30. Mùa An Cư Thứ Mười Ba

15/03/201408:10(Xem: 53795)
30. Mùa An Cư Thứ Mười Ba
blank

MÙA AN CƯ THỨ MƯỜI BA

(Năm 575 trước TL)


Tiếp Đ
Con Trai Nhà Đại P



Tại ngôi làng Kalanda gần Vesāli có con trai của một nhà đại phú tên là Sudina, vừa mới lập gia đình. Hôm nọ, chàng và một số bạn hữu ghé kinh thành Vesāli vì một vài công việc làm ăn; thấy mọi người đổ xô đến Đại Lâm (Mahāvana), Trùng Các giảng đường (Kūṭāgāra)(1)để nghe đức Phật thuyết pháp, ông và bạn hữu cũng tò mò đi theo.

Thanh niên Sudina nhìn thấy đức Thế Tôn ấy được đoanh vây bởi một hội chúng đông đảo và ngài như một sư tử vương, vàng rực, chói sáng, uy nghi như nhiếp phục cả đại giảng đường, tạo cho chàng một ấn tượng mạnh mẽ.

Rồi còn thời pháp nữa. Với âm thanh trầm hùng, thanh thoát, diệu vợi... với ngôn ngữ cô đọng, gãy gọn, chính xác, dị giản... như đi thẳng vào tâm, vào trí hội chúng. Còn nữa. Còn lý nghĩa và tư tưởng. Còn những ví dụ, những đoản ngôn. Còn chiều sâu và khoảng trống, khoảng lặng của những điều chưa nói hết... Tất cả ấy như cuốn hút tâm tư Sudina làm cho chàng chú tâm lắng nghe không bỏ sót một từ, một ngữ nghĩa nào. Thanh niên Sudina xúc động một cách sâu xa, như đảo hoán tận gốc rễ nếp suy nghĩ của chàng.

Cuối thời pháp, thanh niên Sudina như còn rúng động, bàng hoàng, đăm chiêu, tự nghĩ:

“- Quả là ta đã sống và đang sống một đời vô vị, vô tích sự. Bụi bặm, dơ uế, đặc đầy phiền não và buộc ràng! Ta đang đắm say, mê mải nơi thế giới đốm hoa không thực. Ta đã tìm kiếm hạnh phúc nơi cõi vô thường, tạm bợ, sinh diệt mà tưởng là hằng thường, vĩnh cửu.

Tiếng chuông của giáo pháp đã gõ mạnh lên đầu ta rồi. Ánh sáng của giáo pháp cũng đã chớp lóe trong tâm trí của ta rồi. Vậy, đời sống tại gia này còn thú vị gì nữa, còn chút sinh khí nào nữa đâu?”

Rồi chàng lại suy nghĩ tiếp:

“- Nhưng nếu muốn sống đúng như những điều mà đức Thế Tôn kia đã thuyết giảng thì quả thật không phải là dễ dàng đối với người đời, đối với người tại gia với trăm công, nghìn việc, với ân ái vợ chồng, với tiền bạc, gia sản, với thôn lân, bằng hữu, với truyền thống, tập tục, với bùn lầy, tù đọng và chật chội của toan tính và lo âu.

Cái đời sống trong sạch và trinh trắng như vỏ ốc kia, cái đời sống giải thoát như cánh chim trời kia chỉ thích hợp với người cạo bỏ râu tóc, tam y nhất bát, sống đời xuất gia phạm hạnh mà thôi!”

Thế rồi, với dõng lực và quyết tâm, lúc trở lại gia đình, thanh niên Sudina nói rõ ý định xuất gia của mình cho cha mẹ và cả cho cô vợ mới cưới hay. Ai cũng ngăn cản. Ai cũng nói ý định ấy là điên rồ và ngu ngốc. Ngay chính bạn bè thân hữu cũng xúm vào khuyên lơn chàng, vì chàng là con một nên thuận theo truyền thống tổ tiên là sinh con đẻ cái để nối dõi tông đường!

Ý định sống đời phạm hạnh như mũi tên đã bắn đi, không dừng lại được, thanh niên Sudina tuyên bố với sức mạnh nặng ngàn cân: “Một là xuất gia, hai là chết!” Chàng nằm xuống nơi chỗ nền đất không có trải lót rồi nhịn ăn, một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày.

Khi sự sống của Sudina chỉ còn thoi thóp, sợ con trai chết, cha mẹ mới đồng thuận cho chàng xuất gia.

Thế là vô cùng khó khăn, thanh niên Sudina mới bứt nổi sợi dây ràng buộc của gia đình, trở lại Đại Lâm, Trùng Các giảng đường để xin đức Phật được xuất gia sống đời phạm hạnh.

Đức Phật sở dĩ ở nán lại thêm mấy hôm ở đây cũng chỉ để chờ đợi chàng trai này, vì hơn ai hết, ngài biết ông ta có duyên với giáo pháp(1).

Và sau khi thấy rõ tâm ý, sở nguyện của thanh niên Sudina, đức Phật chứng minh và chư vị trưởng lão cho ông ta thọ đại giới với những lời giáo giới căn bản và cần thiết nhất.

Tỳ-khưu Sudina sau đó, nguyện sống hạnh đầu-đà, mặc y phấn tảo(2}, noi gương tôn giả Mahā Kassapa, tam y nhất bát, tu hành rất mực tinh tấn. Ai cũng kính trọng. Chỉ riêng đức Phật, các vị thánh lậu tận có thắng trí thì chỉ mỉm cười, không bình luận.



(1)Kūṭa là nóc nhọn; agāra là nhà ở, chỗ ở - nên đôi nơi dịch là “Sảnh đường nóc nhọn”.

(1)Câu chuyện về tỳ-khưu Sudina này được mở đầu khi giới thiệu về luật tạng. Vì tám năm sau, lúc về thăm lại gia đình, cha mẹ chàng tha thiết khẩn cầu chàng để lại “hạt giống - bījaka” Lúc ấy, giới bất cộng trụ (pārājikā) thuộc thanh tịnh giới (patimokkha) chưa chế định - chàng không biết, tưởng là không có tội chi, nên đã ba lần giao hợp với người vợ cũ. Kết quả là bà vợ sanh được một đứa con trai nên bạn bè vui nhạo gọi tên bà là “Mẹ của chủng tử”! Mấy trăm năm sau, Mi-lan-đà sở vấn (Milindapañha) cũng có nhắc lại chuyện tỳ-khưu Sudina này.

(2}Paṃsukūla: Vải bó tử thi hoặc vải lượm từng tấm, từng mảnh nơi này và nơi kia, giặt sạch, nhuộm rồi may mặc - không thọ nhận vải mới, vải lành nguyên.






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/04/2026(Xem: 234)
VĂN TƯỞNG NIỆM ĐẤNG ĐẠI GIÁC THẾ TÔN Thuở nhân gian chưa tỏ ở đạo mầu, Khi cõi thế còn chìm nơi biển khổ Sinh tử dập dềnh gây sóng dữ, Luân hồi lẩn quẩn nổi sông mê Trời đất mịt mờ, chưa phân nẻo sáng Lòng người u ám, khó thấy nguồn chơn Khi ấy, Bốn phương lặng gió, Vạn loại chờ duyên Như đi giữa đêm trường mong được ánh đuốc soi đường Tợ lạc nơi biển cả ước gặp được la bàn định hướng Chính trong khoảng tịch liêu u trầm ấy, Bậc Đại giác vì bi nguyền mà hiện thân, Đấng Nhân từ bởi hạnh nguyện mà giáng thế; Thắp đèn trí tuệ mở cửa vô sanh Mưa pháp cam lồ xua vòng nhị kiến Từ khi, Thánh mẫu ứng mộng điềm lành Đến lúc, Cung vua mừng niềm khánh hỷ Ánh sáng chiếu khắp, hương lạ lan xa, Khu vườn Lâm-tỳ-ni, vô ưu nở hoa Bồ- tát Tẩt-đạt-đa triển gót Vừa xuất thế đã vượt ngoài phàm tướng, Mới chào đời đã hiển lộ thánh nghi Bước bảy bước mà sen vàng nâng gót, Nhìn tám phương mà ánh ngọc soi trần Một tay chỉ trời, biểu hiện chân như vô thượng. Một
08/12/2025(Xem: 1585)
Nhân mùa Lễ Thành Đạo thiêng liêng, tôi xin trân trọng gởi đến toàn thể cộng đồng Phật giáo Úc Châu lời chúc mừng nồng hậu và tôn kính nhất. Ngày này đánh dấu sự kiện trọng đại khi Hoàng Thái Tử Sĩ Đạt Ta ( Siddhartha Gautama) chứng đắc đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc Đại Giác ngộ của nhân loại. Đây là dịp để cho hàng Phật tử cùng nhau chiêm nghiệm về các giá trị trí tuệ, từ bi, chánh niệm và bình an, những phẩm chất cốt tủy trong giáo pháp mầu nhiệm của Ngài.
07/09/2025(Xem: 2197)
Khi sự già nua xảy đến, con người khó mà tiếp tục thụ hưởng những vị ngọt trần đời. Có người cả đời chỉ chú trọng đến tiền bạc, muốn làm ra thật nhiều tiền, không màn sức khỏe, quên cả tình thân. Có lúc người ta quên cả miếng ăn, giấc ngủ mà cứ suốt ngày chìm đắm trong mọi toan tính, nghĩ suy để tranh thủ làm giàu cho bằng được. Họ ném đời mình vào những cuộc đua tranh giành vị thế và bằng mọi giá đạt được mục tiêu mới thôi. Thế nhưng, đạt được rồi mà lòng vẫn không thấy đủ, muốn hơn nữa và chẳng bao giờ dừng lại. Cho đến ngày kia, chợt nhận ra rằng mình đã già, thân đầy bệnh tật và muốn quay về tìm lại bản thân thì không còn kịp nữa.
18/08/2025(Xem: 2315)
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, di huấn cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn tại rừng Sala Song Thọ, Kusinara, được xem là một trong những thông điệp có giá trị vượt thời gian. Thông điệp ấy không chỉ là lời tiễn biệt của một bậc Thầy giác ngộ đối với hàng đệ tử, mà còn là kim chỉ nam cho tất cả những ai khao khát tìm kiếm chân lý, an lạc và giải thoát.
29/04/2025(Xem: 3092)
Mùa Phật đản sanh lại trở về trong lòng nhân loại, là dịp để mỗi chúng ta được trưởng dưỡng trong suối nguồn yêu thương bất tận của Đấng Từ phụ, nhắc nhở nhau phụng hành di giáo của Đức Cha lành, cùng nâng đỡ nhau trên con đường hướng thượng để báo Phật thâm ân. Hình ảnh bình minh nơi vườn Lâm-tỳ-ni xưa đã mở ra cho nhân loại con đường tươi sáng, giải thoát khổ đau với chất liệu từ bi và trí tuệ.
06/01/2025(Xem: 4188)
Kính lạy bậc kỳ vĩ xuất hiện, từ ngàn năm trong thế giới (1) Gây âm vang chấn động, mở ra một kỷ nguyên Mang ánh sáng đi vào đời, với phương pháp tịnh Thiền Giúp người người tìm về Chánh Pháp mầu nhiệm
14/08/2024(Xem: 3306)
Tính Cách Vĩ Đại Của Đức Phật- Thích Đạo Thông giảng lễ Phật Đản Chùa Hưng Long ngày 2/6/2024. Hy vọng mọi người hiểu rõ ràng Tính cách vĩ đại của Đức Phật gồm 3 phương diện cao quý của Đức Phật là: Bản thân- Tư Tưởng - Xã Hội. Nhằm tạo sự tín tâm của người con Phật với Tam Bảo.
07/08/2024(Xem: 10875)
Ở Hoa Kỳ, có ngày Father's Day và Mother's Day, là những ngày mà người con tỏ lòng biết ơn cha mẹ. Vào những ngày này, họ có thể mang một bình hoa đến mộ, mua một món quà, và đặc biệt là tổ chức một bữa ăn mời cha mẹ. Nhưng câu nói mà người Mỹ không quên trong ngày đó là "con thương cha, con thương mẹ" khi họ ôm cha mẹ vào lòng. Ngày Lễ Vu Lan của Phật giáo Việt Nam cũng là ngày mà con cái biểu tỏ lòng biết ơn đấng sinh thành, dù họ còn sống hay đã ra đi.
30/07/2024(Xem: 2862)
Lang thang, nơi đây có nghĩa là đi lang thang. Đức Phật đã dạy các nhà sư nên đi lang thang thế nào? Các bản tiếng Anh thường dùng chữ “wander” để nói về hành vi lang thang. Có phải đây chỉ là một ẩn dụ, không hoàn toàn có nghĩa là rời chùa để bước xuống phố, rồi đi từ làng này tới xóm nọ, từ tỉnh này tới tỉnh kia? Bất chợt, có một vài Phật tử ngộ nhận rằng phải đi lang thang mới là nhà sư chơn chánh. Bài viết này sẽ ghi lời Đức Phật dạy về cách lang thang chơn chánh của các nhà sư, không phải là một hành trình “đường bộ” mà phải là một hành trình về tâm.