Khổ trong Tam Pháp Ấn

03/03/202617:38(Xem: 339)
Khổ trong Tam Pháp Ấn

phat thanh dao
KHỔ TRONG “TAM PHÁP ẤN”

Thích Nữ Hằng Như



I.DẪN NHẬP

Sống trên đời ai cũng khổ. Người giàu cũng khổ. Người nghèo cũng khổ. Người đẹp, người xấu cũng đều khổ. Có những cái khổ tự nhiên xảy ra trên thân mình như: đói quá, bao tử cồn cào, đau bụng, nhức đầu, nhức răng, nóng sốt... là những cái đau trên cơ thể, khiến mình vô cùng khó chịu. Những cái khổ này không ai muốn, nhưng dẫu sao nó cũng cần thiết, vì nó báo động cho chúng ta biết mức độ nguy hiểm tác động lên cơ thể của mình để sớm trị liệu. Nếu không có những cái khổ tự nhiên này, thì con người chỉ là một tảng đá vô tri.

Khổ cũng có nhiều loại khổ. Chung quy không ai muốn khổ, nhưng cái khổ vẫn xuất hiện trong đời sống của mỗi người, không phân biệt chủng tộc quốc gia hay tầng lớp xã hội.

Trong giáo lý nhà Phật, Khổ là pháp ấn thứ hai trong “Tam Pháp Ấn: Vô thường, Khổ và Vô ngã”. Khổ này được dịch từ tiếng Pali là “dukkha”. Dukkha là một thực tại cơ bản của cuộc sống, “không chỉ là nỗi buồn bực, khó chịu thông thường”, mà bao gồm ý nghĩa của “sự bất toàn, không hoàn hảo, không ổn định, vô thường, tạm bợ và sự không thỏa mãn trong vòng luân hồi v.v... “
“Dukkha” được dịch sang tiếng Việt một cách tổng quát là “khổ đau”.

II. KHỔ TRONG KINH “TỨ DIỆU ĐẾ”

Trong Tứ Diệu Đế, Đức Phật giảng về khổ, nguyên nhân gây khổ, chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt khổ. Không phải vì thế, mà đức Phật cho rằng con người không có hạnh phúc. Thực ra sống ở đời, cũng có lúc con người cảm thấy rất hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thế gian chỉ là thứ hạnh phúc tạm bợ.

Như định nghĩa ở trên những gì “tạm bợ, vô thường” đều được hiểu là “dukkha”. Như vậy chúng ta thấy rằng “dukkha” không chỉ có nghĩa là “khổ sở, bất toại nguyện, không vừa ý” mà còn bao hàm cả “hình trạng lạc và hỷ “ của con người sống trong thế gian này. Tại sao vậy? Đó là vì tất cả mọi sự vật, sự kiện đều mang đặc tính Vô thường. Nên ngay khi con người đang hưởng sự khoái lạc thích thú, thì sự tiếc nuối phiền muộn sẽ đến ngay sau đó. Vì thế người ta thường nói: “ Trong niềm vui đã chứa sẵn nỗi buồn”, “Trong sự sống đã chứa sẵn sự chết”.

Khái niệm “dukkha” có thể được nhìn từ 3 khía cạnh:

1. Phương diện sinh lý: Khổ là cảm giác khó chịu, bức bối, đau đớn như cảm giác đau đầu, nhức răng, đau nhức toàn thân... Đây là sự đau đớn bức bách về thể xác, con người thường gặp phải trong cuộc sống hằng ngày. Ngoài ra có bốn cái khổ cơ bản về thân, mà ai cũng phải trải qua trong một đời người như:

- Sanh khổ: Ngay đứa bé từ lúc sắp sửa ra đời, cả mẹ và con đều trải qua những giờ phút vật vả đau đớn. - Lão khổ: Nỗi khổ của tuổi già. Khi cơ thể suy yếu, các giác quan không còn hoạt động bén nhạy như lúc còn trẻ: mắt mờ, răng rụng, đi đứng không vững. - Bệnh khổ: Nỗi khổ khi đau ốm, thân thể bị đào mòn bởi tứ đại không hài hòa, sinh ra bệnh tật. - Tử khổ: Nỗi khổ của sự chết. Nỗi sợ hãi khi cái chết đến gần, sợ phải lìa xa thân xác và những gì mình sở hữu trên đời như: tài sản, chồng, vợ, con cái....

Đó là bốn giai đoạn của một đời người: Sinh, lão, bệnh, tử. Giai đoạn nào con người cũng phải đối đầu với “dukkha”!
2. Phương diện tâm lý: Nỗi khổ về tâm, do những mất mát thua thiệt trong cuộc đời gây ra. Chẳng hạn như: - Ái biệt ly khổ: Yêu thương người mà phải chịu cảnh chia xa. - Oán tăng hội khổ: Người mình không ưa, không thích mà cứ phải đối mặt nhau hoài.- Cầu bất đắc khổ: Không đạt được những ước mơ về tình yêu, tiền tài, danh vọng, địa vị...

Những điều bất toại nguyện vừa kể, khiến tâm lý con người ta luôn bị rối loạn buồn phiền. Đó là những nỗi khổ thuộc về tâm.
3) Khổ do chấp thủ vào ngũ uẩn: Đức Phật dạy “dính chấp vào năm uẩn cho nó là ta, của ta, tự ngã của ta là khổ .” Năm uẩn này là năm yếu tố nương vào nhau để tạo thành con người, gồm thân thể, cảm giác, niệm tưởng, tâm hành và nhận thức. Ý niệm chấp ngã cho rằng đây là “thân thể tôi, tâm tư tôi, tình cảm tôi, nhận thức của tôi”... chấp ngã hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ, từ đó mọi đau khổ phát sinh.

Tóm lại về mặt hiện tượng, khổ đau là cảm giác khổ về thân như khổ vì sinh, già, bệnh, chết. Sự bức xúc, lo lắng, không toại nguyện là khổ về tâm. Về mặt bản chất, khổ đau là do sự chấp thủ, và ngã hóa năm uẩn. Nỗi khổ do năm yếu tố tạo nên con người là sắc, thọ, tưởng, hành, thức không hài hòa gây ra phiền não, Hán ngữ gọi là “Ngũ uẩn xí thịnh khổ ”

Trên đây là tám cái khổ được đức Phật giảng trong kinh Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế là giáo lý cốt lõi của Phật Giáo, là bài thuyết pháp đầu tiên, sau khi đức Phật giác ngộ dưới cây bồ đề. Đây là con đường giúp chúng sanh nhận thức về bản chất của đời sống là khổ đau. Từ đó tìm ra cách vượt qua khổ đau, để đạt được giải thoát.

Tứ Diệu Đế bao gồm bốn phần chính: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Mỗi đế đều mang một thông điệp quan trọng về sự hiểu biết: Thế nào là Khổ, nguyên nhân gây khổ, chấm dứt khổ và con đường tu tập giải thoát khổ.

Nguyên nhân sâu xa và căn bản khác chính là vô minh và khát ái. Vô minh là sự thiếu hiểu biết, không thấy được bản chất thật sự của sự vật và hiện tượng. Trí tuệ trong Phật Giáo không phải là sự hiểu biết thông thường, mà là sự thấy rõ được bản chất “vô thường, khổ, vô ngã” của mọi pháp.
Vì vô minh cho nên không nhận ra bản chất của sự vật, hiện tượng, luôn chuyển biến, vô thường. Không nhận diện được tất cả mọi thứ đều nương nhau mà sanh khởi, nó không độc lập, không tồn tại trường cửu, nên chúng Vô ngã. Vì vô minh nên nghĩ tưởng sai lầm, chấp ngũ uẩn là ta, của ta, tự ngã của ta. Vì tưởng nghĩ sai lầm như vậy, cho nên áp đặt: “ta giận hờn, ta phiền não, ta tổn thương” cho ra kết quả “ta khổ đau”!

III. KHỔ TRONG TAM PHÁP ẤN

Pháp ấn thứ nhất là Vô thường. Trong đời sống hằng ngày, tất cả mọi hiện tượng xảy ra trên đời đều vô thường, biến đổi. Hôm nay đoàn tụ vui vẻ, ngày mai, ngày kia cũng phải chia xa. Hôm nay khỏe mạnh yêu đời, tuần sau đổ bệnh chán đời. Hôm nay thành công vui vẻ, ngày mai thất bại buồn khổ. Cho nên sau niềm vui thì nỗi buồn sẽ đến. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng thuộc pháp hữu vi đều vô thường biến đổi, không có điều gì đứng yên một chỗ. Người có tuệ giác về vô thường sẽ không phản kháng, chống đối khi vô thường xảy ra. Ngược lại, người không hiểu, không thấy vô thường là một chân lý, thì lúc nào cũng muốn những gì tốt đẹp ở mãi bên mình, không bao giờ muốn đổi thay.

Chính cái “muốn”, cái “tham” ấy là nguồn gốc của khổ. Khổ không nằm ở sự việc, ở hoàn cảnh bên ngoài, mà nằm ở chỗ phản ứng của tâm đòi hỏi sự việc, hoàn cảnh đó, phải theo ý muốn của mình. Khi tâm phản kháng chống lại sự thật về vô thường, thì khổ từ đó phát sinh.

IV. BÁT CHÁNH ĐẠO, CON ĐƯỜNG DIỆT KHỔ

Trong Bát Chánh đạo, đức Phật giảng rằng để đạt được sự giải thoát, đầu tiên con người phải nhận diện và hiểu rõ bản chất của khổ đau. Chỉ khi nhận thức được khổ đau con người mới có thể bắt đầu tu tập. Bát chánh đạo bao gồm 8 yếu tố, từ việc giữ đúng đạo đức, giữ tâm yên lặng, đến việc phát huy trí tuệ. Tất cả đều hướng tới việc giảm bớt khổ đau và đi đến sự giác ngộ.

1. Chánh kiến: Nhận thức đúng đắn về đạo đức của đời sống, cái nào thiện cái nào ác. Hiểu rõ lời dạy của đức Phật về Tứ đế, đồng thời hiểu đúng bản chất của sự vật và cuộc sống do Duyên sanh, nên chúng Vô thường, Khổ, Rỗng không (Vô ngã). 2.Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng đắn không bị chi phối bởi tham sân si. 3. Chánh ngữ: Lời nói chân thật, từ tâm, không đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung dữ, căm thù. 4. Chánh nghiệp: Hành động đúng đắn không sát sanh, lừa gạt, trộm cắp, hành dâm phi pháp. Thực tập lòng từ bi đối với mọi người không phân biệt thân sơ, thương ghét. 5. Chánh mạng: Mưu sinh bằng nghề nghiệp chân chính, không bằng những nghề phi pháp, gian xảo, độc ác hại người. 6. Chánh tinh tấn: Nỗ lực trong việc loại bỏ những yếu tố tiêu cực. Ngăn chặn điều ác chưa sanh và đã sanh. Phát huy tâm thức lành mạnh tốt đẹp đã sanh và chưa sanh. 7. Chánh niệm: Nhớ nghĩ đúng đắn. Tỉnh thức trong từng khoảnh khắc không bị cuốn theo những suy nghĩ phiền não. 8. Chánh định: Tập trung tư tưởng đúng đắn, tâm không dao động do suy nghĩ lung tung. Mục đích đạt được sự an tĩnh trong tâm.

Bát chánh đạo là phương pháp thực tiễn giúp con người vượt qua khổ đau trong cuộc sống. Mỗi yếu tố trong Bát Chánh Đạo đều đóng vai trò quan trọng trong việc giúp hành giả thanh lọc tâm, phát triển trí tuệ, và đạt được sự giải thoát cuối cùng. Những nguyên lý và phương pháp này có thể áp dụng trong mọi hoàn cảnh ngay trong đời sống hiện tại, chẳng những giúp chúng ta vượt qua khổ đau, mà còn sống một cuộc đời bình an và hạnh phúc .

V. CHUYỂN HÓA KHỔ ĐAU TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY

Chỉ những vị A-la-hán lúc nào cũng an trú trong Chánh định mới thoát khổ. Còn chúng ta là phàm nhân sống trong đời thường, thì luôn bị vô thường, khổ chi phối.

Muốn thoát khổ không phải tìm kiếm một cuộc sống lúc nào cũng an lành hoàn hảo, cũng không phải trốn tránh những khó khăn, bất hạnh, hay những điều làm mình không vừa ý. Đã biết tất cả mọi thứ trên đời này đều biến đổi không thường hằng, nên chúng ta cần tập cách sống chấp nhận sự thật về vô thường khi nó đến. Vì nếu không chấp nhận thì vô thường vẫn đến, và nó sẽ tác động vào cảm thọ của chúng ta. Những xúc cảm dù vui hay buồn tự nó cũng đổi thay. Biết như thế thì chúng ta hãy nhìn vô thường khi nó đến, một cách trung thực, không chê, cũng không khen, nghĩa là không can thiệp. Đó là chúng ta đang thực hành Chánh niệm, tức quan sát biết rõ pháp đến pháp đi, bằng cái tâm yên lặng bình thản. Mình không nuôi dưỡng nó bằng cách suy diễn, trách móc, hay mong cầu... thì phiền não tự yếu đi và biến mất.

Tóm lại, khổ đến không đáng sợ, vì khổ cũng vô thường. Khi khổ xuất hiện, với cái nhìn của chánh niệm tỉnh thức, nó yếu dần rồi biến mất. Trong Kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật dạy: “Tâm có tham thì biết tham. Tâm có sân thì biết sân. Tâm có si thì biết si, không bênh vực cũng không chống đối.” Chỉ quán sát đối tượng đang xảy ra với tâm hoàn toàn không phản ứng. Phản ứng là khi cảm thọ buồn phiền xuất hiện, thì chấp liền “tôi đang buồn, tôi đang bị xúc phạm, tôi đang bị tổn thương v.v...” Khi có chủ thể “tôi” tức bản ngã xuất hiện, lập tức sinh ra việc đổ lỗi, phản kháng, hay mong cầu. Có đổ lỗi, phản kháng hay mong cầu là có khổ!

VI. KẾT LUẬN

Sống ở đời, sẽ có lúc mình buồn, giận, lo âu, sợ hãi. Những cảm thọ ấy vốn là hiện tượng tự nhiên. Tu tập không phải để diệt những cảm xúc đó, cũng không phải đối lập, tạo ra một phiên bản riêng, chiều theo ý muốn mình, mà là để có trí tuệ thấy rõ sự vận hành của “thân, thọ, tâm, pháp”. Cho nên con đường thoát khổ, không nằm ở chỗ tìm kiếm những điều kiện thuận lợi ở bên ngoài, mà thực chất là nằm ở chỗ quay về bên trong, thấy rõ những gì đang trói buộc tâm mình, cho dù sự trói buộc đó là hạnh phúc hay khổ đau cũng không bám víu, vì hạnh phúc hay khổ đau đều vô thường. Chấp trước vào vô thường thì sinh khổ.

Giáo lý nhà Phật dạy rằng tất cả mọi hiện tượng trong thế giới này đều đang trong trạng thái di động không ngừng, và do đó không có gì là thực sự ổn định. Nếu ta cứ dính mắc vào chúng, thì chúng ta khó tránh khỏi phiền não. Cho dù sống ở thời đại nào cái khổ cũng xuất hiện chi phối con người. Khi nhận thức được rằng khổ đau là một phần của đời sống, chúng ta sẽ không còn chối bỏ, hay tránh né nó, mà sẽ học cách đối diện và vượt qua.
Muốn vượt thoát khổ, không phải lúc nào cũng cầu mong tâm được bình yên, mà là ngay cả trong lúc sóng gió phiền muộn tràn đến, thái độ của tâm vẫn định tỉnh, sáng suốt quan sát “cái đang là” của đối tượng một cách bình thản. Ngay lúc đó tâm được tự do, thoát khổ.
Bài học về Khổ, không chỉ đơn thuần là những lời dạy trên mặt lý thuyết, mà là bài học thực tiễn mang tính ứng dụng cao trong đời sống hằng ngày. Vô thường mang đến sự không toại ý, không toại ý thì khổ. Vô thường và khổ là hai chân lý trong tam pháp ấn, pháp ấn thứ ba là vô ngã.
Chúng tôi tạm ngưng phần chia sẻ về đề tài “Khổ Trong Tam Pháp Ấn” tại nơi đây. Kính chúc tất cả quý vị hữu duyên, nhận ra khổ cũng chỉ là một pháp vô thường, nó sanh rồi cũng diệt, để khi giáp mặt với khổ, tâm chúng ta bình thản, không bị “vô thường làm khổ”! Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
(Sinh hoạt với Hội thiền Tánh Không Houston, Texas ngày 01/3/2026)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/06/2019(Xem: 9429)
"Nhân sinh": đời người, cuộc sống con người "Quan": cái nhìn, quan niệm "Nhân sinh Quan" nghĩa là "cái nhìn" hay "quan niệm" về đời sống của con người. A) Con người từ đâu mà có? Phật giáo giải đáp câu hỏi ngàn đời nầy bằng giáo thuyếtThập nhị Nhân duyên, tức là chuỗi 12 nhân duyên dây chuyền sau đây: 1) Vô minh: Do một niệm bất giác mà phát sinh mê lầm, chấp ngã chấp pháp, do đó mà khởi ra Phiền não - nên cũng gọi là Hoặc. Chúng ta không thể tìm ra điểm khởi đầu của sự Vô minhđã khởi đầu cho sự hiện hữu của chúng sinh và vạn vật, hữu tình cũng như vô tình.
12/04/2019(Xem: 5461)
Thế mới biết trăm sông rồi cũng đổ về biển, dung hòa một vị mặn của đại dương; muôn pháp cùng đổ vào biển tuệ, thuần một vị giải thoát.Những lời dạy của đức Phật được ghi chép thành Tam tạng kinh điển, trở thành một trong những kho tàng trí tuệ vĩ đại nhất của nhân loại. Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật được truyền bá rộng rãi khắp năm châu và bị ảnh hưởng cũng không nhỏ bởi nhiều nền văn hóa khác. Từ đó, đạo Phật phát triển với các biểu tượng về tôn giáo, về các hình thức nghi lễ, và kể cả những pháp môn tu hành của những khóa tu ở mỗi nơi.Chính vì thế, đạo Phật bị đa dạng hoá về hình thức lẫn nội dung tu tập, thể hiện qua nhiều pháp môn. Như vậy trong thời đại bây giờ, đặt ra cho chúng ta sự lựa chọn; pháp môn nào là đúng, phápmôn nào là sai? Không có pháp môn nào là đúng và không có pháp môn nào là sai cả. Tại sao? Vì pháp môn tu không có lỗi, mà lỗi ở tại con người làm đúng hay sai mà thôi.
14/02/2019(Xem: 10156)
Thuở xưa có một ông vua hiền đức, cai trị công bằng, dân chúng trong nước sống thanh bình. Một hôm, dưới sự đề nghị của cận thần tả hữu, vua triệu tập tất cả trưởng lão tôn túc của các tôn giáo trong nước. Khi tất cả có mặt đầy đủ, vua nói:
13/12/2018(Xem: 6116)
Suy nghĩ về Mười Hai Nhân Duyên - GS Trần Tuấn Mẫn , Nguyên văn đoạn kinh trong phẩm Phật-đà, Tương ưng bộ, như sau: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là lý duyên khởi? Này các Tỳ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi”.
02/12/2018(Xem: 12444)
Thời gian gần đây nhiều Phật tử đã yêu cầu tôi giải thích những lời dạy vô giá của Phật theo phương cách hiện đại, xử dụng thuật ngữ và diễn giải thực tế, có hiệu quả, thực tiễn và không quá cao siêu. Theo phương cách dễ hiểu và thực tế để áp dụng trong đời sống hằng ngày. Đây là tập sách đầu của một chuỗi những tập sách nhằm mục đích đáp ứng những thỉnh cầu này. Đây là tập sách sưu tập gồm 50 lời dạy ngắn kèm theo chú giải chi tiết dài ngắn khác nhau, mục đích để khuyến khích tất cả những vị đã dành thời gian để đọc và thực hành những lời dạy này để phát triển sự hiếu biết chân thật và lòng từ bi.
05/11/2018(Xem: 5402)
“Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là có tội; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời hãy từ bỏ chúng! Nhưng khi nào tự mình biết rõ như sau: ‘các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này được các người có trí tán thán; các pháp này nếu được chấp nhận và thực hiện đưa đến hạnh phúc an lạc’, thời hãy từ đạt đến và an trú!” Đức Phật (Kinh Tăng Chi Bộ)
18/10/2018(Xem: 5364)
Phải nghi trước, rồi gỡ được nỗi nghi xong, bấy giờ tin tưởng mới chắc thật. Đó là chuyện của người tộc họ Kalama ở thành phố Kesaputta thời hơn 2,500 năm về trước. Thực tế, thời nào cũng có người Kalama, chứ không phải chỉ trong thời xa xưa. Có thể đoán rằng, những người mang dòng máu Kalama mạnh nhất, hẳn là các nhà khoa học – thí dụ, như các nhà vật lý thiên tài Albert Einstein, Stephen Hawking... Chớ hòng ai thuyết phục họ tin cái gì không thuận lý.
04/09/2018(Xem: 13274)
Tu Tứ Đế Pháp, Bốn Chân Lý Chắc Thật, Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi Chứng Đạo dẹp tan sự quấy nhiễu của ma quân ở cõi Trời Tha hóa thứ sáu vào nửa đêm ngày mùng 8 tháng 2 năm Tân-Mùi. Việt lịch Năm 2256 HBK*. Tr.BC.596. Sau Thời Hoa Nghiêm Phật đến vườn Lộc Dã Uyển truyền dạy Bốn Pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị từng theo Phật cùng tu thuở trước, thành bậc Tỳ Khưu đắc đạo. Năm vị đó là: 1/. A Nhã Kiều Trần Như, 2/. A-Thấp Bà, (Mã-thắng) , 3/ .Bạt-Đề, 4/. Ma-Ha-Nam, 5/. Thập-Lực-Ca-Diếp. Năm Vị nghe pháp Tứ Đế rồi, tu tập chứng A La Hớn Quả. Tứ Đế Pháp: 1. Khổ Đế. 2. Tập Đế. 3. Diệt Đế. 4. Đạo Đế. -Khổ Đế, là Ác quả của Tập Đế. -Tập Đế, là tạo Nhân xấu của Khổ Đế. -Diệt Đế, là Thiện quả của Đạo đế. -Đạo Đế, là Nhân tu của Diệt Đế.
14/08/2018(Xem: 9256)
Kinh Vị Tằng Hữu của Bắc tông và Tăng Chi Bộ Kinhcủa Nam Tông đều có ghi rằng trong cuộc đời của một vị Phật CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC có 4 lần sự kiện vi diệu này xảy ra. Mỗi lần như thế, có một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh không có nền tảng, tối tăm u ám, mà tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây".
13/08/2018(Xem: 9724)
Các Phân Khoa Phật Giáo Thích Thái Hòa Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu. Trong Phật giáo có năm phân khoa như sau: 1/ Phật giáo Đại chúng Thời Phật, xã hội Ấn Độ phân chia thành bốn giai cấp, gồm: - Bà-la-môn (Brāhmaṇa): Giai cấp Tăng lữ, giai cấp học giả của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Họ tự nhận sinh ra từ miệng Phạm-thiên. Giai cấp này làm mai mối giữa thần linh với con người. Họ có sáu quyền hạn: Tự ý làm đền thờ trời; làm thầy tế để tế trời; tự ý đọc Phệ đà (veda); dạy người khác đọc Phệ đà (veda); tự bố thí và tự nhận sự bố thí.