Khổ trong Tam Pháp Ấn

03/03/202617:38(Xem: 215)
Khổ trong Tam Pháp Ấn

phat thanh dao
KHỔ TRONG “TAM PHÁP ẤN”

Thích Nữ Hằng Như



I.DẪN NHẬP

Sống trên đời ai cũng khổ. Người giàu cũng khổ. Người nghèo cũng khổ. Người đẹp, người xấu cũng đều khổ. Có những cái khổ tự nhiên xảy ra trên thân mình như: đói quá, bao tử cồn cào, đau bụng, nhức đầu, nhức răng, nóng sốt... là những cái đau trên cơ thể, khiến mình vô cùng khó chịu. Những cái khổ này không ai muốn, nhưng dẫu sao nó cũng cần thiết, vì nó báo động cho chúng ta biết mức độ nguy hiểm tác động lên cơ thể của mình để sớm trị liệu. Nếu không có những cái khổ tự nhiên này, thì con người chỉ là một tảng đá vô tri.

Khổ cũng có nhiều loại khổ. Chung quy không ai muốn khổ, nhưng cái khổ vẫn xuất hiện trong đời sống của mỗi người, không phân biệt chủng tộc quốc gia hay tầng lớp xã hội.

Trong giáo lý nhà Phật, Khổ là pháp ấn thứ hai trong “Tam Pháp Ấn: Vô thường, Khổ và Vô ngã”. Khổ này được dịch từ tiếng Pali là “dukkha”. Dukkha là một thực tại cơ bản của cuộc sống, “không chỉ là nỗi buồn bực, khó chịu thông thường”, mà bao gồm ý nghĩa của “sự bất toàn, không hoàn hảo, không ổn định, vô thường, tạm bợ và sự không thỏa mãn trong vòng luân hồi v.v... “
“Dukkha” được dịch sang tiếng Việt một cách tổng quát là “khổ đau”.

II. KHỔ TRONG KINH “TỨ DIỆU ĐẾ”

Trong Tứ Diệu Đế, Đức Phật giảng về khổ, nguyên nhân gây khổ, chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt khổ. Không phải vì thế, mà đức Phật cho rằng con người không có hạnh phúc. Thực ra sống ở đời, cũng có lúc con người cảm thấy rất hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thế gian chỉ là thứ hạnh phúc tạm bợ.

Như định nghĩa ở trên những gì “tạm bợ, vô thường” đều được hiểu là “dukkha”. Như vậy chúng ta thấy rằng “dukkha” không chỉ có nghĩa là “khổ sở, bất toại nguyện, không vừa ý” mà còn bao hàm cả “hình trạng lạc và hỷ “ của con người sống trong thế gian này. Tại sao vậy? Đó là vì tất cả mọi sự vật, sự kiện đều mang đặc tính Vô thường. Nên ngay khi con người đang hưởng sự khoái lạc thích thú, thì sự tiếc nuối phiền muộn sẽ đến ngay sau đó. Vì thế người ta thường nói: “ Trong niềm vui đã chứa sẵn nỗi buồn”, “Trong sự sống đã chứa sẵn sự chết”.

Khái niệm “dukkha” có thể được nhìn từ 3 khía cạnh:

1. Phương diện sinh lý: Khổ là cảm giác khó chịu, bức bối, đau đớn như cảm giác đau đầu, nhức răng, đau nhức toàn thân... Đây là sự đau đớn bức bách về thể xác, con người thường gặp phải trong cuộc sống hằng ngày. Ngoài ra có bốn cái khổ cơ bản về thân, mà ai cũng phải trải qua trong một đời người như:

- Sanh khổ: Ngay đứa bé từ lúc sắp sửa ra đời, cả mẹ và con đều trải qua những giờ phút vật vả đau đớn. - Lão khổ: Nỗi khổ của tuổi già. Khi cơ thể suy yếu, các giác quan không còn hoạt động bén nhạy như lúc còn trẻ: mắt mờ, răng rụng, đi đứng không vững. - Bệnh khổ: Nỗi khổ khi đau ốm, thân thể bị đào mòn bởi tứ đại không hài hòa, sinh ra bệnh tật. - Tử khổ: Nỗi khổ của sự chết. Nỗi sợ hãi khi cái chết đến gần, sợ phải lìa xa thân xác và những gì mình sở hữu trên đời như: tài sản, chồng, vợ, con cái....

Đó là bốn giai đoạn của một đời người: Sinh, lão, bệnh, tử. Giai đoạn nào con người cũng phải đối đầu với “dukkha”!
2. Phương diện tâm lý: Nỗi khổ về tâm, do những mất mát thua thiệt trong cuộc đời gây ra. Chẳng hạn như: - Ái biệt ly khổ: Yêu thương người mà phải chịu cảnh chia xa. - Oán tăng hội khổ: Người mình không ưa, không thích mà cứ phải đối mặt nhau hoài.- Cầu bất đắc khổ: Không đạt được những ước mơ về tình yêu, tiền tài, danh vọng, địa vị...

Những điều bất toại nguyện vừa kể, khiến tâm lý con người ta luôn bị rối loạn buồn phiền. Đó là những nỗi khổ thuộc về tâm.
3) Khổ do chấp thủ vào ngũ uẩn: Đức Phật dạy “dính chấp vào năm uẩn cho nó là ta, của ta, tự ngã của ta là khổ .” Năm uẩn này là năm yếu tố nương vào nhau để tạo thành con người, gồm thân thể, cảm giác, niệm tưởng, tâm hành và nhận thức. Ý niệm chấp ngã cho rằng đây là “thân thể tôi, tâm tư tôi, tình cảm tôi, nhận thức của tôi”... chấp ngã hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ, từ đó mọi đau khổ phát sinh.

Tóm lại về mặt hiện tượng, khổ đau là cảm giác khổ về thân như khổ vì sinh, già, bệnh, chết. Sự bức xúc, lo lắng, không toại nguyện là khổ về tâm. Về mặt bản chất, khổ đau là do sự chấp thủ, và ngã hóa năm uẩn. Nỗi khổ do năm yếu tố tạo nên con người là sắc, thọ, tưởng, hành, thức không hài hòa gây ra phiền não, Hán ngữ gọi là “Ngũ uẩn xí thịnh khổ ”

Trên đây là tám cái khổ được đức Phật giảng trong kinh Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế là giáo lý cốt lõi của Phật Giáo, là bài thuyết pháp đầu tiên, sau khi đức Phật giác ngộ dưới cây bồ đề. Đây là con đường giúp chúng sanh nhận thức về bản chất của đời sống là khổ đau. Từ đó tìm ra cách vượt qua khổ đau, để đạt được giải thoát.

Tứ Diệu Đế bao gồm bốn phần chính: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Mỗi đế đều mang một thông điệp quan trọng về sự hiểu biết: Thế nào là Khổ, nguyên nhân gây khổ, chấm dứt khổ và con đường tu tập giải thoát khổ.

Nguyên nhân sâu xa và căn bản khác chính là vô minh và khát ái. Vô minh là sự thiếu hiểu biết, không thấy được bản chất thật sự của sự vật và hiện tượng. Trí tuệ trong Phật Giáo không phải là sự hiểu biết thông thường, mà là sự thấy rõ được bản chất “vô thường, khổ, vô ngã” của mọi pháp.
Vì vô minh cho nên không nhận ra bản chất của sự vật, hiện tượng, luôn chuyển biến, vô thường. Không nhận diện được tất cả mọi thứ đều nương nhau mà sanh khởi, nó không độc lập, không tồn tại trường cửu, nên chúng Vô ngã. Vì vô minh nên nghĩ tưởng sai lầm, chấp ngũ uẩn là ta, của ta, tự ngã của ta. Vì tưởng nghĩ sai lầm như vậy, cho nên áp đặt: “ta giận hờn, ta phiền não, ta tổn thương” cho ra kết quả “ta khổ đau”!

III. KHỔ TRONG TAM PHÁP ẤN

Pháp ấn thứ nhất là Vô thường. Trong đời sống hằng ngày, tất cả mọi hiện tượng xảy ra trên đời đều vô thường, biến đổi. Hôm nay đoàn tụ vui vẻ, ngày mai, ngày kia cũng phải chia xa. Hôm nay khỏe mạnh yêu đời, tuần sau đổ bệnh chán đời. Hôm nay thành công vui vẻ, ngày mai thất bại buồn khổ. Cho nên sau niềm vui thì nỗi buồn sẽ đến. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng thuộc pháp hữu vi đều vô thường biến đổi, không có điều gì đứng yên một chỗ. Người có tuệ giác về vô thường sẽ không phản kháng, chống đối khi vô thường xảy ra. Ngược lại, người không hiểu, không thấy vô thường là một chân lý, thì lúc nào cũng muốn những gì tốt đẹp ở mãi bên mình, không bao giờ muốn đổi thay.

Chính cái “muốn”, cái “tham” ấy là nguồn gốc của khổ. Khổ không nằm ở sự việc, ở hoàn cảnh bên ngoài, mà nằm ở chỗ phản ứng của tâm đòi hỏi sự việc, hoàn cảnh đó, phải theo ý muốn của mình. Khi tâm phản kháng chống lại sự thật về vô thường, thì khổ từ đó phát sinh.

IV. BÁT CHÁNH ĐẠO, CON ĐƯỜNG DIỆT KHỔ

Trong Bát Chánh đạo, đức Phật giảng rằng để đạt được sự giải thoát, đầu tiên con người phải nhận diện và hiểu rõ bản chất của khổ đau. Chỉ khi nhận thức được khổ đau con người mới có thể bắt đầu tu tập. Bát chánh đạo bao gồm 8 yếu tố, từ việc giữ đúng đạo đức, giữ tâm yên lặng, đến việc phát huy trí tuệ. Tất cả đều hướng tới việc giảm bớt khổ đau và đi đến sự giác ngộ.

1. Chánh kiến: Nhận thức đúng đắn về đạo đức của đời sống, cái nào thiện cái nào ác. Hiểu rõ lời dạy của đức Phật về Tứ đế, đồng thời hiểu đúng bản chất của sự vật và cuộc sống do Duyên sanh, nên chúng Vô thường, Khổ, Rỗng không (Vô ngã). 2.Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng đắn không bị chi phối bởi tham sân si. 3. Chánh ngữ: Lời nói chân thật, từ tâm, không đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung dữ, căm thù. 4. Chánh nghiệp: Hành động đúng đắn không sát sanh, lừa gạt, trộm cắp, hành dâm phi pháp. Thực tập lòng từ bi đối với mọi người không phân biệt thân sơ, thương ghét. 5. Chánh mạng: Mưu sinh bằng nghề nghiệp chân chính, không bằng những nghề phi pháp, gian xảo, độc ác hại người. 6. Chánh tinh tấn: Nỗ lực trong việc loại bỏ những yếu tố tiêu cực. Ngăn chặn điều ác chưa sanh và đã sanh. Phát huy tâm thức lành mạnh tốt đẹp đã sanh và chưa sanh. 7. Chánh niệm: Nhớ nghĩ đúng đắn. Tỉnh thức trong từng khoảnh khắc không bị cuốn theo những suy nghĩ phiền não. 8. Chánh định: Tập trung tư tưởng đúng đắn, tâm không dao động do suy nghĩ lung tung. Mục đích đạt được sự an tĩnh trong tâm.

Bát chánh đạo là phương pháp thực tiễn giúp con người vượt qua khổ đau trong cuộc sống. Mỗi yếu tố trong Bát Chánh Đạo đều đóng vai trò quan trọng trong việc giúp hành giả thanh lọc tâm, phát triển trí tuệ, và đạt được sự giải thoát cuối cùng. Những nguyên lý và phương pháp này có thể áp dụng trong mọi hoàn cảnh ngay trong đời sống hiện tại, chẳng những giúp chúng ta vượt qua khổ đau, mà còn sống một cuộc đời bình an và hạnh phúc .

V. CHUYỂN HÓA KHỔ ĐAU TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY

Chỉ những vị A-la-hán lúc nào cũng an trú trong Chánh định mới thoát khổ. Còn chúng ta là phàm nhân sống trong đời thường, thì luôn bị vô thường, khổ chi phối.

Muốn thoát khổ không phải tìm kiếm một cuộc sống lúc nào cũng an lành hoàn hảo, cũng không phải trốn tránh những khó khăn, bất hạnh, hay những điều làm mình không vừa ý. Đã biết tất cả mọi thứ trên đời này đều biến đổi không thường hằng, nên chúng ta cần tập cách sống chấp nhận sự thật về vô thường khi nó đến. Vì nếu không chấp nhận thì vô thường vẫn đến, và nó sẽ tác động vào cảm thọ của chúng ta. Những xúc cảm dù vui hay buồn tự nó cũng đổi thay. Biết như thế thì chúng ta hãy nhìn vô thường khi nó đến, một cách trung thực, không chê, cũng không khen, nghĩa là không can thiệp. Đó là chúng ta đang thực hành Chánh niệm, tức quan sát biết rõ pháp đến pháp đi, bằng cái tâm yên lặng bình thản. Mình không nuôi dưỡng nó bằng cách suy diễn, trách móc, hay mong cầu... thì phiền não tự yếu đi và biến mất.

Tóm lại, khổ đến không đáng sợ, vì khổ cũng vô thường. Khi khổ xuất hiện, với cái nhìn của chánh niệm tỉnh thức, nó yếu dần rồi biến mất. Trong Kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật dạy: “Tâm có tham thì biết tham. Tâm có sân thì biết sân. Tâm có si thì biết si, không bênh vực cũng không chống đối.” Chỉ quán sát đối tượng đang xảy ra với tâm hoàn toàn không phản ứng. Phản ứng là khi cảm thọ buồn phiền xuất hiện, thì chấp liền “tôi đang buồn, tôi đang bị xúc phạm, tôi đang bị tổn thương v.v...” Khi có chủ thể “tôi” tức bản ngã xuất hiện, lập tức sinh ra việc đổ lỗi, phản kháng, hay mong cầu. Có đổ lỗi, phản kháng hay mong cầu là có khổ!

VI. KẾT LUẬN

Sống ở đời, sẽ có lúc mình buồn, giận, lo âu, sợ hãi. Những cảm thọ ấy vốn là hiện tượng tự nhiên. Tu tập không phải để diệt những cảm xúc đó, cũng không phải đối lập, tạo ra một phiên bản riêng, chiều theo ý muốn mình, mà là để có trí tuệ thấy rõ sự vận hành của “thân, thọ, tâm, pháp”. Cho nên con đường thoát khổ, không nằm ở chỗ tìm kiếm những điều kiện thuận lợi ở bên ngoài, mà thực chất là nằm ở chỗ quay về bên trong, thấy rõ những gì đang trói buộc tâm mình, cho dù sự trói buộc đó là hạnh phúc hay khổ đau cũng không bám víu, vì hạnh phúc hay khổ đau đều vô thường. Chấp trước vào vô thường thì sinh khổ.

Giáo lý nhà Phật dạy rằng tất cả mọi hiện tượng trong thế giới này đều đang trong trạng thái di động không ngừng, và do đó không có gì là thực sự ổn định. Nếu ta cứ dính mắc vào chúng, thì chúng ta khó tránh khỏi phiền não. Cho dù sống ở thời đại nào cái khổ cũng xuất hiện chi phối con người. Khi nhận thức được rằng khổ đau là một phần của đời sống, chúng ta sẽ không còn chối bỏ, hay tránh né nó, mà sẽ học cách đối diện và vượt qua.
Muốn vượt thoát khổ, không phải lúc nào cũng cầu mong tâm được bình yên, mà là ngay cả trong lúc sóng gió phiền muộn tràn đến, thái độ của tâm vẫn định tỉnh, sáng suốt quan sát “cái đang là” của đối tượng một cách bình thản. Ngay lúc đó tâm được tự do, thoát khổ.
Bài học về Khổ, không chỉ đơn thuần là những lời dạy trên mặt lý thuyết, mà là bài học thực tiễn mang tính ứng dụng cao trong đời sống hằng ngày. Vô thường mang đến sự không toại ý, không toại ý thì khổ. Vô thường và khổ là hai chân lý trong tam pháp ấn, pháp ấn thứ ba là vô ngã.
Chúng tôi tạm ngưng phần chia sẻ về đề tài “Khổ Trong Tam Pháp Ấn” tại nơi đây. Kính chúc tất cả quý vị hữu duyên, nhận ra khổ cũng chỉ là một pháp vô thường, nó sanh rồi cũng diệt, để khi giáp mặt với khổ, tâm chúng ta bình thản, không bị “vô thường làm khổ”! Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
(Sinh hoạt với Hội thiền Tánh Không Houston, Texas ngày 01/3/2026)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/09/2023(Xem: 4844)
Lộ Trình Tu Tập: Giới, Định và Tuệ
04/11/2022(Xem: 5661)
Sau hai ngày 14 và 15 tháng 5 năm 2022, nhằm ngày trăng tròn tháng Tư âm lịch, đúng vào ngày Đản Sanh năm 2646 của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, trước khi trở về Hamburg, Hòa Thượng Phương Trượng Tổ Đình Viên Giác tặng cho tôi cuốn “Tôi Đọc Đại Tạng Kinh.” Đây là tác phẩm 69 của ngài vào độ tuổi 73. Trên xe lửa, tôi vội đọc ngay lời Dẫn nhập của Thầy ở đầu sách. Thầy viết: “Tất cả chúng ta đều bình đẳng về thời gian, dầu nam hay nữ, Tăng hay Ni, người lớn hay trẻ thơ..., mỗi ngày đều có đúng 24 tiếng đồng hồ như nhau, không hơn không kém. Tuy nhiên có nhiều người làm được rất nhiều việc trong khoảng thời gian 24 tiếng đồng hồ đó, mà cũng có nhiều người đã bỏ phí thời gian một cách vô ích...”
23/09/2022(Xem: 5141)
Tại Pháp, cơn đại dịch thực sự bắt đầu vào khoảng tháng ba năm 2020, với các lịnh phong tỏa, hạn chế những sinh hoạt bình thường của dân chúng như mua bán, di chuyển, tụ họp, ngay cả các công ty, công sở, các văn phòng cũng phải hạn chế số nhân viên, nhân công…Nhưng oái ăm thay, tại các bệnh viện thì bịnh nhân quá đông mà bác sĩ, y tá, phụ tá, cho đến hạ tầng cơ sở, các lao công lo phần vệ sinh, quét dọn cũng không đủ để đảm nhiệm cho xuể mọi công việc. Khởi đầu nạn dịch quả thật đem lại nhiều lo âu cho mọi người. Nhưng rồi, phía chính phủ cũng như dân chúng, ai cũng phải cố gắng, hi sinh để đương đầu với đại nạn. Và dần dà những khó khăn ban đầu cũng được khắc phục.
20/09/2022(Xem: 4742)
Kẻ trí tuệ ít lỗi lầm và khi phạm lỗi thì nhận biết và tu sửa. Kẻ ngu si không biết lỗi lầm và khi nhận biết thì biện minh mà không hề tu sửa. -Kẻ trí tuệ trước mọi sự việc đều tìm hiểu và phân tích lợi-hại. Còn kẻ ngu si chỉ nhìn thấy lợi mà không thấy hại. -Kẻ trí tuệ biết đo lường thời thế. Còn kẻ ngu si thì làm bừa, khi thất bại lại đổ lỗi cho Trời. Tức khí nhảy ra đâm chém dễ. Nhẫn nhục chờ thời khó, “Khảng khái cần vương dị. Thung dung tựu nghĩa nan.” (Lý Trần Quán Tiến Sĩ đời Lê Trung Hưng) -Kẻ ngu si kết bạn bừa bãi, thường rủ rê đi các nơi ăn chơi như phòng trà ca vũ, quán nhậu, hát karaoke, hoặc tổ chức ăn nhậu ồn ào ở nhà khiến vợ con phải hầu hạ, buồn phiền. Rồi chỉ vì một cử chỉ hay lời nói gì đó mà vung dao giết nhau. Chính vì thế mà kẻ ngu si thường đem giặc cướp về nhà. Kẻ trí tuệ tiếp bạn một cách trang trọng. thanh lịch, lễ độ và chừng mực. “Quân tử chi giao đạm nhược thủy. Tiểu nhân chi giao điềm như mật”.
15/06/2022(Xem: 5935)
Bản ngã là một chủ đề từ lâu các nhà chú giải và quý giảng sư thường nhắc đến. Người viết chưa đủ khả năng lạm bàn, nhưng sở dĩ bài viết này có được…đó nhờ mục hỏi đáp của Trung tâm Hộ Tông với tiêu đề “ BẢN NGà VÀ ĐẠI NGÔ qua các câu hỏi của tứ chúng từ khắp nơi trong và ngoài nước gửi về và đã được Hoà Thượng Viên Minh hồi đáp.
24/02/2022(Xem: 19271)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
17/11/2021(Xem: 45065)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
13/11/2021(Xem: 22574)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/10/2020(Xem: 7013)
Bài viết này kính tri ân lời dạy của Sư Phụ Viên Mình trong bài pháp thoại “10 ba la mật “ và sự khuyến khích của Thượng Toạ Thích Nguyên Tạng “hãy thọ trì đọc tụng Kinh Bát Nhã Ba La Mật và nghe các bài tổng luận “ đang được đăng tải trên trangnhaquangduc Kính đa tạ và tri ân quý Ngài và kính xin phép được trình bày những điều con học được và kính xin quý Chư Tôn Đức và các bạn đạo tha thứ cho sự mạo muội của hậu bối vì dám “múa rìu qua mắt “, nhưng con trộm nghĩ .
16/09/2020(Xem: 7316)
Một Phật tử tại gia như tôi không biết gặp duyên phước nào để có thể được ghi lại vài cảm nghĩ về một bài viết mà cốt lõi chính yếu nằm trong Duy Thức Học , một bộ môn khó nhất cho những ai đã theo Đại Thừa Phật Giáo chỉ đứng hàng thứ hai sau Bộ kinh Đại Bát Nhã và hơn thế nữa những lời dẫn chứng lại trích từ quý Cao Tăng Thạc Đức rất uyên bác trác tuyệt về giáo lý Phật Đà như Đệ lục Tăng Thống HT Thích Tuệ Sỹ và Cố Thiền Sư Nhật Bản Daisetz Teitaro Suzuki.