07. Ấm Áp Tình Người

18/12/202511:00(Xem: 1611)
07. Ấm Áp Tình Người

ẤM ÁP TÌNH NGƯỜI

   Buổi sáng hôm ấy trời đẹp lắm. Đồi cây thưa thớt, lúp xúp hai bên đường vẫn còn đọng những giọt mưa của đêm trước, lóng lánh dưới ánh sáng mát dịu của ban mai. Trên đường, đây đó, những dấu chân cọp đi ăn đêm còn in rõ. Phú cùng mấy người bạn vừa được phóng thích khỏi trại cải tạo, hớn hở đi mà không hề quan tâm đến cảnh vật chung quanh. Họ nói huyên thuyên về nỗi sung sướng của mình khi được cầm giấy ra trại trong tay. Bỗng có người vội vã, cắm cổ chạy. Chạy được một chút, anh ngoái cổ nhìn lui làm như sợ người ta đổi ý, rồi cho người ra bắt lại vậy. Có người không tin đây là sự thật, tự hỏi chẳng biết có phải mình đang nằm mơ không. Những lo lắng bâng quơ chỉ thoáng qua và họ lại tiếp tục chuyện trò. Câu chuyện nổ như bắp rang chưa dứt thì họ đã đến đường lớn có xe hơi chạy. Đây là đoạn Quốc lộ 19 từ Pleiku về Bà Di. Thấy xe nào đi qua, họ cũng vẫy tay đón xin đi. May quá, chỉ chờ khoảng hơn nửa giờ là có xe dừng lại và người phụ xe cho bốn anh em cùng lên. Tất cả đều phải đứng nhưng họ rất vui vì kể từ nay, họ sẽ mãi mãi xa những lán trại trong kia, nơi họ đã trải qua hơn năm năm trong cảnh nhớ vợ, nhớ con quay quắt từng đêm.                                                       

 

Lúc mấy anh em vừa lên xe, các bà hành khách nói chuyện với nhau giòn giã lắm. Bỗng họ ngừng lại vì thấy các anh cùng mặc đồ bà ba màu xanh, biết đó là những người vừa được thả ra khỏi trại nên họ dồn dập hỏi chuyện. Có người còn đưa bánh ú, chuối ra mời ăn. Anh em ngại không nhận nhưng họ cứ dúi vào tay bảo cầm. Thật cảm động, đến một chỗ xe ngừng, có bà cụ, nhìn vào cách ăn mặc có thể đoán cụ không phải là người khá giả, đã mua những nắm xôi còn nóng đưa cho mỗi anh em, bảo đường còn xa, hãy giữ để  ăn dọc đường cho đỡ đói.                                                                                                                                                                                       

Chỉ chừng nửa giờ sau, sự vồn vã thăm hỏi không còn nữa. Các anh, đặc biệt là Phú, ngóng tai chăm chú lắng nghe hai bà ngồi ghế bên cạnh, kể về hoàn cảnh của nhiều người vợ có chồng đi học tập. Có câu chuyện nghe thật thương tâm.                                                                                                                                             

Một bà kể người cháu gái của bà có chồng đi cải tạo. Ở nhà, chị phải xoay đủ nghề làm ăn, nuôi ba đứa con nhưng vẫn không đủ sống. Những đứa con, ngày càng lớn. Sự chi tiêu cho cuộc sống gia đình cũng ngày càng nhiều hơn. Vốn làm ăn mỗi ngày một hao hụt. Chị mong có việc gì làm thêm để bớt khó khăn. Rồi có người bày chị ra ga Bình Triệu, ngồi sắp hàng giành chỗ mua vé tàu ra ngoài Bắc, ai muốn mua được vé sớm thì bán chỗ lại cho họ, cũng kiếm được chút tiền. Công việc nghe nói có vẻ nhẹ nhàng, nhưng bước vào việc mới thấy thật nhiêu khê. Đêm nào chị cũng phải thức dậy từ hai giờ sáng, ra sắp hàng mới có chỗ tốt, bán chỗ sẽ được nhanh. Gặp những hôm trời mưa hoặc rét buốt,  thật vô cùng cơ cực. Chưa hết, lắm lúc chị còn phải nhẫn nhịn, chịu đựng những lời văng tục, chửi mắng của những tay anh chị đáng tuổi con cháu mình vì những nguyên do rất vô lý. Một hôm, có việc cần về sớm, chị chịu bán chỗ với giá thấp hơn bình thường. Vậy là chị đã bị một tay đàn chị vừa chửi, vừa sấn sổ xam tới toan đánh để trừ nạn bán phá giá. Thật may, kịp lúc, có người thanh niên tới can. Anh nhìn chị, biết chị không phải là dân chuyên sống bằng nghề này mà do lâm vào bước đường cùng nên phải làm như vậy. Anh ấy đã mua chỗ cho chị, rồi hỏi địa chỉ, hẹn về thăm quê và vào sẽ gặp lại.

           

Khoảng một tuần sau, anh cùng vợ đến tìm chị. Qua câu chuyện chị kể, anh biết chồng chị đang đi cải tạo. Anh ta hứa sẽ giúp tìm cho chị một chỗ làm. Vừa đúng nửa tháng, có người tới gọi chị đi nhận công việc quét dọn vệ sinh cho một bệnh viện. Thời buổi gạo châu, củi quế, có nơi làm ổn định là diễm phúc vô cùng. Chị muốn tìm người thanh niên để đền ơn nhưng không biết anh ở đâu. Chị cố dọ hỏi những người làm trong bệnh viện có cùng âm giọng miền trung như anh thanh niên nọ, nhưng không ai biết. Điều đó đã làm chị băn khoăn, ray rứt mãi không thôi.                                                                                                                                                                                   

Phú nghe xong câu chuyện, mắt đăm chiêu nhìn xa xăm. Anh nghĩ tới vợ và mấy đứa con. Không biết ở nhà có chuyện gì mà đã hơn bốn tháng, chị không lên thăm anh. Anh rất mong mau tới nhà nhưng xe cứ chạy cà rịch, cà tang, đi chừng mươi cây số lại dừng để thả khách hoặc rước khách. Cuối cùng, đến mãi gần chín giờ đêm, xe mới đến bến xe Qui Nhơn. Anh đến gặp phụ xe, hỏi trả tiền. Vừa lúc ấy, ông tài xế đến. Bác ta vỗ vai Phú thân mật nói, bác cho Phú và mấy anh em kia đi quá giang chứ không lấy tiền. Phú đứng lặng, nhìn người tài xế, cảm động đến nghẹn ngào. Không ngờ trong cảnh đổi đời này, tưởng lòng người đã đổi thay. Thế mà vẫn còn có người thấu hiểu hoàn cảnh của những người gặp cơn hoạn nạn, đã tỏ nhiệt tình ân cần giúp đỡ. Bác tài xế bắt tay Phú và Phú cố ý siết thật chặt để tỏ lòng biết ơn thật nhiều của mình. Trước khi chia tay, bác còn chỉ cho quán cơm bình dân và nơi thuê chiếu ngủ qua đêm để sáng ngày dậy sớm mua vé về quê ở miền Trung.                                                                                                                                                                                       

Suốt đêm, Phú nằm thao thức, mắt nhắm lại nhưng thật khó ngủ, phần vì muỗi đốt, phần vì lo lắng về gia đình. Nhưng rồi anh đã thiếp đi vì mệt lả do phải đứng trên xe suốt đoạn đường hơn trăm cây số. Bỗng anh nghe tiếng la lớn của Tiên, người bạn nằm bên cạnh. Rồi Tiên vùng dậy, chạy đuổi theo bóng đen trong đêm, nhưng không kịp. Nó đã lẻn thật nhanh vào ngõ hẻm cạnh bến xe. Thôi rồi ! anh ta kể, anh đã mất chiếc ba lô trong đó có mấy bộ quần áo lao động còn tốt, vợ vừa thăm nuôi đem lên và một bi đông đựng nước bằng nhôm cùng tiền trại cho làm lộ phí đi đường. Tiên phân bua với Phú, anh muốn giữ những đồ vật ấy vì nghĩ khi về địa phương có đi lao động, anh sẽ có dùng ngay. Phú biết còn bao nhiêu đồ khác, Tiên đã đem phân chia cho những anh em không có thân nhân thăm nuôi, còn ở lại. Có người anh cho thức ăn, có người anh cho quần áo lao động. Nhưng có lẽ, người mừng nhất là được nhận tấm mền dù. Vì rồi đây, anh ta sẽ không còn phải thao thức trắng đêm trong cái khí hậu giá buốt, khắc nghiệt của mùa đông ở vùng núi rừng Tây nguyên heo hút. Phú hiểu tấm lòng người bạn. Trong hoàn cảnh khó khăn, người thân phải đi thăm nom đến hơn năm năm. Thế nào tài chánh gia đình lại không cạn mòn. Vậy mà khi được về, anh chỉ giữ lại một vài món cần thiết. Điều đó thật ít người làm được. Phú biết không phải chỉ khi được tha về, Tiên mới có hành động vị tha như vậy. Lúc còn ở trong trại, một lần vợ lên thăm nuôi, anh thường san sẻ một chút quà mọn như một ít thịt bằm kho mắm ruốc muối sả hoặc một vài cục đường đen chưa  rút mật cho những anh em thiếu may mắn, không liên lạc được với gia đình. Phú thầm phục Tiên làm điều mà chắc nhiều người, kể cả anh, không dám nghĩ đến vì rất sợ, không làm sao chống chọi nổi cơn đói cứ chực chờ mỗi đêm nên đã thủ, giữ riêng cho mình. Còn bên tù hình sự biết Tiên tính rộng rãi, hễ cứ gặp mặt là họ hỏi xin. Anh thấy tội nghiệp những người này lắm vì hằng ngày họ chỉ nhận được cơm của trại chứ không có nguồn tiếp tế nào khác nên rất đói. Có người chỉ còn da bọc xương, lỏng khỏng như con cò nhang. Anh đã từng bắt gặp trong bọn, có người xuống hố rác tìm những bọc còn dính chút thức ăn, liếm trong sự thèm thuồng. Rồi một lần khác, anh thấy một người chụp được con cóc, lột da, móc ruột ném rồi bỏ vào miệng nhai ăn ngấu nghiến. Còn chuyện lúc trời đổ cơn mưa dông, mối bay từng đàn, gặp mưa rớt xuống, họ bắt, ngắt cánh, ăn sống ngay là việc không hiếm. Tháng nào gặp nhóm người này xin nhiều, coi như tháng đó anh hết đồ ăn dự trữ sớm. Đôi lần, Phú đã thấy Tiên hái lá bìm bìm hoặc cỏ hôi luộc ăn với cơm cho đỡ đói. Anh đã hỏi Tiên tại sao anh thường làm việc giúp người như vậy. Tiên đã trả lời điều ấy bắt nguồn từ câu chuyện hơi dài.                                                                                                                                                                                    

Có một lần, Mẹ lên trại thăm anh và báo tin Ngoại mất. Bà mất ở tuổi 103. Đêm hôm đó, anh ngủ không được và cứ nhớ tới hình ảnh của Ngoại. Và đặc biệt chỉ cái hình ảnh Ngoại hằng ngày nằm trên chiếc võng, lần tràng hạt và niệm Phật liên tục, hồi anh còn rất nhỏ, cứ hiện lên rất rõ trong tâm trí anh. Anh không hiểu tại sao, Ngoại người rất gầy, ăn chỉ một chén cơm mỗi bữa với bát canh rau và vài quả cà pháo mà sống rất khỏe và lâu đến như vậy. Anh tự hỏi có phải nhờ câu niệm Phật có một năng lực vi diệu nào đó nên mới được vậy chăng. Cho đến khi Mẹ lên thăm lần tiếp, anh hỏi về sự lạ lùng đó và có đưa ra nhận xét của mình. Mẹ liền trả lời theo những gì mẹ nghe khi đi chùa trước đây:                                         

 

-“ Một câu niệm Phật là thuốc A Dà Đà trị bá bệnh”, và                                                                               “Có duyên tưởng Phật sống dai vô cùng.”                                                                        

                       

Ngưng một lát, Mẹ đọc tiếp:

                       

Niệm Phật một câu, phước sinh vô lượng, 
Lễ Phật một lạy, tội diệt hà sa.  
                                                                                                              

 

Rồi Mẹ khuyên anh nên niệm Phật mỗi khi thấy lòng bất an, tự nhiên phiền não sẽ biến đi. Anh làm thử và thấy hiệu nghiệm. Vậy là từ đó, sau chín giờ tối mỗi đêm, anh ngồi trong mùng niệm Phật thầm. Nếu đêm nào không niệm, anh thấy như thiếu thốn một điều gì. Mà lạ lắm, anh niệm được một thời gian thì tự nhiên những lời răn dạy thật hay, anh bắt gặp đã lâu lắm, cứ hay hiện đến với anh. Câu đã làm anh nảy ra ý muốn làm việc giúp người ở trong trại là câu:                                                                                                                                                                                            

 

Tổ tiên tích đức, muôn đời thịnh,                                                                                                       

Con cháu thảo hiền, vạn kiếp vinh.                                                                                                   

 

Chính vì việc làm vừa lợi mình, lợi người nên Tiên rất thích. Phú đã rất cảm phục bạn qua câu chuyện ấy. Anh nghĩ đến đó thì nhìn lại Tiên. Anh ta đang đứng cúi mặt, ra chiều suy nghĩ. Phú biết bạn mình đang lo điều gì. Tự nhiên một ý nghĩ thoáng qua thật nhanh trong đầu anh: phải giúp Tiên. Nghĩ vậy, anh liền vội kéo tay mấy anh bạn ra chỗ vắng nói chuyện. Một lát họ cùng vào và Phú đưa cho Tiên số tiền đủ mua vé xe và tiền ăn qua loa dọc đường. Sợ bạn ngại ngùng từ chối, Phú nói như đùa:                                                                                                                                                              

-Đó là tiền của bác tài cho, chứ không phải tiền của tụi này đâu mà anh ngại.                                            

 

Sự việc xảy ra quá đột ngột làm Tiên hơi bối rối. Anh đang lo lắng, không biết làm cách nào để về được tới nhà. Hỏi xin tài xế cho quá giang, anh đã nghĩ tới, nhưng chắc gì họ chịu vì đâu phải ai cũng tốt bụng như bác tài xế vừa rồi. Không ngờ, bây giờ các bạn lại giúp mình. Tiên rất vui vì thấy anh em ra bàn chuyện chỉ trong chốc lát là trở lại. Điều đó chứng tỏ trong họ, không ai có ý kiến phản đối việc giúp anh. Bỗng anh sực nhớ, hồi còn ngoài đời, anh từng tham gia đoàn đi quyên tiền giúp nạn nhân thiên tai. Nhóm của anh đã vào nhiều nhà buôn rất giàu nhưng họ rất dị ứng với việc làm như vậy. Đã không cho, có người còn có cử chỉ hoặc lời nói như muốn xua đuổi, mau đi để họ buôn bán. Nghĩ tới họ, anh cảm mến các bạn quá vì bạn anh nghèo tiền nhưng không nghèo tình thương người gặp hoạn nạn, khó khăn.                                                     

Đã nhiều lần, Tiên cho một vài anh em trong trại thức ăn, dù là ít, nhưng đối với họ “miếng khi đói bằng gói khi no” nên họ mừng lắm. Nhưng thực sự, anh không hiểu nỗi vui sướng trong lòng họ đến mức nào. Còn giờ đây, anh cảm nhận được sự vui mừng thật khó diễn tả của người được ban ơn trong lúc gặp cảnh ngặt nghèo. Bỗng anh ôm chặt Phú rồi tới bóp thật mạnh vào vai từng người bạn để tỏ lòng biết ơn. Ngay lúc đó, Phú chợt liên tưởng tới câu nói của cha chị Dung, người có tiếng giàu lòng nhân hậu ở quê anh, thường hay nói với con cháu:                                                                                                                                                                                                                     

-Cứ giúp người đi, rồi trời sẽ giúp mình.                                                                                                       

 

Phú thấy câu nói áp dụng thật đúng trong trường hợp này. Từ nhỏ đến giờ, có khi nào anh nghĩ tới chuyện giúp ai đâu. Vậy mà, từ chỗ chỉ cảm mến Tiên qua những việc làm thương người, tự nhiên, một động lực nào đó đã thôi thúc, khiến anh nghĩ tới việc giúp Tiên ngay. Lúc ấy, nếu để anh chần chờ, suy nghĩ, chắc anh sẽ không làm được vì làm sao có thể bỏ tiền giúp bạn khi chắc chắn vợ con mình đang gặp khó khăn ở nhà. Trong lúc, các anh, mỗi người đang theo đuổi những suy nghĩ riêng của mình thì đèn ở phòng bán vé bật sáng. Một anh trong nhóm, vội nói đùa chọc Tiên:                                                                                                                                                                      

-Vì anh đem ít đồ quá nên bọn cắp mới chiếu cố, chứ như tụi này đồ đạc lềnh kềnh, nó đâu có nhắm tới.                                                                                                                                                                                                            

Mọi người cùng cười thật vui và Tiên nhanh nhẩu đáp ngay:                                                                                                   

-Có nhờ vậy mới thấy được tình người. Mà thật lạ, hôm qua, từ lúc lên xe đến giờ, tôi nhận ra có nhiều chuyện làm ấm lòng chúng mình lắm.                                                                                    

 

Trong khi, có thể, mấy anh em đang cố nhớ lại những chuyện có vẻ nhỏ, nhưng thật đẹp vừa qua, thì anh nghĩ tới những cảnh nghèo khổ cùng cực của những người dân anh đã từng gặp trong khi đi lao động tự giác ở các vùng quanh trại. Có lần anh gặp một hoàn cảnh thật xót thương. Đó là trường hợp một gia đình có năm đứa con. Tất cả đều gầy còm, rách rưới, lại bị bệnh suyễn, phải chịu đựng cái lạnh buốt thấu xương của mùa đông Tây nguyên. Chúng co ro trong  cái chòi tranh, vách đất với diện tích không quá ba mươi mét vuông. Chúng ngồi quanh nồi cơm, chỉ thấy toàn màu đen của củ lang khô, đang chờ cha đem thú rừng nhỏ bẫy được để kho ăn. Nhưng khi cha về với hai tay không, đứa nào cũng tiu nghỉu. Thấy vậy, Tiên liền lấy lon guigoz đựng cơm của trại phát cho ăn bữa trưa, ở trên mặt anh có bỏ một ít mắm ruốc kho sả và nhường cho chúng. Nỗi vui mừng của chúng hiện qua ánh mắt long lanh, sáng rỡ làm anh nghẹn ngào.                                                                                                                     

 

Thấy hoàn cảnh của gia đình họ, anh nhớ lại lời Mẹ thường khuyên các con, sống đừng nên tiêu xài quá phung phí, ăn uống không nên dùng nửa, bỏ nửa vì làm vậy, kiếp sau sẽ nhận quả báo là nghèo khổ, túng thiếu. Lòng anh tự nhiên chùng xuống và xót xa cho số kiếp của họ. Rồi anh thầm nghĩ:                                                                                                                                                                                                  

“ Mong sao mọi người hiểu rằng phước đức bố thí, cúng dường... tích lũy càng nhiều sẽ làm đời sống kiếp này hay những kiếp sau của mình được sung túc, dư dả. Mong họ mở lòng rộng hơn và mãi mãi có thật nhiều những việc làm ấm áp tình người để giúp vơi đi phần nào những nỗi khổ đau, cơ cực, … vì chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, tật nguyền, đói rét… của biết bao người đang gặp điều bất hạnh trong cuộc đời.”/.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/11/2021(Xem: 16084)
Huế, không khí vẫn bình lặng, sự bình lặng làm cho những ai quen sống cuộc đời phóng túng phải kinh hãi và họ kinh hãi là phải lắm, vì rất ít ai có khả năng nghe được tiếng nói từ bình lặng và hiến dâng trọn vẹn cho sự bình lặng đó. Ngày xưa, khi những vị giáo sĩ ngoại đạo tranh cãi nhau, làm cho không khí xáo động hết bình lặng, hoặc tình cờ, hoặc vì chủ đích, đức Phật đi đến giữa chúng tranh cãi ấy, thì trong chúng đó họ tự bảo nhau: “Đức Gotama đến kia kìa! Ngài là bậc an tịnh, trầm lặng, Ngài không muốn ồn ào!”. Họ nói với nhau như vậy xong, họ liền giữ sự im lặng mỗi khi gặp đức Thế Tôn.
08/11/2021(Xem: 16657)
Mùa xuân là hình ảnh của con người. Tâm của con người như thế nào, nó sẽ tạo ra mùa xuân cho con người đúng như thế ấy. Tâm của một người xấu thì không thể nào tạo ra một mùa xuân đẹp cho chính mình, huống hồ gì họ có thể tạo ra một mùa xuân đẹp cho gia đình và xã hội. Mùa xuân là hình ảnh của cộng đồng người. Tâm thức của cộng đồng người như thế nào, họ sẽ tạo ra mùa xuân cho chính cộng đồng của họ đúng như thế ấy. Tâm của một cộng đồng người đặt đức tin của họ vào những thế lực ngoại tại, thì tự thân của cộng đồng đó sẽ tạo ra những biểu tượng thần thánh để tôn sùng và tô vẽ cho mùa xuân của cộng đồng họ qua hình ảnh thánh thần.
08/11/2021(Xem: 16256)
Sáng ngày 6/11/2021, tại thôn Nà Danh, xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, Đại diện Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN, và các nhà tài trợ doanh nhân Phật tử Công ty TNHH ToTo, Cục Hải Quan Hà Nội, Công ty Cổ Phần TM&DV Ngọc Hà, Công ty TNHH Kentetsu World Express Việt Nam, Công ty Cổ Phần Tư Vấn Công Nghệ Thiết Bị và Kiểm Định xây dựng CONINCO, cùng Đại diện Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Lê Lai đã tiến hành Khánh thành trường Mầm non trên địa bàn xã.
08/11/2021(Xem: 11018)
Thói quen của chúng sinh thường tự cho mình là trung tâm, và việc mãi mê những ham muốn vật chất không bao giờ thỏa mãn. Đối với mọi thứ trên đời, các bạn muốn sở hữu những thứ tốt, và từ chối những cái xấu, tức là tham lam và chán ghét. Khi tâm trí con người bị chi phối bởi hai thế lực này, họ không thể nhìn nhận sự việc một cách khách quan, và cách đối nhân xử thế dễ bị trục trặc. Một số người nổi tiếng, nhưng họ thực sự có hạnh phúc? Một số người không ngần ngại sử dụng các phương tiện không chính đáng để đạt được danh và lợi, chẳng hạn như làm hại người khác vì lợi ích riêng cho bản thân, hoặc ức hiếp đánh đập những người mà họ không thích. Mọi người không ngừng suy nghĩ về sự khác biệt, và họ có thể cảm thấy tội lỗi khi tỉnh giấc lúc nửa đêm dài trong mộng. Nếu tâm không thể thanh thản thì khó có thể gọi là một cuộc sống hạnh phúc.
08/11/2021(Xem: 11906)
Vô Tầm Vô Tứ Định là tầng Định thứ hai trong bốn chi Thiền do đức Phật thiết lập. Bốn chi Thiền đó gồm Sơ Thiền tương xứng với Sơ Định hay Định Hữu Tầm Hữu Tứ, Nhị Thiền tương xứng với Vô Tầm Vô Tứ Định, Tam Thiền tương xứng với Xả hay An Chỉ Định, Tứ Thiền tương xứng với Chánh Định.
08/11/2021(Xem: 14962)
Tổ chức Từ thiện Xã hội Cộng sinh Toàn cầu và Thiếu Lâm Tự (소림사), thành phố Bucheon, Gyeonggi, Hàn Quốc đã hoàn thiện trong xây dựng ngôi Trường Tiểu học Bucheon Sorimsa (부천소림사초등학교) và trao tặng một nơi lý tưởng học tập cho các em thiếu niên tại Nepal.
08/11/2021(Xem: 25795)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
08/11/2021(Xem: 21954)
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh. Ông là một dược sĩ & Cao Học Dược, Cao Học Triết Học Tây Phương -nguyên giảng sư về các bộ môn Triết Học, Tâm Lý Học tại Đại Học Văn Khoa, Vạn Hạnh và Minh Đức. Ông đã xuất bản khoảng 11 tập thơ trong đó có dịch thơ Ả Rập và Thơ Thiền cùng một số sách nghiên cứu lịch sử và triết học. Hiền Như Bụt dày 444 trang xuất bản năm 2020, bao gồm một chương Tổng Quát và sáu chương với những chủ đề: Phật Pháp Trị Liệu Pháp, Đạo Bụt và Khoa Học Vật Lý, Bóng Phật Trong Văn Học, Tư Tưởng Tam Giáo, Đạo Bụt Canh Tân và Chuỗi Ngọc Kinh Phật.
07/11/2021(Xem: 11941)
Phần này bàn về cách dùng đã, đã đã, đã tật và làm đã, đã làm vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ). Ngoài các bản Nôm của LM Maiorica ghi ở đoạn sau, tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
04/11/2021(Xem: 14757)
Sau đây là bản Việt dịch bài giảng pháp của Đại Sư Mahasi Sayadaw (1904-1982) trước các thiền gia trong buổi lễ khai thị ở trung tâm thiền tập Mahasi Meditation Center, Rangoon, Miến Điện. Bài này được dịch từ tiếng Miến sang Anh ngữ bởi Unyi Nyi, và sửa chữa lại năm 1997 bởi Đại Sư Pesala.