Chúc mừng không trong sạch

22/01/201103:49(Xem: 5718)
Chúc mừng không trong sạch

CHÚC MỪNG KHÔNG TRONG SẠCH

Lão phú hộ lúc nào trong lòng cũng tự so sánh, nhà nông dân chỉ dâng tặng một quả bí mà được nhận lại quá nhiều đồ quí giá gấp trăm ngàn lần, lãi quá, lãi quá. Lão vừa so sánh vừa tiếc nuối và trong lòng cảm thấy uất ức, ganh tị với người nông dân trong xóm.

Thế là, lão phú hộ liền triệu tập một cuộc họp đột xuất để bàn kế hoạch cùng tất cả người thân trong gia đình. Cả nhà đều nhất trí chở đầy bốn cỗ xe tứ mã không thiếu thứ gì hết và họ cũng chờ đợi sự ban ơn của vua. Lần này, đức vua lấy làm khó chịu, không biết giải quyết như thế nào cho phù hợp trước sự dâng tặng quá nhiều của gia đình phú hộ.

Một tia sáng lóe lên, đức vua đã nghĩ ra một món quà tuyệt hảo để trả ơn cho gia đình phú hộ. Và món quà được mang đến chỉ có cái bị rách đựng quả bí đỏ của anh nông dân hôm trước, kèm theo lời giải thích nói lên giá trị của quả bí là do tấm lòng tôn kính, quý trọng chân thực, không có mưu cầu.

Lão phú hộ và gia đình trước khi nhận quả bí được đức vua ân cần chỉ dạy về phương diện cho, tặng, dâng, hiến không phải để cầu lợi lộc về cho mình.

Lão phú hộ và gia đình do lòng tham lam, ích kỷ, muốn bố thí cho vua để được bỗng lộc cao quý. Nào ngờ đâu “mất cả chí lẫn chài,” nhưng nhờ vậy mà gia đình lão đã ý thức được giàu sang, nhiều của cải là do nhiều đời trước biết làm phước cúng dường. Từ đó, lão ta và gia đình thay đổi quan niệm, sống có nhân từ và đạo đức hơn.

Một trái bí và chiếc bị rách để đổi lấy 4 cỗ xe đầy ắp nhiều món trân quý đã làm cho nhà phú hộ thay đổi cách nhìn trong sự sống tương quan này.

Trên đời này, giàu hay nghèo là do nhân duyên của nó, người được giàu sang, phú quý là nhờ vào các yếu tố:

- Yếu tố thứ nhất là biết tích lũy, làm phước bố thí cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ.

- Yếu tố thứ hai là phải siêng năng, tinh cần, làm việc có phương pháp, có nghệ thuật.

- Yếu tố thứ ba là không xa hoa, lãng phí, biết tiết kiệm trong chi tiêu sinh hoạt gia đình.

- Yếu tố thứ tư là không trộm cướp, lường gạt của người và làm ăn chân chánh.

Như người nông dân kia với lòng chí thành, chí kính, sẵn sàng mang quả bí dâng tặng đức vua không một chút mong cầu hay vụ lợi đã làm cho đức vua cảm động mà ban tặng lớn.

Cái chìa khóa vạn năng của việc làm phước là ở chỗ này, chúng ta cần lưu tâm khi làm phước, không nên khởi tâm mong cầu thì cái kết quả mới được thù thắng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/03/2012(Xem: 5367)
Duy thức, như tất cả các con đường khác của Phật giáo, nhằm đến mục tiêu chiến lược là thấy được “hai vô ngã: nhân vô ngã và pháp vô ngã”. Nhân vô ngã là con người vô ngã. Pháp vô ngã là mọi hiện tượng đều vô ngã. Thấy được hai vô ngã là thấy thực tại tối hậu, gọi là tánh Không, Niết-bàn, Pháp thân, Chân Như… Nói theo hệ thống Duy thức, thấy hai vô ngã là giải tan Biến kế sở chấp tánh để Viên thành thật tánh hiển bày. Sanh tử là do không biết rằng tất cả đều do thức biến hiện. Kinh Lăng Già đời Tống, Cầu-na Bạt-đà-la dịch: “Thế nào người trí ở ngay nơi lầm loạn này mà khởi chủng tánh Phật thừa? Nghĩa là giác tự tâm hiện lượng, ở bên ngoài đều vô tự tánh nên chẳng có tướng vọng tưởng”.
02/03/2012(Xem: 4787)
Qua mắt chúng ta, thấy đó là trả nghiệp, đáng sợ, song với Tổ đã không thấy thật, nói gì là trả. Cũng như ông A khi chưa hiểu đạo, bị ông B làm vài hành động không vừa lòng, ông liền mắng chửi ông B. Thời gian sau, ông A hiểu đạo, đúng lúc ông B trả thù mắng chửi thậm tệ hơn trước. Song ông A thấy lời nói không thật, không có gì quan trọng, nên vẫn tươi cười không buồn, không đổi nét mặt. Như thế ông A có trả nợ trước hay không trả nợ trước? Thật sự, nợ đã vay thì phải trả, chỉ khác ở chỗ mê thì thấy thật, ngộ thì thấy không thật. Ðã không thật thì trả cũng như không trả. Vì thế, nói "liễu tức nghiệp chướng bản lai không". Cứu kính thấy nghiệp báo không thật, quả là thấu tột bản chất của nghiệp báo. Tuy không thật mà chẳng mất, đây là bí yếu của đạo Phật.
27/02/2012(Xem: 5425)
Một cách căn bản, chúng ta có thể thấu hiểu Bốn Chân Lý Cao Quý trong hai trình độ [trình độ của sự giải thoát tạm thời khỏi khổ đau và trình độ giải thoát thật sự...
26/02/2012(Xem: 5948)
Thể tánh của đức Phật A Di Đà là vô lượng thọ, vô lượng quang, là Phật Pháp thân. Giáo lý đại thừa đều chấp nhận rằng Pháp thân bao trùm tất cả thế giới.
17/02/2012(Xem: 14977)
Cuộc đời con người sống chỉ khoảng 80 năm, nhưng loanh quanh, lẩn quẩn trong sự vui buồn, thương ghét, phải quấy, tốt xấu, hơn thua, thành bại và được mất. Hôm nay, chúng ta cùng nhau tham khảo về "Thông điệp cuộc đời". Mỗi người chúng ta có mặt trong cuộc đời này đều sống và gắn bó với nó giống như gắn bó với đau khổ và hạnh phúc vậy. Nhưng bất hạnh thay, hạnh phúc thì ít mà khổ đau lại quá nhiều. Bởi vì sao? Vì chúng ta không biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng tình người trong cuộc sống với trái tim thương yêu và hiểu biết.
31/01/2012(Xem: 4737)
Nếu chỉ vì ngũ quan không thể cảm nhận được mà ta quả quyết rằng Niết Bàn là hư vô, là không không, không có gì hết, thì cũng phi lý như người mù kết luận rằng trong đời không có ánh sáng, chỉ vì không bao giờ anh ta thấy ánh sáng. Trong ngụ ngôn "Rùa và Cá" được nhiều người biết, cá chỉ biết có nước nên khi nói với rùa, cá dõng dạc kết luận rằng không có đất, bởi vì có những câu hỏi của cá đều được rùa trả lời là "không". Thuở xưa có một con cá. Cá chỉ biết trong nước và không biết gì ngoại trừ nước. Một hôm, cá mải mê bơi lội trong ao đầm quen thuộc như mọi hôm thì gặp lại chị Rùa. Hỏi ra thì hèn lâu rùa đi dạo trên đất liền. Cá hỏi: "Chào chị rùa, chị đi đâu mà hèn lâu tôi không gặp?" - Này chị cá, chào chị. Hôm rày tôi đi một vòng lên trên đất khô. Rùa trả lời. - Đất khô à! Cá lấy làm ngạc nhiên. Chị nói đất khô, vậy đất khô là gì? Đất làm sao khô được? Tôi chưa bao giờ thấy cái gì mà khô. Đất khô chắc là không có gì hết.
17/01/2012(Xem: 5129)
Hôm nay thể theo lời yêu cầu của chư Tăng Ni tại đây, chúng tôi sẽ thuyết một thời pháp cho tất cả Tăng Ni Phật tử nghe, với đề tài Cội gốc sanh tử và cội gốc Niết-bàn.
27/12/2011(Xem: 5728)
Dựa theo tinh thần Phật giáo, do nhân duyên hòa hợp tất cảnhững nghiệp duyên từ trong những đời quá khứ mà kiến tạo ra con người trong kiếpnầy.
15/12/2011(Xem: 6379)
Nam-Mô A-Di-Đà Phật. Vâng lệnh thầy Trụ trì và thầy Giáo thọ, Minh Tuệ tôi ra thất chia sẻ kinh nghiệm niệm Phật cho Phật tử chùa Tịnh Luật từ năm 2009. Sau hai năm làm Phật sự, tôi nhận thấy Phật tử nắm vững phương pháp hành trì, riêng bản thân tôi bị khựng lại. Do đó tôi ngỏ ý với Phật tử, sẽ vô thất trở lại. Phật tử nói: “Thầy vô thất, chúng con có khó khăn trở ngại đường tu, chúng con biết hỏi ai?”. Tôi trả lời không được. Dù rằng chùa Tịnh Luật còn lắm thầy giỏi hơn tôi nhiều, nhưng mỗi thầy có pháp tu riêng, không ai giống ai, nên có thể giải đáp không thỏa đáng chăng? Phật tử nói tiếp: “Vậy thầy giải đáp sẵn những khó khăn trở ngại, chướng nạn mà chúng con có thể gặp, để chúng con nương theo đó mà hành trì”. Đề nghị này rất có lý, mặc dù đối với khả năng hạn hẹp của tôi, thì đây không phải việc dễ làm. Trước tình thế không thể từ chối, tôi nói: “Vậy thì quý vị đặt những câu hỏi, tập trung lại đưa tôi trả lời”. Đây là lý do quyển “Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp” ra đời.
23/11/2011(Xem: 7739)
Có một lần khi Đấng Thế Tôn ngụ tại thành Xá-vệ (Sâvatthi) thì vào một buổi chiều, đức vua Pasenadi của xứ Kiêu-tát-la (Kosala) thân hành đến viếng thăm Ngài. Vua Pasedani tiến đến gần Đấng Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi sang một bên. Đấng Thế Tôn cất lời hỏi vua Pasedani như sau: - Này đại vương, ngài mới đến đấy à. Thế lúc trưa này ngài ở đâu?