Cùng mỉm cười với Phật

16/08/201307:08(Xem: 8318)
Cùng mỉm cười với Phật

Phat_Thich_Ca_5

Nếu một ngày Đức Phật xuống thăm thế gian này, tôi cũng như bao Phật tử tất nhiên sẽ tìm mọi cách để được diện kiến Ngài. Rất nhiều người chỉ nghe đi gặp Phật đã hạnh phúc nghẹn ngào. Đến khi gặp được Ngài, chắc chắn sẽ không nói được chi mà chỉ biết sung sướng khóc sướt mướt. Càng nín cho tiếng khóc không làm ồn Thánh chúng, càng nức nở sụt sùi. Tôi nghĩ mọi người sẽ giống tôi, không mong đợi Ngài sẽ nói điều gì thêm nữa, chỉ mong được nhìn Ngài mỉm cười thôi! Vậy là quá đủ! Vậy là quá hạnh phúc rồi.

Ôi nụ cười từ bi của Đức Phật! Nụ cười ấy trên tranh tượng đã sưởi ấm đem lại an lạc cho loài người. Được chiêm ngưỡng nụ cười thật, sẽ không thể nào dùng ngôn từ miêu tả, diễn bày.

Đức Phật có nụ cười vô cùng mầu nhiệm. Nụ cười kết tinh quá trình tu tập, giải thoát hoàn toàn. Nụ cười ấy hiện diện khắp nơi, đi đứng nằm ngồi, bất cứ lúc nào, ngay cả lúc Ngài nhập Niết-bàn giã từ thế gian. Đây là lý do nghệ nhân từ mấy ngàn năm qua cho đến ngày nay, khi tạo tranh tượng Phật bao giờ cũng có nụ cười.

Cuộc sống ai cũng trải qua thăng trầm, có lúc rất yếu đuối. Trong một lần đối diện nỗi đau khổ tận cùng, chán chường tuyệt vọng nhất, tôi không biết làm gì hơn là ngồi trước tượng Phật nhìn Ngài. Nhìn hồi lâu, tôi thấy Ngài có nụ cười đẹp chi lạ. Tôi cảm được năng lượng nụ cười ấy đang lan tỏa vỗ về xoa dịu vết thương lòng. Rồi tôi bắt chước ngồi mỉm cười, tưởng tượng mình đang có khuôn mặt thanh tịnh từ bi như Ngài. Chẳng bao lâu, đau khổ chán chường như tan biến đi, tôi thấy thân tâm an lạc.

Đêm ấy, khi nằm ngủ tôi hình dung Phật mỉm cười và tôi đang cười với Phật. Những ngày sau cũng thế, tôi cố gắng an trú trong nụ cười. Một ngày, hai ngày rồi vài ngày trôi qua, tôi chợt nhận ra chung quanh biến đổi lạ kỳ. Đồng nghiệp cười nhiều hơn, đối xử tốt hơn. Bất cứ nơi nào tôi giao tiếp, hình như ai cũng nhiệt tình, vui vẻ tốt bụng đến lạ lùng. Những duyên lành, niềm vui sinh sôi nảy nở xóa tan đi nỗi buồn không biết tự khi nào.


Không phải ngẫu nhiên nhiều người trên thế giới đều thích trình bày tranh tượng Phật trong nhà dù không phải là Phật tử. Nụ cười Phật góp phần tạo nên không gian thanh tịnh tốt lành. Các bạn hãy thử đi, sẽ thấy mọi việc thay đổi đến lạ lùng. Đi làm về dừng trước cửa, hít thở ba hơi dài, nghĩ đến nụ cười Đức Phật, bước vào nhà mỉm cười từ ái: hạnh phúc trong gia đình bỗng nhiên tràn đầy. Khi chờ chồng con về, đến công sở, đi chợ, giao tiếp hàng xóm, bạn hãy cười như Phật cười, bạn sẽ thấy thế gian này đầy người dễ thương tốt bụng.

Nếu bạn là bậc cha mẹ có con thơ, mỗi đêm trước khi đi ngủ, cùng con đứng trước bàn thờ thắp nén nhang, chậm rãi ngọt ngào với con:
- Đức Phật cười hiền quá, đẹp quá. Mình cùng mỉm cười đôi phút với Phật, con nhé! Mình cùng thực tập, gặp ai cũng cười... như Phật luôn cười với mình. Một, hai phút lặng yên, cầm tay con, bạn sẽ thấy gần gũi với Phật với con hơn bao giờ hết.

Đây là món quà vô giá, hết sức đơn giản bạn có thể tặng con. Những chủng tử nụ cười, thanh tịnh, từ bi của Phật sẽ từ từ gieo vào tàng thức, chuyển hóa con thành người thánh thiện có khuôn mặt tươi vui, hiền hòa rất tự nhiên. Bạn sẽ thấy con dễ mến vô cùng và thương kính gần gũi cha mẹ hơn bao giờ hết.


Hình tượng Đức Phật có mặt khắp nơi luôn cười với chúng ta, nhắc nhở chúng ta hãy cười từ ái với nhau. Một sớm mai bước ra khỏi nhà, chung quanh ta luôn có nụ cười, một thế giới đẹp an lạc làm sao. Cảnh giới Tây phương Cực lạc ta chưa đến, nhưng Ta-bà thanh tịnh là đây. Xin được mỉm cười cùng Phật, cùng bạn. Mong nhân gian luôn gặp nhau trong nụ cười từ ái đầy tình thương yêu, tỉnh thức của Đức Thế Tôn.

Huyền Lam

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/10/2014(Xem: 7001)
Có lắm người xuất gia cũng như tại gia cho rằng, chúng ta tu không thể nào giác ngộ thành Phật. Vì đức Phật ra đời có những nhân duyên kỳ đặc, bản chất Ngài đã thánh sẵn rồi; còn chúng ta nào là ham mê dục lạc, nào là tội lỗi đầy đầu, nào là sanh nhằm thời mạt pháp căn cơ yếu kém ngu độn v.v... làm sao tu thành Phật được? Ở đây chúng ta hãy nhìn Thái tử là một con người, thật là người để lấy làm mẫu mực hướng theo tu hành.
08/10/2014(Xem: 7283)
Một số cư sĩ Phật giáo Nam tông thường hỏi tôi về tư tưởng Tánh Không trong kinh điển Theravāda. Có khi tôi trả lời: “Các pháp do duyên khởi nên vô ngã tính, vì vô ngã tính nên không. Không này chính là Không Tánh chứ có gì lạ đâu!” Một lần khác nữa, tôi lại nói: “Cứ đọc cho thật kỹ kinh Tiểu Không, kinh Đại Không, kinh Đại Duyên là sẽ hiểu rõ toàn bộ về tư tưởng Tánh Không thời Phật”. Tuy nhiên, trả lời gì cũng không giải toả được sự tồn nghi, thắc mắc của chư cư sĩ ấy.
06/10/2014(Xem: 6787)
Các kinh nghiệm, quan điểm, phương pháp, hệ thống, lý thuyết, chủ thuyết… là các công cụ để định hướng cho đời sống cá nhân và xã hội. Nó giống như những cái thuyền, bè giúp chúng ta đi qua dòng sông thực tiễn.
06/10/2014(Xem: 7716)
Ngạn ngữ Tây phương nói: “ Cái Tôi là cái đáng ghét” ( Le moi est haissable). Mặc dù là một câu nói được nhiều người biết, nhưng đó mới chỉ là nhận xét hời hợt về cái gọi là Cái Tôi. Đối với ngươi Đông phương, từ mấy ngàn năm nay, Cái Tôi được các nhà hiền triết Ấn Độ, Trung Hoa khám phá và theo dõi rất kỹ lưỡng và sâu sắc; đến nỗi họ mới lập nên một nền triết học về Bản Ngã, về Cái Tôi của con người; với chủ trương: muốn hạnh phúc thì phải giải thoát bản thân khỏi những ràng buộc của Cái Tôi, hoặc chuyển hóa “Cái Tôi Rác Rưỡi” trở thành Cái Tôi thanh khiết, chân thiện. Đặc biệt, đạo Phật dạy phải nỗ lực diệt trừ “lòng chấp ngã” và luôn luôn đề cao tinh thần Vô Ngã như là một trong Tam Pháp Ấn.
02/10/2014(Xem: 6270)
Kinh có ghi lại một cuộc đối thoại giữa du sĩ khổ hạnh Vacchagotta với đức Thế Tôn, và cuộc đối thoại này rất thiền. Vacchagotta tới thăm Bụt. Ông hỏi: - Này sa môn Gautama, có một linh hồn hay không? Bụt im lặng không trả lời. Lát sau Vacchagotta hỏi: - Như vậy là không có linh hồn phải không? Bụt cũng ngồi im lặng. Sau đó Vacchagotta đứng dậy chào và đi ra. Sau khi Vacchagotta đi rồi, Thầy A Nan hỏi Bụt: - Tại sao Thầy không trả lời cho Vacchagotta? Và Bụt bắt đầu cắt nghĩa…
30/09/2014(Xem: 6159)
Ánh hào quang Phật giáo Việt-nam ở cuối triều đại nhà Nguyễn (Khải Định, Bảo Đại) dần dần ẩn mình trong ốc đảo Tịnh Độ, chùa chiền và cá nhân phật tử không còn được sinh hoạt rộng rãi ra xã hội như trước, do bởi tấm chắn của hai bạo lực thực dân Pháp và Thiên-chúa giáo, ngăn chặn và đàn áp bằng Đạo Dụ số 10, không cho thành lập giáo hội, chỉ được lập hội như các hội thể thao, từ thiện… Do đó mà mọi sinh hoạt phật sự đều bị thu gọn trong chùa từ 1932.
23/09/2014(Xem: 21133)
“Đường về” là một tuyển tập gồm một số bài tiểu luận về Phật pháp do cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải thực hiện. Tập sách chủ yếu làm sáng tỏ một số điểm giáo lý và pháp môn thực hành nòng cốt của Phật giáo từ Nguyên thủy cho đến Đại thừa mà tác giả đã có nhân duyên được học tập, thực hành và mong muốn chia sẻ với người khác. Được học tập và thực hành lời Phật dạy là một may mắn lớn của đời người. Người con Phật nhận chân được điều này và do đó luôn luôn mang tâm nguyện chia sẻ với người khác những gì mình đã được học tập và cảm nghiệm ở trong Phật pháp. Chính nhờ tinh thần cao quý này mà đạo Phật không ngừng được phổ biến rộng rãi, và nay những ai yêu quý Ni trưởng Trí Hải vẫn cảm thấy như được chia sẻ lớn từ một người có tâm nguyện mong được chia sẻ nhiều hơn cho cuộc đời.
16/09/2014(Xem: 22009)
Trên ngực Phật, hay trên những trang kinh của Phật, ta thường thấy có chữ VẠN. Nhưng nếu để ý, ta sẽ thấy có hai lối viết khác hẵn: Một là, “chữ vạn” hướng xoay theo chiều kim đồng hồ (lối viết A); hai là”chữ vạn” xoay ngươc chiều kim đồng hồ (lối viết B)
15/08/2014(Xem: 16244)
Tánh biết tham lam vật chất ,ích kỷ,vị tha,nhân quả,,ăn năn ,sám hối, thương yêu, ghét bỏ, sợ hãi, buồn tênh, v.v… của muôn loài hữu tình chúng sinh nói chung, con người nói riêng được hiển lộ ra ngoài thân ở lời nói và hành động trong đời sống hằng ngày.Tánh biết này,được các nhà ngôn ngữ cổ đại Trung Quốc gọi là Tâm.Từ đó cho đến nay người Trung Quốc và Việt Nam đều nói là tâm, một khi đề cập đến sự biết của các loài hữu tình chúng sinh,và con người.
06/08/2014(Xem: 6690)
Thiền sư Động Sơn Lương Giới Thiền sư Lương Giới, Tổ của tông Tào Động ở Trung Hoa. Khi đi tu Ngài có viết mấy lá thư cho cha mẹ. Đọc thư Ngài ta mới thấy ý chí người xưa. Lá thư thứ nhất: “Được nghe, chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân, muôn loài sanh trưởng thảy nhờ trời đất che chở. Cho nên, không có cha mẹ thì chẳng sanh, không có trời đất thì chẳng trưởng, thảy nhờ ân dưỡng dục, đều thọ đức chở che. Song, tất cả hàm thức, vạn tượng hình nghi đều thuộc vô thường chưa lìa sanh diệt. Ân bú sú nặng nề, công nuôi dưỡng sâu thẳm, dù đem của cải thế gian phụng dưỡng trọn khó đáp đền, dùng máu thịt dâng hiến cũng không được bền lâu.