếng chim hót, tiếng gió thì thàobên những cành đào xuân thì, chàng mơ màng dư âm ngày cũ đâu đây hiện về trongphút giây thực tại…Chàng run rẩy với hạnh phúc đơn sơ mà chàng đã bị tuột mấtqua những tháng năm dài ray rức.

Chậm rãi, Đông bước tớicuối vườn đào và đi về hướng trái, căn nhà của Xuân hiện ra với tường sơn xanhmới tinh thay vì đó là ngôi nhà gỗ cũ kỹ; chàng móc địa chỉ trong túi áo ra vàdò lại số 5/35, ‘đúng rồi’. Chàng gõ cửa…tim chàng đánh thình thịch và chàng phảiôm chặt bó hoa hồng vì sợ nó bung ra khỏi tay chàng; tiếng chốt sắc vừa kéo lên,cánh cửa mở tung, một phụ nữ già run rẩy chống gậy, chân tay khô đét, đầu tóclưa thưa trắng phau, mặt xệ da nhăn, đôi mắt lem nhem, răng rụng gần hết, móm méohỏi chàng sau một cơn ho sặc sụa:

- Ông muốn tìm ai?

Đông lễ phép nói:

-Dạ thưa, cháu muốn gặpXuân cụ ạ.

-Tui chính là Xuân đây,ông cần gì?

Bà ta vừa trả lời vừaráng nhướng to đôi mắt để nhìn chàng.

Chàng chợt nhận ra giọngnói quen thuộc, khựng một lúc… rồi chàng lấp bấp:

-x…in…l…ỗi!

Bó hoa hồng vụt rơi xuốngđất, chàng lảo đảo bước nhanh về phía vườn đào như bị ma rượt…

Đến gốc cây đào cũ,Đông quỵ xuống và cảm thấy toàn thân rã rịu, một lúc sau chàng như sực tỉnh mộtđiều gì đó rồi cười như điên dại với chính chàng. Chàng há hốc mồm nhìn lên cànhxuân, những cánh đào tơ vẫn đang phơi phới khẽ gọi nửa hồn xuân, chàng lẩm bẩm:“Đào hoa y cựu tiếu đông phong!”

Một tiếng chuông chùa vừađổ ở bên kia đồi. Đông đứng dậy hướng về phía ngôi cổ tự heo hút cuối trời tây,chàng lững thững bước trên cái bóng xiêu vẹo của chính mình khi chiều đã ngãvàng nắng nhạt.

TN.TịnhQuang

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/10/2010(Xem: 7253)
Là con người, ai cũng có đủ tính tốt và xấu, nên thực tế rất khó nhận định về tính cách của chính mình, của một người khác, huống chi là nói về tính cách của cả một dân tộc. Tuy vấn đề phức tạp và đôi khi mâu thuẫn, nhưng tôi cũng xin cố gắng đưa ra một số nét tiêu biểu của người Nhật.
28/09/2010(Xem: 12292)
Bao gồm nhiều ngạn ngữ dân gian phản ánh đời sống tâm lý của người dân TQ trong xã hội xưa, “ Tăng quảng hiền văn” là sự thể hiện tư tưởng của Nho Giáo, Đạo Giáo, Lão Giáo, mang tính triết lý cao. 1 Tích thì hiền văn, hối nhữ truân truân, tập vận tăng quảng, đa kiến đa văn. Lời hay thuở trước, răn dạy chúng ta, theo vần cóp nhặt, hiểu biết rộng ra. 2 Quan kim nghi giám cổ, vô cổ bất thành kim. Xem nay nên xét xa xưa, ngày xưa chẳng có thì giờ có đâu. 3 Tri kỷ tri bỉ , tương tâm tỷ tâm. Biết mình phải biết người ta, đem lòng mình để suy ra lòng người. 4 Tửu phùng tri kỷ ẩm, thi hướng hội nhân ngâm. Gặp người tri kỷ ta nâng cốc, thơ chỉ bình ngâm mới bạn hiền. 5 Tương thức mãn thiên hạ, tri tâm năng kỷ nhân. Đầy trong thiên hạ người quen biết, tri kỷ cùng ta được mấy người. 6 Tương phùng hảo tự sơ tương thức, đáo lão chung vô oán hận tâm. Gặp lại vui như ngày mới biết, chẳng chút ăn năn trọn tới già.
27/09/2010(Xem: 5557)
Có người không hiểu Phật, than Phật giáo tiêu cực, nói toàn chuyện không vui. Từ đó Tăng ni chỉ được nhớ tới trong những ngày buồn như đám tang, cúng thất, cầu an cho người sắp đi. Rồi thì người ta còn đi xa hơn, xuống thấp hơn một tí, là khi nói đến Tăng ni là họ tưởng ngay đến những người mất sạch, một cọng tóc cũng không có. Thậm chí họ cho mình cái quyền châm chọc khiếm nhã khi nhìn thấy Tăng ni đâu đó. Một chuyện mà có uống mật gấu họ cũng không dám làm đối với những người thế tục cạo trọc.
06/09/2010(Xem: 22049)
Văn Tế Thiên Thái Trí Giả Tác giả Đại Sư Tuân Thức Việt dịch: Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm *** 1. Nhất tâm đảnh lễ Thiên Thai Trí Giả trong núi Đại Tô tu Tam Muội Pháp Hoa Tâm tâm tịnh thường lại qua pháp giới Như mặt nhật trên không chẳng trụ không Ba ngàn thật tướng tức khắc viên thông Tám vạn trần lao đều đồng chân tịnh. Xưa hội kiến Linh Sơn còn hoài niệm Nay toàn thân bảo tháp thấy rõ ràng Nếu chẳng cùng sư Nam Nhạc tương phùng Ai biết được tướng thâm sâu thiền định?
01/09/2010(Xem: 4405)
Vườn hoa Phật Giáo mênh mông, với nhiều sắc thái thành muôn màu rực rỡ. Mỗi đóa hoa đều có sắc có hương, để thành vẻ đẹp đặc thù của Phật Giáo. Chúng ta thấy đại dương rào rạt bao la không bờ bến, nhưng giọt nước nào cũng mang vị mặn của muối. Chánh Pháp của Đức Như Lai vô lượng vô biên, nhưng pháp nào cũng đều mang hương vị của giải thoát.Mỗi Vị Tôn Đức hoằng pháp đều có một phong cách riêng, có những tư tưởng nhận định riêng. Vị nào còn trẻ khoẻ thì thích đi hoằng pháp các nơi.
28/08/2010(Xem: 4107)
Du Hôn (truyện ngắn của Nhật Hưng)
27/08/2010(Xem: 5057)
Tuy không phải là bạn thân nhưng tôi quen biết anh ấy từ lâu, thời còn ở trung tiểu học. Anh ấy thuộc một gia đình khá giả, bố mất sớm, thông minh học giỏi. Ra trường, làm việc cho một công ty lớn, được cấp nhà ở, và ai cũng có thể thấy ngay anh là một người thành đạt, có một tương lai xán lạn và là niềm hãnh diện cho gia đình. Nhưng…những chữ nhưng thường làm dang dở cuộc đời. Có nhiều chuyện thật oái oăm và không thể lường trước được có thể xảy ra làm thay đổi một cuộc đời. Và những chuyện không ngờ đó một hôm đã xảy ra, đã đưa anh vào cảnh tù tội một cách oan ức.
17/08/2010(Xem: 16918)
Lâu nay tôi thường cùng các thi văn hữu trao đổi với nhau những bài thơ, câu đối như là một thú vui tao nhã. Về thơ thì tôi vừa mới tập hợp thành tác phẩm Mưa Hè (nhà xuất bản Hồng Đức - quý hạ 2013). Riêng về câu đối, với tính chất riêng của nó, tôi tập hợp thành tập Thiền Lâm Ứng Đối hợp tuyển này, bao gồm một số câu đối trước đây đã được in và phát hành dưới dạng “Lưu hành nội bộ”, và một số câu đối đã được làm trong thời gian sau này. Những câu đối trong tập cũ in lại có hiệu đính, phần nhiều ở câu dịch nghĩa. Đa số những câu đối có nhân duyên từ các chùa trong tỉnh, ngoại tỉnh và một số chùa ở nước ngoài nhờ làm để trang trí. có câu còn ghi chú rõ, có câu tôi không còn nhớ làm cho chùa nào, ở đâu. Kính xin chư Tôn đức cùng quí chùa hoan hỉ.
10/08/2010(Xem: 8985)
Diễn văn của luật sư Georges Graham Vest tại một phiên tòa xử vụ kiện người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Saller của The New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các bài diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 100 năm qua.
16/07/2010(Xem: 25202)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.